Tàu Hải Dương Địa Chất 8 của TQ trở lại, Việt Nam phải làm gì?

15 Tháng Tám 201912:32 SA(Xem: 149)
  • Tác giả :

Tàu Hải Dương Địa Chất 8 của TQ trở lại, Việt Nam phải làm gì?

Tàu Hải Dương 8 đã quay lại Bãi Tư Chính hôm 13/8Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu Hải Dương 8 đã quay lại Bãi Tư Chính hôm 13/8

Sau vài ngày cập bến Đá Chữ Thập (Fierry Cross) và Đá Subi để lấy nhiên liệu và thay thủy thủ đoàn, hôm 13/8 tin tức nói tàu Hải Dương Địa Chất 8 và các tàu hải cảnh bảo vệ của Trung Quốc đã trở lại vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Tàu này đã có hơn một tháng hoạt động thăm dò địa chất thềm lục địa khu vực trầm tích Tư Chính trong suốt tháng Bảy.

Tàu Hải Dương Địa Chất 8 trở lại phải chăng sẽ tiếp tục thăm dò địa chất khu vực Bãi Tư Chính, hay mở rộng ra trên toàn bộ khu vực EEZ của VN? Mục đích có phải là xác định vị trí cùng trữ lượng những túi dầu khí hay Trung Quốc còn có ý đồ khác, như vẽ địa đồ thềm lục địa Việt Nam phục vụ cho quân sự?

Câu hỏi khó là nhà nước Việt Nam cần phải làm gì để đối phó với hành vi quấy nhiễu, thách thức quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên vùng biển và thềm lục địa hợp pháp của quốc gia mình.

Mục đích của Trung Quốc

Trên diễn đàn BBC trước đây hai tuần, tôi có bài viết nêu giả thuyết là ông Tập Cận Bình muốn chứng minh cho phe chống đối thấy sự hữu dụng của những đảo nhân tạo trong công cuộc bành trướng lãnh thổ và bảo vệ an ninh năng lượng.

Đã có những tiếng nói chỉ trích rằng giới khoa học gia Trung Quốc trước khi xây dựng các đảo đã không nghiên cứu kỹ về sự tàn phá của ánh nắng mặt trời (tia tử ngoại) đối với cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng nước biển làm rỉ sét nhanh chóng khí tài kim loại hiện tồn trữ ở các đảo. Việc bảo trì hàng năm rất tốn kém, trong khi hiệu quả của các đảo nhân tạo chưa được chứng minh.

Giả thuyết này đến nay cho thấy có phản ảnh được phần nào sự thật. Nhưng quyết tâm của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông đã là một thực tế.

Ta sẽ thấy rằng từ nay Trung Quốc thường xuyên đưa tàu bè quấy nhiễu hải phận EEZ và thềm lục địa các quốc gia Việt Nam, Philippines, Malaysia… với ba mục đích:

1/ Các đảo nhân tạo có vai trò quan trọng trong công cuộc bảo đảm nguồn năng lượng thay thế nếu an ninh năng lượng Trung Quốc bị đe dọa (như trường hợp các eo biển chiến lược Malacca, Hormuz… bị nghẽn). Với việc cùng lúc đưa hàng loạt tàu nghiên cứu địa chất xuất phát từ các đảo nhân tạo tới vùng biển EEZ của các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Trung Quốc dần dần sẽ nắm rõ những dữ kiện về vị trí và trữ lượng của các túi dầu khí trong toàn bộ Biển Đông.

2/ Các đảo nhân tạo có vai trò trung tâm trong việc khẳng định các quyền "lịch sử" của Trung Quốc qua bản đồ chữ U chín đoạn.

3/ Tiếp tục củng cố việc "quân sự hóa" các đảo nhân tạo nhằm thiết lập khu vực ADIZ (vùng nhận diện phòng không). Việc này thể hiện qua các việc tập trận bằng đạn thật, phối hợp pháo binh trên bờ và pháo binh trên các đảo, cùng với với lực lượng hải quân và không quân. Mục đích "chống hạm" và "chống tiếp cận" sao cho vùng không gian trên Biển Đông "bất khả xâm phạm". Các đảo nhân tạo là những điểm "cơ bản" từ đó tính bề rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ.

