Hoa Kỳ ngủ quên, Trung Quốc làm dậy sóng Biển Đông

17 Tháng Tám 20191:29 SA(Xem: 101)
  • Tác giả :

Hoa Kỳ ngủ quên, Trung Quốc làm dậy sóng Biển Đông

mediaẢnh minh họa: Một chiến đấu cơ F/A-18 chuẩn bị cất cánh từ hàng không mẫu hạm Mỹ USS Ronald Reagan tại Biển Đông, ngày 30/09/2017.REUTERS/Bobby Yip/File Photo

Những đám mây đen tiếp tục đè nặng lên chân trời Biển Đông, do những hành động khiêu khích của Trung Quốc tại các địa điểm khai thác dầu khí. Cùng với việc đàn áp người biểu tình Hồng Kông gần đây, nhiều nhà quan sát đã phải thốt lên câu dự báo thời tiết vốn dành cho người đi biển : « Ráng đỏ vào lúc bình minh, cần cảnh giác ! »

Tháng trước, trong hội nghị về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức, một số đại biểu đã gây chú ý khi nhấn mạnh vì sao cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, cần phải lên tiếng về việc Trung Quốc xâm phạm khu vực khai thác dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Chuyên gia Bonnie Glaser, giám đốc chương trình China Power, tuyên bố : « Nếu không đáp trả đối với các vụ vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), thì điều này chứng tỏ Bắc Kinh có thể vi phạm luật quốc tế mà không hề bị trừng phạt ».

Nhà báo độc lập James Borton trên trang Geopoliticalmonitor.com nhận định, Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS, làm ngơ trước phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye cách đây ba năm. Bắc Kinh còn xây lên các đảo nhân tạo với tốc độ điên cuồng, chưa nói đến việc quân sự hóa quần đảo Trường Sa, ngang nhiên ban hành lệnh cấm đánh cá, liên tục hủy hoại sinh thái nơi các rạn san hô. Rõ ràng có một thực tế đau lòng : hồi kết của trò chơi này là Bắc Kinh hoàn toàn kiểm soát Biển Đông.

Trên bề mặt, các nhà hoạch định chính sách Mỹ chứng kiến một trận cuồng phong địa chính trị, giống như một cơn bão tố di chuyển rất nhanh, trải dài trên khắp Biển Đông. Các biện pháp ngoại giao mềm dẻo do Việt Nam và Trung Quốc cùng thực hiện hồi đầu năm, trong đó có việc tuần duyên của đôi bên cùng tuần tra chung trên Vịnh Bắc bộ, hay hai chiến hạm của Việt Nam tham gia một cuộc biểu dương lực lượng trên biển nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập hải quân Trung Quốc, nay đã bị lu mờ trước tham vọng của Bắc Kinh và yêu sách về nguồn lợi dầu khí ở Biển Đông, đi kèm với vũ lực.

Tác giả phàn nàn, trong khi Trung Quốc tiếp tục phản đối các hoạt động hợp pháp của Hải quân Hoa Kỳ nhằm bảo vệ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, thì Nhà Trắng lại có quan điểm ôn hòa trước các hành động quấy nhiễu của Bắc Kinh.

Bất kể có bao nhiêu ngư dân Việt Nam hay Philippines đã thiệt mạng trên biển khơi, do dân quân biển Trung Quốc tấn công vào những chiếc tàu đánh cá truyền thống của họ, Washington chừng như vẫn không quan tâm, một khi không đụng đến lợi ích quốc gia của Mỹ.

Thế nên đương nhiên là dự luật trừng phạt về Biển Đông và Biển Hoa Đông do hai thượng nghị sĩ Marco Rubio (Cộng Hòa) và Ben Cardin (Dân Chủ) chủ trì, đã không được thông qua ở Ủy ban Đối ngoại và hiện nay vẫn còn nằm tại Thượng Viện. Dự luật lưỡng đảng này nhằm trừng phạt chế độ Bắc Kinh do những hành động phi pháp của họ, khi yêu sách chủ quyền ở vùng biển xa tắp so với đất liền của Trung Quốc.

