Liệu một chính quyền Biden có đưa nước Mỹ bước vào đợt suy thoái lần thứ ba?

14 Tháng Mười Hai 202010:17 CH(Xem: 113)

Đầu tiên, có thể sẽ có người thắc mắc, đợt suy thoái lần thứ ba là gì? Chúng ta vốn chỉ có một đợt suy thoái mà hầu như ai cũng đều biết, đó chính là cuộc Đại Suy thoái kéo dài từ năm 1929 đến cuối những năm 1930. 

Nếu giả sử trong trường hợp mọi thứ cuối cùng vẫn nghiêng về phía Đảng Dân chủ, tức là ứng viên Joe Biden sẽ chính thức trở thành tân Tổng thống, trong khi đó Đảng Cộng hòa đánh mất Thượng viện, nước Mỹ có lẽ sẽ trải qua một cuộc đại suy thoái lần thứ ba. Và lần này có thể là đợt suy thoái trầm trọng nhất trong lịch sử đối với người dân Hoa Kỳ.

trump-biden vote

Nhiều người từng nghe cách Tổng thống Franklin Roosevelt “cứu” nước Mỹ thoát khỏi cuộc Đại Suy thoái đầu tiên bằng cách theo đuổi và thúc đẩy các gói kích thích tăng trưởng kinh tế, đồng thời tiêu tốn hàng đống tiền ngân sách.

Không ít người bây giờ thậm chí vẫn còn nhìn nhận ông Franklin Roosevelt là một vị Tổng thống vĩ đại, tuy nhiên, những gì mọi người hay được nghe chỉ là sự nhào nặn của truyền thông cánh tả. Chính các chính sách của ông Roosevelt mới là thứ đã đẩy nước Mỹ từ suy thoái thành Đại Suy thoái, chứ không phải ngược lại.

Mặc dù vậy, đa số vẫn nhìn nhận cuộc khủng hoảng 1929 - 1933 là đợt suy thoái duy nhất mà Hoa Kỳ từng trải qua.

Phải nói thẳng rằng, sách lịch sử ngày nay đã bị những người theo trường phái cấp tiến chắp bút, do đó không nhiều người biết hay có bất kỳ thông tin gì về một cuộc suy thoái khác vào năm 1920 cả.

Vào năm 1920, nhờ các chính sách của vị Tổng thống cấp tiến khác của Đảng Dân chủ - Woodrow Wilson, mà tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ đã tăng vọt lên 20%. Tổng sản phẩm quốc dân đã giảm 17%. Đó đích thực là một thảm họa đối với nước Mỹ.

Cần nhớ rằng thời bấy giờ không có phúc lợi, Medicare, Medicaid, tem phiếu thực phẩm, an sinh xã hội hoặc bất kỳ chương trình hỗ trợ nào của chính phủ. Điều đó sẽ chỉ làm trầm trọng thêm sự suy sụp về kinh tế.

Vậy câu hỏi là, chính phủ Mỹ thời bấy giờ đã làm gì?

Câu trả lời thường thấy sẽ là: Như ngày nay, chính phủ chắc chắn phải thiết lập các gói kích thích kinh tế lớn. Chính phủ hẳn đã bắt đầu một chương trình phúc lợi sâu rộng để cứu người dân của mình.

Nhưng thực ra hoàn toàn ngược lại. Những gì chính phủ Mỹ lúc đó làm vào năm 1920 là bầu chọn những người có trách nhiệm về mặt tài chính, những người sẽ nắm quyền vào tháng 3 năm 1921 và đưa ra những quyết định khó khăn mà hầu hết các chính trị gia đương thời sẽ không bao giờ có can đảm thực hiện.

Chính quyền mới đắc cử của Tổng thống Warren G. Harding - Phó Tổng thống Calvin Coolidge (Đảng Cộng hòa) sau đó đã quyết định cắt giảm gần một nửa ngân sách của chính phủ liên bang trong vòng hai năm.

Ai có thể tưởng tượng được rằng nếu ngày hôm nay một người tuyên bố đề xuất các phương án cắt giảm như vậy, những người cánh tả có cảm thấy “xuất huyết” hay không? Nhìn chung, những người trung thành với Đảng Cộng hòa sẽ có xu hướng làm như vậy.

Giờ chúng ta tiếp tục nhìn lại lịch sử...

Thuế đã được cắt giảm cho tất cả mọi người. Ngay cả Cục Dự trữ Liên bang cũng bị kiềm chế đáng kể và may mắn thay, hầu như không can thiệp gì cả.