Cận cảnh thiết bị trên tàu Hải Dương 8Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCận cảnh thiết bị trên tàu Hải Dương 8

Việt Nam nên có những đối sách nào trước Trung Quốc?

Nhiều bài viết, bài phỏng vấn trên diễn đàn BBC có cùng nội dung đề nghị Việt Nam phải sử dụng biện pháp pháp lý, trong đó có việc đi kiện, để giải tỏa những áp lực đến từ Trung Quốc.

Hiển nhiên, việc Trung Quốc thường xuyên tập trận bằng đạn thật trên Biển Đông, quân sự hóa các đảo nhân tạo và sử dụng các đảo này để làm bàn đạp cho tàu hải cảnh và tàu khảo sát địa chất quấy nhiễu các nước chung ở Biển Đông… đã và đang là mối đe dọa thường trực không chỉ cho quyền tự do hàng hải của tàu bè các nước mà còn nguy hại đến sự ổn định và nền hòa bình của khu vực.

Đối với những hành vi của Trung Quốc liên quan tới quân sự như "quân sự hóa các đảo nhân tạo" hay "tập trận bằng đạn thật trên biển", Việt Nam khó tìm được giải pháp pháp lý phù hợp để giải quyết, bởi Trung Quốc đã giữ quyền "bảo lưu" đối với Điều 298 khoản (b) UNCLOS.

Người dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển Đông

Đó là những việc thuộc phạm trù quốc tế, và có thể có giải pháp đa phương mà Việt Nam là một bên có lợi.

Trung Quốc cho tập trận, cho phóng hỏa tiễn đất đối hạm từ đất liền và có thể từ các đảo, và nhằm chống tiếp cận nữa.

 

Để đối phó, các nước thân Mỹ có thể trang bị các loại hỏa tiễn tầm trung tương tự (có tầm hoạt động từ 500km đến 5.000km).

Việt Nam cũng có thể trang bị những thứ vũ khí này nếu điều kiện cho phép và nếu tình thế bị Trung Quốc bức hiếp thái quá.

Đối với quyền tự do hàng hải, các nước như Pháp, Anh, Nhật, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ... đều có kế hoạch riêng. Đặc biệt Hoa Kỳ, từ thời Obama với chương trình FONOP cho tàu bè đi qua Biển Đông, tất cả nhằm mục đích để bảo vệ quyền tự do hàng hải.

Việc quân sự hóa các đảo cũng là một vấn đề đa phương, vì nó đe dọa sự ổn định và nền hòa bình khu vực.

Một giải pháp đa phương, như việc tập trận của Hoa Kỳ với các nước đồng minh (như Philippines, Úc, Hàn Quốc), hoặc với Việt Nam, trên Biển Đông, nếu có, thì Việt Nam cũng là một bên có lợi.

Gần đây, có những tiếng nói từ các viên chức Hoa Kỳ, yêu cầu ông Tập Cận Bình giữ lời hứa với Tổng thống Obama năm 2015 về việc không "quân sự hóa các đảo".

Trở ngại là Tổng thống Trump hiện nay có khuynh hướng loại bỏ tất cả những "di sản" của ông Obama, ngay cả khi những chương trình này "có lợi" cho nước Mỹ (như hiệp ước TPP hay hiệp ước hạn chế nguyên tử với Iran).

Theo luật quốc tế, "tuyên bố đơn phương" từ một nguyên thủ quốc gia về một vấn đề mà trên đó thể hiện sự "tin tưởng chính đáng - confiance légitime" của đối tác, tuyên bố đó có hiệu lực ràng buộc. Nội các ông Trump có buộc ông Tập tuân thủ lời hứa hay không vẫn còn là ẩn số.

Nhưng việc Trung Quốc cho tàu bè nghiên cứu tới làm khảo sát địa chất trên thềm lục địa của Việt Nam là hành vi vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam, và việc các tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống là thể hiện hành vi thách thức các tàu chấp pháp của Việt Nam, hiển nhiên là việc thách thức quyền tài phán của Việt Nam trên vùng EEZ của Việt Nam.

