Việt Nam bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?

22 Tháng Mười 20192:28 SA(Xem: 23)

Trong bối cảnh chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp nối đà say men thắng lợi với những con blanksố tăng trưởng GDP lên đến 7% nhưng lại bị nghi ngờ lớn về ‘ma số liệu’, còn ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vẫn mê man về ‘đất nước ta chưa bao giờ ổn định như thế này!’ và ‘triển vọng phát triển còn tốt lắm’, vào ngày 10/10/2019 hãng đánh giá tín nhiệm có uy tín của quốc tế là Moody's đã bất ngờ thông báo đang xem xét hạ mức tín nhiệm quốc gia Việt Nam xuống từ mức Ba3 hiện tại, đồng thời xem xét hạ mức đánh giá 17 ngân hàng Việt Nam, vì một lý do hiếm khi được công bố: Chính phủ Việt Nam chậm thanh toán một số khoản nợ tới hạn.

‘Rủi ro tín dụng đáng kể’ và núi nợ xấu ngân hàng

Thang xếp hạng của Moody's được cấu tạo từ Aa đến Caa với ký hiệu các con số 1, 2 và 3; con số càng thấp thì xếp hạng càng cao. Mức từ Aa đến Aa3 có chất lượng cao nhất và rủi ro tín dụng thấp nhất; từ A1 đến A3 có chất lượng trên trung bình và mức rủi ro thấp; từ Ba1 đến Ba3 có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng đáng kể; còn các mức xếp dưới nữa lần lượt có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng cao; và chất lượng thấp và rủi ro tín dụng rất cao.

Hiện thời, mức Ba3 mà Moody's xếp hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam là có yếu tố đầu tư, nhưng rủi ro tín dụng đáng kể.

Mức xếp hạng trên là phù hợp với thực tế về tình trạng tăng trưởng nóng về tín dụng (đẩy vốn ra thị trường) của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong nhiều năm qua, đặc biệt vốn tín dụng được bơm vào hai kênh đầu cơ chủ yếu là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.

Hậu quả của chính sách tăng trưởng tín dụng nóng và sử dụng đòn bẩy cao (margin) từ những năm 2006, 2007 đến nay là một núi nợ xấu ngân hàng, trong đó nợ không thể đòi (những khoản vay mất khả năng thanh toán) có thể chiếm đến 50% tổng nợ xấu.

Tổng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn cao ngất, có thể lên đến 900.000 - 1 triệu tỷ đồng hoặc hơn, bất chấp việc Ngân hàng Nhà nước và chính phủ vẫn luôn công bố là đã ‘khuôn’ nợ xấu dưới mức 3%. Cho tới nay và sau 5 năm Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) ra đời, hoạt động ‘xử lý nợ xấu’ vẫn chỉ chủ yếu… trên giấy.

Và núi nợ nước ngoài

Từ trước tới nay chính phủ và Bộ Tài chính Việt Nam vẫn luôn công bố rằng họ luôn trả nợ nước ngoài đầy đủ và kịp thời. Tuy nhiên, họ lại chưa bao giờ công bố chi tiết về các khoản nợ nước ngoài, bao gồm nợ của chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh, và nợ tự vay tự trả của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nhưng động thái xem xét hạ mức tín nhiệm Việt Nam của Moody's đã cho thấy tình trạng chậm thanh toán nợ tới hạn đang ở mức báo động, điều mà có thể dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh toán và do đó dẫn tới hậu quả cuối cùng là vỡ nợ quốc gia. Khi đưa ra những đánh giá về mức xếp hạng như thế, điều hiển nhiên là Moody's đã phải có trong tay những cơ sở thông tin tài chính và kinh tế chắc chắn, thu thập từ chính các chủ nợ của lớn nhất chính phủ Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), Nhật Bản…

Cho tới nay, con số chung nhất được chính phủ Việt Nam công bố là chính phủ này nợ nước ngoài hơn 100 tỷ USD.

Nhưng ngoài con số trên, còn có hơn 100 tỷ USD khác là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, để cộng chung lại số nợ nước ngoài của Việt Nam hiện thời là hơn 200 tỷ USD, gần bằng toàn bộ GDP một năm của đất nước này.