Mọi thứ lúc này trở nên khủng khiếp, nhưng khó khăn cũng chỉ kéo dài khoảng 1 năm.

Thay vì ngồi than vãn và khóc lóc như nhiều người hiện nay, người dân Mỹ đã làm những gì họ phải làm, hoặc ít nhất đã từng làm. Họ nhẫn nhịn, chịu đựng khó khăn kinh tế và chỉ sáu tháng sau, đến tháng 8 năm 1921, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 20% xuống còn 6,7%.

Tổng thống Harding đột ngột qua đời vào năm 1923, và Phó Tổng thống Great Calvin Coolidge vẫn tiếp tục các chính sách cũ. Vào cuối năm đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 2,4%, giảm 88%.

Người Mỹ từng nghe thuật ngữ “Tuổi 20 bùng nổ”. Thực ra, chính các chính sách của Harding và Coolidge đã làm nên tiếng vang trong những năm 20 của thế kỷ trước. Không phải là các gói kích thích hay sự can thiệp nào của chính phủ. Không có bất kỳ gói cứu trợ nào. Các công ty được phép phá sản, và những công ty mới cũng lần lượt mọc lên. Chủ nghĩa tư bản cho phép mọi thành phần phát triển trong một môi trường như vậy, và nó đã làm được.

Tất cả các bài học đều có ở đây. Chủ nghĩa tư bản so với chủ nghĩa xã hội, chính phủ so với khu vực tư nhân. Mọi thứ đều đã được thử trước đây. Không có gì mới, và lịch sử cho thấy những gì đã hiệu quả và những gì chưa.

Nếu Đảng Dân chủ và phe cánh tả đánh cắp thành công cuộc bầu cử, thì vào năm 2024, nước Mỹ có thể sẽ còn tệ hại hơn so với năm 1920 rất nhiều lần. Các chính sách của Đảng Dân chủ có xu hướng mở rộng quyền lực của chính phủ, và can thiệp “bàn tay hữu hình” vào sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Ngược lại, Đảng Cộng hòa thường có xu hướng thu hẹp quy mô chính phủ và ít có sự can thiệp hơn, đồng thời cũng đẩy mạnh các chính sách giảm thuế nhằm kích thích sự tăng trưởng mạnh trong khu vực tư nhân.

Sẽ có nỗi đau ập đến một lúc nào đó, bằng cách này hay cách khác. Giả sử đến năm 2024, nước Mỹ vẫn bình thường, thì chúng ta vẫn phải quyết định xem liệu giải pháp để tránh một cuộc suy thoái khác có phải là chấp nhận đau đớn trong ngắn hạn, nhưng đổi lại sẽ vượt qua được khó khăn nhanh chóng như chính sách mà Tổng thống Warren Harding, Phó Tổng thống Calvin Coolidge theo đuổi; hay thỏa mãn các lợi ích trước mắt mà nhận lại nỗi thống khổ kéo dài như cách mà các chính trị gia cấp tiến của Đảng Dân chủ như Tổng thống Woodrow Wilson, Franklin Roosevelt, hay Barack Obama và ứng viên Joe Biden theo đuổi?