Về pháp lý, Việt Nam có thể sử dụng các điều khoản thuộc Công ước liên quan đến Tự do Hàng hải và Hàng không để đưa Trung Quốc ra một tòa án quốc tế thích hợp (trong trường hợp Trung Quốc hạn chế quyền tự do hàng hải và Việt Nam đã sử dụng hết các biện pháp khác mà không đạt kết quả).

Người dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển Đông

Việt Nam tham gia tới mức nào trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ra PCA?

Có ý kiến cho rằng Việt Nam cần phải kiện Trung Quốc trước một "Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS" bởi vì "Phán quyết (PCA 11-7-2016) chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc".

Để biết Việt Nam có bị ràng buộc đối với phán quyết ngày 11/7/2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) hay không, ta cần tìm hiểu Tòa có thẩm quyền phân xử về các việc gì và nội dung phán quyết gồm những điều gì.

Philippines đơn phương đệ đơn kiện Trung Quốc ra PCA ngày 22/1/2013. Tòa được thành lập theo Phụ lục VII, phần XV, Mục 2 của UNCLOS.

Tòa có thẩm quyền "giải thích và áp dụng công ước" (điều 286).

Đây là một phiên tòa với "thủ tục bắt buộc", các bên trong vụ kiện không có quyền từ khước tham gia. Tòa ra "những quyết định bắt buộc", các bên trong vụ kiện không thể khiếu nại lên bất cứ tòa nào. (Đúng như tiêu đề Mục 2). Điều này áp dụng ngay cả khi một bên đơn phương đi kiện.

Nội dung vụ kiện xoay chung quanh việc "giải thích và cách áp dụng công ước" trong phạm vi Biển Đông. Tòa đặc biệt khảo sát yêu sách "đường chữ U chín đoạn" của Trung Quốc có phù hợp với UNCLOS hay không. Tòa khảo sát "vùng nước quần đảo" cũng như tư cách pháp lý các đảo, đá, bãi chìm, bãi nổi… thuộc quần đảo Trường Sa.

Việt Nam là quốc gia nằm bên Biển Đông, có tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy không là "một bên" trong vụ kiện nhưng Việt Nam có đệ trình công hàm lên Tòa, một mặt để bảo vệ lợi ích của mình, mặt khác công nhận "thẩm quyền" của Tòa đối với các khiếu nại của Philippines. Việt Nam còn đề nghị Tòa bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc thể hiện theo bản đồ 9 đoạn đường chữ U.

Trung Quốc từ đầu đã tuyên bố không tham gia, không thừa nhận thẩm quyền của tòa, và cũng không thi hành phán quyết. Tổng thống Philippines Duterte thì không yêu cầu Trung Quốc thực thi phán quyết.

Phán quyết PCA có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam hay không?

Theo tôi, để làm sáng tỏ việc này Việt Nam có thể làm hai việc.

Thứ nhấtViệt Nam hợp tác cùng Malaysia khiếu nại lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thuộc LHQ (Commission on the Limits of the Continental Shelf - CLCS) về hồ sơ "Ranh giới thềm lục địa mở rộng" (200+150 hải lý).

Hồ sơ chung của Việt Nam và Malaysia nộp văn phòng Tổng Thư ký LHQ ngày 6/5/ 2009 đã bị Trung Quốc phản bác với lý do trình bày trong công hàm ngày 7/5/2009.

Nội dung công hàm trên của Trung Quốc gồm các việc Trung Quốc có chủ quyền các đảo Trường Sa và "vùng nước liền kề". Tất cả được "minh họa" qua bản đồ 9 đoạn hình chữ U. Đây là lần đầu tiên bản đồ này xuất hiện trước LHQ.

Các yêu sách của Trung Quốc đã bị phán quyết PCA ngày 11/7/2016 bác bỏ. Vùng nước lịch sử theo bản đồ 9 đoạn thì không phù hợp với UNCLOS. Trong khi các đảo thuộc Trường Sa thì không có đảo nào được xem là "đảo" theo qui định tại Điều 121(3).