Chắc chắn là Trung Quốc cần phải là một bên liên quan có trách nhiệm trong khu vực tranh chấp, nhưng Mỹ cũng thế. Một chiếc tàu thăm dò địa chất của Trung Quốc xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây ra cuộc đối đầu kéo dài cả tháng qua, đã rời đi vào ngày 7/8, nhưng nay lại tái xuất hiện trong vùng biển Việt Nam.

Lời đáp của Mỹ trên Biển Đông

Nhà báo James Borton đặt vấn đề, Biển Đông không phải là nhân tố trung tâm mang tính chiến lược trong tổng thể quan hệ Mỹ-Trung, mà xung đột nằm ở chỗ mất cân bằng thương mại và đánh cắp sở hữu trí tuệ. Nhưng còn liên minh quốc phòng với Philippines và việc hỗ trợ cho yêu sách chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa thì sao ?

Kori Schake, phó giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, viết trên tạp chí Foreign Affairs : « Hoa Kỳ né tránh thách thức bằng cách đặt lại vấn đề quan hệ liên minh ».

Về sự kiện tại bãi Tư Chính, cho dù không đứng về phía một quốc gia ven biển nào, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh rằng : « Các hành động khiêu khích lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhắm vào việc khai thác dầu khí trên biển đe dọa an ninh năng lượng của khu vực, làm phương hại đến thị trường năng lượng của một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở ».

Việt Nam, một đối tác của Mỹ, cần nhắc nhở Washington là áp lực của Bắc Kinh đã khiến Hà Nội phải ngưng một dự án khí đốt hợp tác với công ty Repsol của Tây Ban Nha, ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hiện nay việc Trung Quốc hà hiếp Việt Nam và các nước đòi hỏi chủ quyền khác vẫn chưa thấy có dấu hiệu giảm bớt.

Khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2020, có lẽ các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nghĩ đến việc thành lập một đội ngũ về chính sách khai thác đại dương cùng với ASEAN và Trung Quốc, để lập ra một khu vực chung (JDA) tại quần đảo Trường Sa nhằm khai thác tài nguyên.

Trong khi Hải quân Mỹ đưa chiến hạm tiếp tục các chuyến tuần tra vì tự do hàng hải (FONOP), chính quyền Trump vẫn duy trì sự trung lập trong tất cả các tranh chấp lãnh thổ. Theo tác giả bài viết, Washington cần đóng vai trò giúp ổn định Biển Đông, do Trung Quốc luôn tìm cách áp đặt độc quyền kiểm soát tại khu vực và xa hơn nữa. Một số thành viên của Ủy ban Đối ngoại nhìn nhận là nếu không hành động gì, Trung Quốc sẽ hoàn tất việc thống trị về quân sự và chính trị trong khu vực.

Ông Anders Corr, thuộc Corr Analytics tin rằng tình hình hiện nay trên Biển Đông là cơ hội tuyệt vời cho Washington để bảo vệ nguyên tắc liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế, kéo Việt Nam ra xa khỏi Trung Quốc và xích lại gần Hoa Kỳ hơn, từ chối cho Trung Quốc tiếp cận nguồn dầu khí.

Các mỏ dầu khí rất quan trọng đối với Việt Nam vì cung cấp đến 10% nhu cầu năng lượng, và Hà Nội nhận ra rằng nếu Rosneft rút lui, thì Exxon cũng có thể hành động tương tự đối với dự án Cá Voi Xanh.

Theo nhà sinh thái Garrett Hardin, khi các quốc gia khai thác nguồn lợi chung một cách thái quá khiến cung vượt cầu, làm cho một số hay tất cả những nước khác không còn có thể thụ hưởng nguồn lợi thiên nhiên này, thì đó sẽ là bi kịch. Kịch bản này có thể sắp diễn ra ở Bắc Cực, và đó là lý do vì sao Hoa Kỳ được thúc giục phê chuẩn UNCLOS càng sớm càng tốt, dù muộn còn hơn không.

Trước việc vùng Bắc Cực ngày càng được mở rộng cho phát triển kinh tế và quân sự, theo ông Joe Courtney, chủ tịch tiểu ban Hải lực và Lực lượng can thiệp trực, thuộc Ủy ban Quân vụ Hạ Viện, « Hoa Kỳ không còn nhiều thì giờ để mất, nếu muốn đề cập đến các thảo luận trong tương lai một cách danh chính ngôn thuận, trên cơ sở đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ».