Nhưng đó mới chỉ là nợ nước ngoài, chưa kể một núi nợ khác - nợ trong nước bằng tiền đồng Việt Nam, tương đương hơn 200 tỷ USD nợ của chính phủ và của các doanh nghiệp.

Đáng chú ý, số nợ nước ngoài hơn 200 tỷ USD chỉ là nợ được thống kê chính thức, trong khi vẫn có thể phát sinh những khoản nợ nước ngoài lớn từ các doanh nghiệp. Vào tháng 9 năm 2019, Tổng cục Thống kê Việt Nam thình lình công bố phát hiện thêm 76.000 doanh nghiệp mà trước đó không nằm trong sổ sách của cơ quan này - mà động cơ phía sau công bố này là nhằm ‘hô biến’ GDP tăng thêm để lấy ‘thành tích đại hội 13’ cho Thủ tướng Phúc. Nhưng cũng chính công bố phát sinh này - chiếm đến hơn 10% tổng số doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam - chắc chắn sẽ kéo theo nhiều khoản vay nước ngoài mà trước đây không được thống kê bởi Bộ Tài chính.

“Doanh nghiệp nhà nước vay nước ngoài tăng vọt, ai sẽ trả nợ?”- giới chuyên gia, báo chí và cả quan chức cùng hốt hoảng kêu lên. “Nếu các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chiếm cổ phần chi phối không có khả năng trả nợ thì nợ này ai trả, bởi đây đều là các doanh nghiệp nhà nước?”.

Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay nợ tràn lan, với tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm. Thậm chí một số doanh nghiệp còn có sẵn sàng “xù nợ” khi làm ăn lỗ lã.

Có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã, và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008, khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái.

Vào năm 2015, thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam phải trả nợ đến 20 tỷ USD. Đến năm 2016, người “may mắn” thế chỗ cho ông Dũng là Nguyễn Xuân Phúc cho biết Việt Nam phải trả 12 tỷ USD. Những năm gần đây, nợ nước ngoài phải trả cũng có thể lên đến hàng chục tỷ USD mỗi năm.

Bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?

Công bằng mà xét, Nguyễn Xuân Phúc là đời thủ tướng “cực hình” nhất trong lịch sử tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam. Trả nợ nhiều nhất, kinh tế be bét nhất, xã hội hỗn tạp nhất, chính trị “tan nát” nhất…

Vào năm 2017, chính phủ của thủ tướng ‘đổ vỏ’ Nguyễn Xuân Phúc đã phải đề ra hạn ngạch bảo lãnh cho vay chỉ 1 tỷ USD - con số thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Mức bảo lãnh chỉ có 1 tỷ USD như thế đã phải giảm mạnh so với những năm trước đó (năm 2015 là 2,5 tỉ USD và 2016 là 1,5 tỉ USD), và giảm rất mạnh so với mức 6,6 tỷ USD của năm 2014.

Sang năm 2018 và 2019, hạn ngạch bảo lãnh này thậm chí còn ít ỏi hơn nữa, hoặc gần như không còn tồn tại.

Nợ nhiều đến mức vào năm 2017, chính phủ phải tuyên bố thẳng thừng sẽ không đưa nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vào khái niệm nợ công, nằm trong Luật về Nợ công (sửa đổi). Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ từ chối trả thay nợ vay nước ngoài cho doanh nghiệp, và hẳn sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước phải phá sản.

Trong bối cảnh giật gấu vá vai như thế, vào năm 2018 Ngân hàng thế giới đã đưa ra một cảnh báo giật mình: trong 3 năm tới, có đến 50% nợ trong nước của Chính phủ sẽ đáo hạn, tức chính phủ này phải đối mặt với nguy cơ rất lớn là không biết lấy đâu ra tiền để trả nợ, trừ việc… in tiền ồ ạt.