Khi mà toàn bộ nội dung công hàm phản đối của Trung Quốc đã bị PCA bác bỏ thì Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa không có lý do nào để từ chối, không nhìn nhận hồ sơ chung của Việt Nam và Malaysia là hợp cách, đáp ứng đúng như qui định của Luật Biển 1982.

Thứ hai,Việt Nam có thể làm thủ tục đệ đơn lên Tòa án công lý Quốc tế (ICJ) hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để thụ lý xem rằng phán quyết của PCA có thể áp dụng cho Việt Nam trong khu vực hải phận kinh tế độc quyền và thềm lục địa của Việt Nam hay không?

Thông thường các phán quyết của tòa án quốc tế sau đó trở thành "thông lệ", một hình thức "luật" hay "hệ qui chiếu", để các vụ án sau này làm cơ bản.

Phán quyết của PCA có mục đích "diễn giải luật và phương cách áp dụng luật", đặc biệt là cho Quần đảo Trường Sa và khu vực Biển Đông.

Nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra một tòa án về Luật Biển, (như Hội đồng Trọng tài theo ý kiến của bài viết trên diễn đàn BBC) thì những khiếu nại của Việt Nam không thể khác với khiếu nại của Philippines, nhất là về Đường 9 đoạn. Tòa không thể đưa ra một cách "diễn giải" khác hay một cách "áp dụng luật" khác với phán quyết PCA 11/7/2016.

Làm được một trong hai việc này Việt Nam đã "đi tắt" tới đích dễ dàng mà không cần phải đi kiện, vừa tốn kém vừa mất thời gian.

Trung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt NamBản quyền hình ảnhGOOGLE EARTH/PHAM VAN SONG
Image captionTrung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt Nam

Liệu Trung Quốc có rút khỏi UNCLOS, khiến Việt Nam mất cơ hội khởi kiện?

Bài viết trên diễn đàn BBC cũng có ý kiến cho rằng nếu Việt Nam không kiện Trung Quốc bây giờ thì e rằng Việt Nam sẽ không còn cơ hội, bởi Trung Quốc có thể tuyên bố rút khỏi Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS 1982) để không còn bị ràng buộc bới bộ luật này nữa.

Ý kiến này có đáng lo ngại hay không?

Theo tôi, sau phán quyết PCA ngày 11/7/2016, đến nay Trung Quốc không rút ra khỏi UNCLOS thì ít có khả năng Trung Quốc sẽ rút trong tương lai.

Ý kiến "Trung Quốc có thể rút khỏi UNCLOS" nguyên thủy là của luật gia Julian Ku viết trên Opinio Juris trong một bài viết ngày 4/11/2015.

Tác giả cho rằng Trung Quốc có thể rút khỏi UNCLOS (để tránh những ràng buộc trong vụ kiện) nhưng vẫn gia nhập các kết ước khác của LHQ về luật biển (thông luật quốc tế - droit international coutumier). Tác giả cho rằng việc này sẽ không tốt cho Trung Quốc nhưng chắc chắn nó không giúp cho Philippines.

Nếu Trung Quốc rút khỏi UNCLOS, lợi bất cập hại.

Cái "lợi" hiển nhiên là để tránh ràng buộc phán quyết của PCA.

Thực tế cho thấy Trung Quốc đã làm bằng cách khác, là tuyên bố không tham gia, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa và dĩ nhiên không công nhận phán quyết của Tòa.

Cái hại thì có rất nhiều. Rút khỏi Luật Biển 1982, Trung Quốc sẽ trở lại tuyên bố 4/9/1958 về hải phận.

Thứ nhất, tất cả các đảo của Trung Quốc sẽ không còn hưởng vùng đặc quyène kinh tế (EEZ 200 hải lý) cũng như thềm lục địa. Qui ước "vùng đặc quyền kinh tế" và thềm lục địa chỉ đến từ UNCLOS 1982.

Thứ hai, tất cả các đảo của Trung Quốc chỉ có hiệu lực 12 hải lý. Công hàm 14/9/1958 của Việt Nam chỉ công nhận "hải phận 12 hải lý" mà thôi.