Hoàng Tuấn
Theo wnd - NTD VN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thông qua các chuyến du lịch “theo truyền thống hiếu khách” đến Trung Quốc và những bữa tiệc với giới tinh hoa, Bắc kinh cố gắng mua chuộc giới truyền thông Hoa Kỳ và lèo lái các bản tin của họ theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc. Kể từ năm 2009, như một phần của chiến dịch mở rộng ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tại Hoa Kỳ, một tổ chức liên đới của Bắc Kinh đã tổ chức các chuyến du lịch đến Trung Quốc cho hơn 120 nhà báo từ gần 50 hãng truyền thông của Hoa Kỳ.
Vị tổng thống gây tranh cãi lớn nhất lịch sử cận đại Mỹ ra đi trong vui mừng của nửa nước, cũng trong buồn hận của nửa nước. Vỏn vẹn trong bốn năm ngắn ngủi, ông đã để lại dấu ấn, một gia tài không xóa nhòa được ít nhất trong vài ba chục năm nữa. Lịch sử sẽ phán xét ông công bằng hơn, khi dư âm của những đánh phá tàn bạo nhất sẽ tàn lụi. Liên minh ủng hộ ông không lớn bằng cái đầm lầy chống ông, gồm chẳng những đảng đối lập Dân Chủ, mà còn có toàn thể khối TTDC, Nhà Nước ngầm, đám quan lại thối nát, nhóm CH Never Trump, các đại tập đoàn hi-tech Apple, Google, các trang mạng xã hội lớn Facebook, Twitter, tài phiệt Do Thái, đám dân ăn bám trợ cấp, trí thức thiên tả, phụ nữ ham vui nhưng vô trách nhiệm, thanh niên mê thuốc lắc, …
Ngày 6/1/2021, liên danh Joe Biden và Kamala Harris đã được Quốc Hội công nhận là bên thắng cuộc, qua các phương tiện truyền thông tôi được chứng kiến ngày lịch sử này học hỏi được khá nhiều điều về tự do và dân chủ tại Mỹ. Chuyện buồn đã xảy ra… Biểu tình là quyền tự do biểu đạt chính kiến được Tu chính án thứ nhất bảo vệ, nhưng bạo động và bạo loạn là vi phạm luật pháp quốc gia. Thật đáng buồn khi 1 người bị bắn chết, 5 người khác chết chưa rõ lý do (trong số có cả cảnh sát) và nhiều người cả hai phía bị thương khi đoàn biểu tình xông vào Quốc Hội. Hằng ngàn người biểu tình, tại một nơi được cho là an ninh nhất nước Mỹ, nhưng lại không thấy giới chức có thẩm quyền sửa soạn để đối phó với thành phần sách động bạo loạn thì thật là khó hiểu. Chưa kể tới nhiều đoạn phim cho thấy chính cảnh sát đã mở cửa Quốc Hội để những người biểu tình đi vào.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang đi đến đoạn đường cuối cùng.Thu hút biết bao nhiêu những đồn đoán, phân tích và các dự đoán trái ngược nhau. Người ta bỗng nhiên chú ý đến một bài dài đến 55 trang đăng trên một tạp chí từ cuối năm 2019 vì cho đến giờ phút này nó miêu tả cuộc bầu cử "chính xác đến từng milimet" Xin lược thuật. Đó là bài : “Chuẩn bị cho một cuộc bầu cử tổng thống có tranh chấp : Một bài tập về đánh giá và quản lý rủi ro bầu cử " được xuất bản vào bởi Tạp chí Luật của Đại học Loyola Chicago, tác giả là Edward B. Foley. Foley, là giáo sư đứng đầu chương trình luật bầu cử tại Đại học Ohio, là luật sư và là người cộng tác với Washington Post. Folye cũng là người khởi xướng "Lý thuyết dịch chuyển Xanh" đề ra chiến lược nhằm biến đổi các bang từ ủng hộ đảng Cộng hòa chuyển sang ủng hộ đảng Dân chủ.
Nếu nói dối của ĐCSTQ là bản chất cố hữu và không thể thay đổi, thì việc nói dối phổ biến trong dân chúng là do nền văn hóa nói dối và chuyên chế của ĐCSTQ tạo thành, có liên quan mật thiết đến môi trường xã hội đặc biệt của Trung Quốc. Từ xưa tới nay, ở trong và ngoài nước, việc không nói dối được xem như giới hạn cơ bản và là ý thức chung trong tiêu chuẩn làm người. Trong quan niệm truyền thống, Đạo gia giảng làm chân nhân, Phật gia giảng người xuất gia không nói dối, Nho gia giảng về chữ Tín. Tất cả đều cho rằng nói dối là sai, là xấu. Khổng Tử coi "nhân - nghĩa - lễ - trí - tín” là ngũ thường. Trong đó, sự thành tín giữa người với người là một trong những mỹ đức quan trọng nhất của con người. Đạo lý đối với việc trị quốc cũng như vậy. Tử Cống, một học trò của Khổng Tử, đã từng thỉnh giáo thầy về cách trị quốc. Khổng Tử nói: "Thứ nhất là cho dân có cơm no, áo ấm; thứ hai là quốc gia có quân đội hùng mạnh; thứ ba là có được lòng tin của người dân".