Còn đến giờ đã gần hết năm 2019, lọt thỏm vào giai đoạn ‘50% nợ trong nước của Chính phủ sẽ đáo hạn’, tương ứng với đánh giá của Moody's về việc Chính phủ Việt Nam chậm thanh toán một số khoản nợ tới hạn và đồng thời xem xét hạ mức đánh giá 17 ngân hàng Việt Nam. Nếu động thái này được Moody's hoàn tất, sẽ có đến 50% trong số các ngân hàng Việt Nam rơi vào tình trạng bị hạ bậc tín nhiệm - nhiều nhất từ trước tới nay.

50% lại là ước tính của giới chuyên gia tài chính về khả năng có đến phân nửa số ngân hàng đang tồn tại phải bị sáp nhập, hoặc cho phá sản do tỷ lệ nợ xấu quá cao và không bảo đảm khả năng thanh toán cho khách hàng. Tuy nhiên mối nguy hiểm thường trực này vẫn bị bưng bít bởi Ngân hàng Nhà nước trong những năm gần đây. Chỉ là con đê bị trám bít loang lổ ấy sẽ bục vỡ vào một thời điểm nào đó mà thôi - có thể gọi là thời điểm ‘Minsky’, tức hoàn toàn mất khả năng thanh toán các khoản vay nợ.

Phá sản ngân hàng đang trở thành tương lai hầu như chắc chắn, để cộng hưởng với tình trạng mất khả năng trả nợ nước ngoài của chính phủ và doanh nghiệp, nền tài chính Việt Nam sẽ rơi gọn cả hai chân vào hố sâu khủng hoảng.

Còn ngay vào lúc này khi hiện ra công bố hạ tín nhiệm của Moody's, phải chăng Việt Nam đã bắt đầu thời kỳ vỡ nợ quốc gia?

16x9 Image

Phạm Chí Dũng VOA

Phạm Chí Dũng là nhà báo độc lập, tiến sĩ kinh tế sống và làm việc tại Sài Gòn, Việt Nam. Trước năm 2013, đã có thời gian 30 năm làm việc trong quân đội, chính quyền và khối đảng. Do viết bài chống tham nhũng, từng bị công an bắt vào năm 2012. Năm 2013, tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2014, cùng các cộng sự thành lập Hội nhà báo độc lập Việt Nam và giữ cương vị chủ tịch của tổ chức này. Cũng trong năm 2014, được Tổ chức phóng viên không biên giới vinh danh 'Anh hùng thông tin'. Các bài viết của Phạm Chí Dũng là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.




Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đường phố tràn ngập người Đông Berlin sang thăm người Tây Berlin, đi qua lại cửa khẩu biên giới được mở ra trên Bức tường Berlin (ảnh: The LIFE Images Collection/Getty Images/Chris Niedenthal). Bức tường Berlin sụp đổ 30 năm về trước, vào ngày 9/11/1989. Đó là một khoảnh khắc gây chấn động thế giới và đánh dấu sự khởi đầu của kết thúc Chiến tranh Lạnh – cực điểm là lật đổ chế độ độc tài Đông Đức, thống nhất nước Đức vào năm 1990 và sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991. Nhưng câu chuyện về “Mauerfall” – cách mà người Đức nói đến Sự sụp đổ Bức tường Berlin – phức tạp và sâu sắc hơn nhiều so với sự hồi tưởng ngày nay.
Báo chí Pháp hôm nay dành nhiều bài vở để nói về dịp 30 năm Bức tường Berlin chia rẽ Đông – Tây sụp đổ, ngày 09/11/1989, mở đầu cho sự chấm dứt của kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh. Sự kiện thì chỉ có một, nhưng có rất nhiều đánh giá khác nhau. Les Echos ghi nhận: Berlin kỉ niệm 30 năm trong không khí trầm lắng, trong bối cảnh cách biệt giữa hai miền nước Đức còn rất lớn. Libération nhấn mạnh : Chiến tranh Lạnh chấm dứt không hề đồng nghĩa với việc Lịch sử cáo chung, như một số tiên đoán, mà là sự lên ngôi của ''các hình thức thống trị mới'' trên phạm vi toàn cầu.
Tại phiên báo cáo công tác của cơ quan tư pháp trước Quốc hội, diễn ra trong ngày 4 tháng 11, Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái trình bày báo cáo năm 2019 với ghi nhận rằng công tác phòng chống tham nhũng dù đạt đạt kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn xảy ra tình trạng một số cán bộ thuộc cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan phòng chống tham nhũng lại có hành vi tham nhũng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Các hành vi bức hiếp láng giềng của Bắc Kinh không chỉ được thấy trên các vùng biển bao quanh Trung Quốc, mà còn thể hiện trên đất liền, với việc khống chế nguồn nước của các con sông tỏa ra khắp khu vực. Trong bài phân tích “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á - China is weaponizing water and worsening droughts in Asia”, công bố ngày 28/10/2019 vừa qua trên tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian Review, giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney đã vạch trần thủ đoạn của Trung Quốc, lợi dụng vị trí đầu nguồn các con sông chảy qua các nước khác, ồ ạt xây đập để biến nguồn nước thành công cụ gây sức ép chính trị, với hệ quả là làm cho nạn hạn hán ở châu Á thêm nghiêm trọng.
Giới thanh niên đang đứng dậy đấu tranh khắp thế giới; ngay tại những nước độc tài khét tiếng như Egypt, Saudi Arabia. Những cuộc biểu tình chống chế độ của giới trẻ đều bộc phát, không thể đoán trước. Và thường bắt đầu từ những biến cố nhỏ. Các cuộc biểu tình đã đạt được những mục tiêu đầu tiên, như ở Hồng Kông, Ecuador, Chile, Lebanon… dù chưa thành công hoàn toàn. Nhưng sau khi tập hợp xuống đường người ta mới thấy những vấn đề lớn lâu nay vẫn bị chìm lấp có cơ hội nổi bùng lên. Cuộc tranh đấu vẫn tiếp tục.
Benge cáo buộc, sau năm 1975, Việt Nam từng gửi hàng trăm ngàn người đi làm thuê tại Liên Xô và các quốc gia cộng sản ở Đông Âu để khấu trừ những khoản đã vay để tiến hành cuộc chiến “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, từ chỗ đưa người Việt đi làm thuê để trả nợ, chính quyền Việt Nam tiến thêm một bước, tổ chức bán sức lao động của người Việt để kiếm ngọai tệ, kể cả làm ngơ, dung túng cho việc bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ tình dục.
Trong báo cáo về tự do internet năm 2019 với nhan đề “Khủng hoảng mạng xã hội” được Freedom House công bố vào ngày 5 tháng 11, Việt Nam chỉ được 24/100 điểm, thuộc nhóm 0-39 điểm, là quốc gia không có tự do internet. - Vi phạm quyền người dùng
Trong khi các gia đình Việt Nam có con chết trong container ở cảng Essex (Anh) đang rơi vào tuyệt vọng cùng cực vì người mất, nợ còn. Trong khi nước Anh, Việt Nam và thế giới xem đây là một cơ hội-tuy đau lòng để khuấy động lương tri con người và thắt chặt các chính sách an ninh, luật pháp để bảo đảm hạn chế những cái chết đau lòng như vậy đến mức thấp nhất có thể.
Sợ mất chế độ? Có ý kiến còn nói đi với Tàu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất chế độ.Thế giới văn minh đã từ bỏ phong kiến và tư bản hoang dã. Còn chế độ XHCN thì chưa có ( không biết lúc nào mới có- như một vị lãnh đạo nước ta đã nói). CNTB hiện đại cũng chưa có. Vậy sợ mất chế độ nói ở đây thực chất là mất cái gì? Chắc người ta muốn nói đến chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam đang lãnh đạo, nói cách khác là sợ mất vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN.
Báo Les Echos, trong mục Ý kiến và bình luận, có bài đáng chú ý của cây bút chính luận quốc tế Jacques Hubert Rodier : « Nước Mỹ đã chạm đến giới hạn cường quốc thế giới ». Hoa Kỳ rút quân khỏi Syria, mở đường cho Nga đưa quân đến và mở đường cho Thổ Nhĩ Kỳ tấn công người Kurdistan. Điều trớ trêu là chính nhờ sự giúp đỡ của lực lượng Kurdistan mà quân đội Mỹ tiêu diệt được thủ lĩnh tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo Daech Abou Bakr Al Baghdadi.
Bảo Trợ