Điều tệ hại là Trung Quốc không được hưởng luật về "thời hiệu" đến từ UNCLOS 1982.

Có nghĩa là trước kia, Trung Quốc tuyên bố lãnh thổ và các đảo chỉ có hiệu lực 12 hải lý lãnh hải. Sau khi UNCLOS 1982 được đưa vào áp dụng, hải phận lãnh thổ và các đảo của Trung Quốc vẫn chỉ có 12 hải lý lãnh hải mà thôi.

Hiển nhiên, phía Việt Nam có lợi.

Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc lúc đó sẽ trở thành việc áp đặt đơn phương "biển lịch sử" của Trung Quốc mà điều này án lệ 11/7/2016 đã bác bỏ.

Trung Quốc chỉ có thể áp đặt việc này qua một cuộc chiến tranh mà phía Trung Quốc giành chiến thắng toàn diện.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, nhà nghiên cứu và biên khảo hiện đang sống tại Marseille, Pháp.
Theo BBC

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Sự kiện bạo lực thảm khốc mà chúng tôi vừa tố cáo đang huỷ hoại nền tảng văn hoá của đất nước chúng tôi , làm băng hoại đạo lý truyền thống của dân tộc chúng tôi, đó là lý do khiến chúng tôi phải đau đớn và thiết tha gửi đến Ngài lời khẩn cầu cấp bách nói trên Thư ngỏ hôm 31/01/2020 gửi Tổng thư ký LHQ
Trong bài thứ nhất tờ báo tóm lược tình hình : "Thế giới dựng thành lũy đối mặt với virus corona" dù chỉ có 1% các ca bệnh. Giám đốc Tổ Chức Y Tế Thế Giới tuần qua đã nhấn mạnh rằng tình hình không đến nỗi phải giới hạn mọi giao thương với Trung Quốc. Điều đó không cấm cản các nước từ Mỹ, Nhật Bản đến Anh, Pháp, Đức và cả Maroc hay Indonesia hối hả hồi hương kiều dân khỏi ổ dịch Vũ Hán, các hãng hàng không lớn bé trên thế giới ngừng phục vụ các chuyến bay sang Hoa lục.
Để mất thời gian vàng vì chờ lệnh Tập Cận Bình Trong bài « Tập Cận Bình trước thách thức của virus corona », L’Obs phê phán, Bắc Kinh chờ đến ba tuần lễ mới báo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về cuộc khủng hoảng dịch tễ ở Vũ Hán, và phải chờ đến khi nhà lãnh đạo độc tài họ Tập ra lệnh thì bộ máy của chế độ mới bắt tay vào việc chống dịch lây lan.
Diễn biến dịch viêm phổi do nCoV (virus Corona) gây ra càng lúc càng phức tạp và đáng ngại. Ngoài việc chia sẻ thông tin, ý kiến về một đại họa nay đã có tầm vóc toàn cầu, người sử dụng mạng xã hội tiếng Việt còn thảo luận về một đại họa khác đáng ngại hơn tại Việt Nam, đó là hệ thống công quyền Việt Nam… mắc dịch. *** Bất kể virus Corona lan rộng tại Trung Quốc và mầm bệnh gây viêm phổi cấp xuất hiện ở rất nhiều nơi trên thế giới, ngày 24 tháng 1, Bộ Y tế Việt Nam vẫn dõng dạc khẳng định: Corona là bệnh lây lan hạn chế (1)!
• Vụ Đồng Tâm mới nổ ra đầu năm 2020. Nhìn tổng thể, vụ án này đã thất bại toàn diện, phơi bày yếu kém của ngành công an trên khắp mọi mặt, Nếu như tin rằng có ba sĩ quan cấp úy, tá ngành công an đã hy sinh vì cùng ngã xuống một cái giếng trời trong nhà dân thì rõ ràng là trình độ nghiệp vụ của riêng họ, và lãnh đạo trên cao chiến dịch tấn công là rất yếu. Hàng ngàn người trang bị tận răng, chuẩn bị cả năm trời chỉ đối đầu với một nhóm nông dân già yếu. Còn nếu như thực tế không có chuyện họ chết, hoặc không phải là chết theo cách đã loan báo, thì lại cho thấy đằng sau vụ việc là một thứ "nghiệp vụ" bất chấp đạo lý, pháp lý được đem ra áp dụng xuất phát từ thế yếu không thể tránh khỏi.