Cuối năm 2013, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã thông báo về Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa và Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21, hai tuyến đường kết nối Trung Quốc với châu Phi và châu Âu. Kể từ đó, Sáng kiến Vành đai và Con đường (hay BRI) - tên gọi sau khi kết hợp cả hai dự án trên - đã được mở rộng đến mọi nơi trên hành tinh. Ví dụ, Trung Quốc đã rót hàng chục tỷ USD cho các khoản vay trong khuôn khổ BRI cho Venezuela. Trung Quốc đang xây dựng một cảng container trị giá 3 tỷ USD tại Freeport, cách Palm Beach của Florida chưa đến 150 km về phía Đông.
Chúng ta thường nghe nói: “Người dân được làm tất cả những gì luật pháp không cấm”, nó có thể đúng ở nhiều nước nhưng không đúng ở Mỹ. Tổng thống Mỹ có quyền ký sắc lệnh và Quốc Hội Mỹ có quyền ban hành đạo luật, nhưng người dân có quyền thách thức mọi sắc lệnh và đạo luật để luật pháp phải luôn trong vòng Hiến Pháp cho phép. Tu chính án thứ nhất của Hiến Pháp Mỹ nêu rõ: “Quốc hội không được quyền ra luật… ngăn cản tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc ngăn cản hội họp ôn hòa, hoặc cấm đoán người dân khiếu nại về việc làm của chính phủ.” Khái niệm đã thế nên một bài viết ngắn không thể đi sâu vào chi tiết của từng vấn đề, tôi chỉ xin đưa ra một bức tranh tổng quát để có thể hình dung được quyền tự do báo chí tại Mỹ.
Vào ngày 6 tháng 1, một phiên họp chung của Quốc hội sẽ khai mạc - với Phó Tổng thống Mike Pence làm chủ tịch Thượng viện. Ông Pence sẽ có toàn quyền và quyền lực này là không thể đảo ngược. Nhiệm vụ của ông ấy sẽ là “hoàn thành lời tuyên thệ nhậm chức của mình” - để bảo Hiến pháp của Hoa Kỳ, và đảm bảo rằng các luật được thực thi một cách trung thực. Đúng như vậy. Với tư cách là chủ tịch Thượng viện, mọi quyết định đều do ông ấy phán quyết và ông ấy có thể phán quyết bất kỳ quyết định nào (trong trường hợp này là liên quan đến vấn đề đại cử tri) là "trái lệnh" hoặc "bị từ chối". Đây là một tiêu chuẩn cao trong thực thi nhiệm vụ và Ông Pence sẽ có hai lựa chọn. Ông Pence có thể ‘tán thành’ những cử tri ‘được chứng nhận’, hoặc ông ấy có thể bảo vệ luật pháp
lý của nhóm TT Trump về cơ bản là đã đi đến bước ngoặt cuối cùng và ít nhất 7 vụ kiện đã được gửi đến Tối cao Pháp viện. Nhưng kết quả cuối cùng như thế nào, rất khó để đưa ra kết luận. Rốt cuộc TT Trump sẽ dùng cách nào để cứu nước Mỹ? Tôi tin rằng có rất nhiều độc giả sẽ nghĩ đến các phương pháp như ban hành Thiết quân luật, viện dẫn luật chống phản loạn, bắt giữ, v.v. Nhưng trên thực tế, các thuật ngữ này mang các ý nghĩa pháp lý khác nhau, cơ sở thực hiện, phạm vi và quyền hạn cũng khác nhau. Vì vậy, hôm nay chúng ta sẽ dành chút thời gian để thảo luận về những khái niệm này, để chúng ta có thể nhìn thấy trên tổng thể thì TT Trump có những đặc quyền nào và ông ấy có thể làm những gì. Thiết quân luật: khái niệm mơ hồ khô
Mỹ là pháo đài cuối cùng của tự do trên thế giới, nước Mỹ là mối đe dọa duy nhất còn lại đối với ĐCSTQ. Nếu chúng ta sụp đổ, thế giới sẽ sụp đổ; nhưng chúng ta sẽ không gục ngã, đã đến lúc đứng vững - theo đúng tinh thần của những người cha lập quốc của chúng ta. Năm 2020 là một năm "không giống ai". Mọi thứ chúng ta biết, mọi thứ chúng ta tin tưởng và mọi thứ chúng ta dựa vào đã thay đổi. Vậy làm sao chúng ta có thể mong đợi cuộc bầu cử lần này của chúng ta sẽ khác? Phương tiện truyền thông lớn đang nói với chúng ta rằng “cuộc đua” đã kết thúc, Biden đã dành thời gian để làm việc như thể ông ta thật sự là đương kim tổng thống. Nhưng trong lòng mình, chúng ta biết có điều gì đó không ổn từ “mô hình kỳ lạ trong đêm bầu cử”, cho đến “các tuần hồi hộp” trước những báo cáo về việc gian lận - mọi thứ “bốc hơi” còn nhanh hơn bộ nhớ đã lão hóa của Biden.
Bảo Trợ