Trong lúc Nhà Trắng hiện nay còn vô số vấn đề phải giải quyết, đây là cơ hội để đào sâu mối quan hệ Mỹ-Trung. Thời gian qua chính quyền Trump có những tuyên bố rất cứng rắn, nhưng hành động thì lại không tương xứng. Các chuyên gia về chính trị chỉ trích Washington, cho rằng không nên loan báo các chính sách có ảnh hưởng đến uy tín, mà lại không sẵn sàng đảm bảo.

Tác giả James Borton kết luận, động thái khởi đầu tốt nhất là Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn UNCLOS, và thông qua dự luật trừng phạt về Biển Đông.
Theo RFI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thời gian nghỉ Tết Nguyên Đán, cho dù đã kéo dài vì dịch, cuối cùng cũng kết thúc. Nguy cơ dịch gia tăng, khi sinh hoạt kinh tế tái lập, là điều khó tránh khỏi. Trong bối cảnh những tiếng nói công kích chế độ ngày càng nhiều, những ngày tới đây sẽ có tác động quyết định trong lãnh vực y tế cộng đồng, kinh tế và chính trị. Tóm thu toàn bộ quyền lực trong tay, chủ tịch Tập Cận Bình đối mặt với nhiều bất trắc.
Trái tim của Bác Sĩ Lý Văn Lượng (Li Wenliang), một trong tám bác sĩ đầu tiên cảnh báo về bệnh viêm phổi do virus Corona gây ra ở Vũ Hán và bị cảnh cáo về việc này, đã ngừng đập vào lúc 9 giờ 30 phút tối ngày 6 Tháng Hai. Những nỗ lực cấp cứu đều vô ích. Các bác sĩ đồng nghiệp của anh đã thông báo tin buồn này cho nhiều phóng viên tụ tập ở bệnh viện trung ương Vũ Hán đưa tin về việc điều trị dịch Corona.
Giám đốc điều hành của Huawei đang chống lại sự dẫn độ từ Canada sang Mỹ, nhưng vấn đề của “gã khổng lồ” công nghệ Trung Quốc không dừng ở đó mà còn liên quan đến những vụ việc gai góc hơn. Vào một tối Chủ nhật giữa tháng 1/2020, cô Julia Hackstaff, diễn viên người Canada được một người quen giới thiệu đóng vai phụ trong một bộ phim. Vai diễn chỉ trong hai giờ và sẽ được trả 100 đô la. Sáng hôm sau, Hackstaff đã cùng hơn chục người khác đứng dưới cơn mưa bên ngoài Tòa án Tối cao British Columbia ở Vancouver (Canada).
Bỗng nhiên người dân Trung Quốc nhận ra đất nước của họ không hùng mạnh như lời đảng cộng sản nói mà liêu xiêu, lao đao trước một con siêu vi khuẩn nhỏ bé có tên corona. Bỗng nhiên người dân Trung Quốc thấy mình trở thành tù nhân trong căn nhà của mình chứ không như đảng cộng sản nói 'hãy cứ lo làm ăn, mọi việc đã có đảng và nhà nước lo'. Bỗng nhiên người dân Trung Quốc thấy mình bị kỳ thị, bị ghẻ lạnh ngay chính trên mảnh đất của mình và cả bên ngoài thế giới chứ không như lời đảng cộng sản nói họ là 'mô hình phát triển cho các nước noi theo'. Bỗng nhiên người dân Trung Quốc thấy có tiền mà chịu đói mèm trong căn nhà của mình chứ không như đảng cộng sản nói cứ chăm chỉ làm ăn rồi ai cũng là 'tiểu khang'. Bỗng nhiên người dân Trung Quốc thấy những tiếng than khóc, kêu cứu từ trong các trung tâm cách ly nơi chứa hàng trăm người mà chẳng thấy được chăm sóc, chữa trị như đảng cộng sản nói.