Luật pháp không nghiêm thì cũng nằm trong cái chế độ độc tài, độc đảng, công an được trao quá nhiều quyền lực nên họ đứng trên pháp luật. Bao nhiêu sự việc xử lý bao che. - Anh Ngu
1. Người đứng đầu nhà nước – Nguyên Thủ - có vai trò số 1 trong nhiệm vụ làm cho quốc gia thịnh vượng. Nguyễn Thủ cũng giữ vai trò số 1 trong nhiệm vụ làm quốc gia hiển hách trên trường quốc tế. Nhìn vào Nguyên Thủ biết được vị thế quốc gia. Bởi lẽ, Nguyễn Thủ là người vạch ra chiến lược phát triển của quốc gia, cũng đồng thời là người trực tiếp điều hành bộ máy Chính phủ tác nghiệp để đạt được mục đích đã đề ra. Trên trường quốc tế, Nguyễn Thủ là người nâng vị thế quốc gia trong giải quyết các mối quan hệ quốc tế.
Một người dân ở Điền Gia Doanh (Tianjiayingcun), ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc, kiểm tra xe hơi vào làng đề phòng dịch virus corona, ngày 29/01/2020 REUTERS/Carlos Garcia Rawlins Anh Vũ Virus corona từ Vũ Hán tiếp tục hoành hành tại Trung Quốc và đe dọa cả thế giới. Vụ xử phế truất tổng thống Mỹ Donald Trump trở nên nóng khi cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton lộ diện. Tổng thống Trump bắt tay Israel đưa ra kế hoạch hòa bình mới với người Palestine. Trên đây là những chủ đề nổi bật được các báo Pháp chú ý đặc biệt. Virus corona Vũ Hán tiếp tục lây lan, số người thiệt mạng tăng thêm mỗi ngày mặc dù tỉnh Hồ Bắc, nơi phát dịch, đã bị gần như cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Mỗi nơi, mỗi nước đang nỗ lực theo cách riêng của mình
Trong khi đó, chính quyền Vũ Hán bị tố cáo « che giấu, làm nhẹ khủng hoảng » vì nhiều lý do : vì sợ Tập Cận Bình, vì sợ gây hoảng loạn phải dẹp đại tiệc tân niên được chuẩn bị để phá kỷ lục về số món ăn thịnh soạn. Do vậy, chính quyền Vũ Hán cấm cơ quan y tế báo động công luận cũng như cấm báo chí loan tin. Ngay nhà báo Ngải Hiểu Minh, một nữ phóng viên làm phim tài liệu, dân Vũ Hán, có mặt tại địa phương từ tháng 12/2019 cũng chỉ nghe tin phong phanh. Đến khi Ngải Hiểu Minh được một người bạn cho biết trong bệnh viện nhân viên y tế « ngã bệnh hàng loạt » thì trên báo chí cũng chẳng có một dòng.
Năm 2020 là năm Canh Tý theo cách tính năm truyền thống của Trung Quốc. Những năm Canh Tý trong lịch sử Trung Quốc đã nhiều lần diễn ra chiến tranh và thảm họa. Từ cuộc chiến tranh nha phiến thời Mãn Châu, cuộc nổi loạn của Nghĩa Hòa đoàn, liên quân tám nước tiến vào Bắc Kinh, đến chính quyền cộng sản Trung Quốc chế tác ra Nạn Đói Lớn dẫn đến cái chết với số lượng người chết nhiều nhất trong lịch sử. Vậy năm Canh Tý 2020, Trung Quốc sẽ có biến động lớn gì? Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, cách tính năm dựa theo thiên can địa chi được sử dụng để ghi lại thời gian và lịch sử.
Bảo Trợ