Linh mục Đặng Hữu Nam đưa thêm ví dụ, không chỉ cá nhân mà cả nhà nước cũng trục lợi trong thảm họa: “Chúng ta cũng biết, trong những ngày đầu, bộ y tế Việt Nam có đưa ra một đường dây nóng, để ai quan tâm muốn tìm hiểu về dịch corona này, đáng lẽ đây là sự phục vụ của chính phủ thì người ta lại lấy giá cước rất cao. Chẳng hạn muốn gọi vô đường dây nóng đó để hỏi về tình hình, hay diễn tiến, hay về bệnh, về virus, thì mỗi phút nếu gọi từ Việt Nam phải trả đến năm ngàn đồng. Điều đó là quái lạ so với cách thông thường của con người, tình người phải được thể hiện trong thảm họa.”
Trong bài « Trước dịch bệnh virus corona, phải chăng thế giới lo ngại quá mức? », trên báo La Croix, sử gia y tế cộng đồng Patrick Zylberman cho rằng « sự gian trá của Trung Quốc trong vụ dịch SARS để lại nhiều dấu vết » và ông khuyến cáo Bắc Kinh hãy xét mình trước khi trách người : « Chúng ta không rõ chính quyền Trung Quốc lương thiện đến mức độ nào trong vụ virus corona chủng mới 2019 nhưng chỉ cần đọc báo chí Hồng Kông và Việt Nam là thấy rõ Trung Quốc lừa đảo như thế nào trong vụ SARS 2003 ».
Con số thanh thiếu niên Nga ngưỡng mộ ông Putin không phải là ít, nhưng 38% dân Nga cho rằng ông nên rời nhiệm sở sau 2024 Sự kiện ông Vladimir Putin đầu năm 2020 sa thải nội các Dmitry Medvedev được cho là bước chuẩn bị cho vai trò của chính ông khi hết nhiệm kỳ tổng thống. Tuy thế, các nhà bình luận quốc tế và Nga đều vẫn chưa kết luận được ông Putin sẽ chọn phương án nào, để tiếp tục cầm quyền, hay chỉ để giữ quyền không chính thức sau 2024.
Dịch corona đã gây ra tình huống bi hài là năm 2019 chính quyền Hồng Kông cố gắng cấm mang khẩu trang ở nơi công cộng, còn bây giờ thì phải kêu gọi người dân trang bị để tránh virus lây lan. Các thuyết âm mưu nảy nở. Chẳng hạn chính khách Nga Vladimir Zhirinovsky cho rằng con virus này do người Mỹ tạo ra để làm hại Trung Quốc. Hồi năm 2013 đại tá không quân Trung Quốc Dai Xu cũng cáo buộc chính phủ Mỹ đã thả con virus cúm gà H7N9 vào Trung Quốc để tiến hành chiến tranh sinh học. Ngược lại, giả thiết virus corona là từ chương trình vũ khí sinh học của Trung Quốc và Viện Vi trùng học Vũ Hán đang được lan truyền rộng rãi trên các mạng xã hội.
Đại dịch Vũ Hán đã khiến nhiều người giận dữ với cách bưng bít thông tin, khống chế dư luận bằng bạo lực của chính quyền Trung Quốc. Ngay khi mới xảy ra dịch, một bác sĩ tại Vũ Hán là Li Wenliang đã cố gắng nhắn tin trong một group chat với các bạn học trường y về tình trạng lây nhiễm tại đây. Ngay trong đêm hôm đó, Cơ quan Y tế địa phương đã khiển trách bác sĩ Li vì việc chia sẻ thông tin như vậy.
Coi rẻ sinh mạng người dân Bài học từ sự bùng phát bệnh than ở Liên Xô năm 1979 cho thấy rằng, các chính quyền Cộng Sản dường như không quan tâm tới sinh mạng người dân của chính họ, miễn là đạt được các mục đích họ mong muốn. Các cách hành xử của chính quyền Liên Xô và Trung Quốc trước các thảm họa đều có điểm giống nhau. Đối với thảm họa bệnh than (1979) và Chernobyl (1986) thì do chính quyền Liên Xô gây ra. Đối với virus Vũ Hán, chưa có bằng chứng chính thức nên đây chỉ là nghi vấn. Tuy nhiên, cả chính quyền Liên Xô trước đây và Trung Quốc bây giờ đều giống nhau ở cách “ém nhẹm” thông tin về thảm họa, cho dù nó có thể đe dọa tính mạng của người dân đất nước họ.
Bảo Trợ