Sau bồi đắp đảo, Bắc Kinh củng cố vị trí trên Biển Đông

27 Tháng Ba 20193:41 CH(Xem: 1408)
  • Tác giả :

Bắc Kinh đang tiến vào giai đoạn kế tiếp trong kế hoạch Biển Đông của họ với việc củng cố và quân sự hóa những thực thể mà họ đã chiếm được trên Biển Đông sau khi đã hoàn thành công việc bồi đắp đảo nhân tạo, hai nhà nghiên cứu ở Canada và Đức cho biết.

Các công trình Trung Quốc xây dung trên bãi Subi thuộc quần đảo Trường Sa

Trong bài phân tích mới đây đăng trên tạp chí The Diplomat có tiêu đề ‘Giai đoạn quân sự hóa kế tiếp của Trung Quốc trên Biển Đông’, Tiến sỹ Scott N. Romaniuk, hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về vai trò an ninh và quân sự Trung Quốc tại Viện Trung Quốc, Đại học Alberta, Canada, và nghiên cứu sinh tiến sỹ Tobias Burgers tại Viện Otto-Suhr thuộc Đại học Tự do Berlin, cho rằng việc Trung Quốc bành trướng một cách đáng kinh ngạc tại vùng biển rộng 1,35 triệu dặm vuông thuộc Biển Đông và ngay sau đó tiến hành quân sự hóa khu vực trong vài năm qua đã tạo dựng một mội trường an ninh phức tạp.

Mặc dù có lập luận cho rằng căng thẳng trong khu vực sẽ giảm bớt do Trung Quốc đã ngừng các hành động phiêu lưu chiếm thêm lãnh thổ về phía nam, môi trường an ninh phức tạp của khu vực có thể sẽ bước vào giai đoạn căng thẳng dâng cao và phức tạp mới trong năm 2019, bài viết nói. Giai đoạn kế tiếp này sẽ diễn ra do Trung Quốc quyết tâm củng cố những vị trí mà họ có được trên Biển Đông thông qua sức mạnh quân sự và sức mạnh chính trị song song với mối đe dọa nghiêm trọng từ việc tuần tra quân sự và bước nhảy vọt trong việc triển khai máy bay do thám, chiến hạm có tên lửa được dẫn đường và rất nhiều khí tài quân sự, hai tác giả phân tích.

“Cho dù Bắc Kinh đang có sự yên ắng tạm thời – không chiếm thêm các thực thể trên Biển Đông – cách hành xử của họ ở vùng biển này chính là hiện thân của mục tiêu đạt được bá quyền trong khu vực. Tuy nhiên, Bắc Kinh vẫn chưa đạt được mức độ kiểm soát đối với tuyến hải lộ quan trọng về mặt chiến lược này. Ở một vùng biển mà năm bên tranh chấp còn lại – Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia, và Đài Loan – đều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn, lập trường của Trung Quốc vẫn bị áp lực và các lãnh thổ mà họ kiểm soát liên tục bị đe dọa,” bài phân tích nêu rõ.

Hai nhà nghiên cứu cho rằng sự lên tiếng mạnh mẽ của Trung Quốc đối với điều mà họ cho là các hành động đột kích mang tính khiêu khích của Mỹ là một chỉ dấu mạnh mẽ cho thấy những thực thể Bắc Kinh kiểm soát trên Biển Đông và lợi ích của họ trong khu vực vẫn gặp đe dọa. Còn mối đe dọa từ bên ngoài thì Bắc Kinh sẽ còn tiếp tục lấn chiếm và xây dựng ở vùng biển này, tác giả nói.

Chiến dịch xây dựng đảo ban đầu của Trung Quốc giờ đây đã diễn ra gần 10 năm. Giai đoạn kế tiếp của việc bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông là củng cố và tăng cường khả năng quân sự ở những lãnh thổ họ có được – trú đóng nhiều hòn đảo nhỏ từng được xem là không thể ở được, bao gồm bãi cạn Scarborough chiến lược vốn nằm cách đảo chính Luzon của Philippines chỉ có 140 hải lý. Dù vậy, nỗ lực của Trung Quốc ở Biển Đông vẫn không thể đem lại thay đổi lớn trong hiện trạng quan hệ giữa các cường quốc.

Trong vòng một vài năm qua, Bắc Kinh đã mở rộng những bãi san hô và bãi đá ngầm hiện có lên đến hàng ngàn mẫu, nhưng sự hiện diện quân sự và sự sẵn sàng chiến đấu của họ vẫn chưa tới mức đủ để giành quyền kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông. “Quá trình này nhiều khả năng sẽ diễn ra lâu hơn mọi người tưởng. Việc chiếm giữ và xây dựng đảo không hề làm giảm đi các tuyên bố chủ quyền hiện tại của các bên tranh chấp. Những tuyên bố chủ quyền này – vốn được các đối tác và đồng minh ở xa hậu thuẫn – cũng không có khả năng biến mất trong tương lai,” bài phân tích lập luận.

Theo hai nhà nghiên cứu, sự kết hợp của ba nhân tố giúp gia tăng nhanh chóng khả năng sẽ có thêm hành động quân sự hóa trên Biển Đông. Đó là: việc Trung Quốc bành trướng trong quá khứ và tiếp tục củng cố vị trí bất chấp tuyên bố chủ quyền liên tục của các nước khác; việc Washington tuyên bố rằng tự do hàng hải vốn là nguyên tắc của luật pháp quốc tế cần phải được duy trì; và việc Bắc Kinh không giữ lời hứa trước đây là sẽ không xây dựng thêm nữa trên Biển Đông.

Các chiến dịch cứu hộ dân sự lâu nay vẫn là lời biện hộ chính cho việc Bắc Kinh tiếp tục xây dựng các cơ sở quân sự và triển khai các hệ thống vũ khí, bao gồm máy bay chiến đấu tối tân, tên lửa đất đối không, tên lửa chống hạm và công nghệ phá sóng bất chấp đảm bảo của Chủ tịch Tập Cận Bình rằng những thực thể họ chiếm giữ trên Biển Đông sẽ không được quân sự hóa. Bắc Kinh đã từng tỏ dấu hiệu rằng tương lai của các sứ mạng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc có dính đến Giải phóng quân Trung Quốc sẽ khiến họ cần xây thêm căn cứ quân sự. Những bước đi này là chìa khóa để tăng cường năng lực chống tiếp cận của Trung Quốc.

Hai nhà nghiên cứu cho rằng do Trung Quốc không có khả năng theo kịp tất cả các khía cạnh trong sức mạnh quân sự của Mỹ - ít nhất là về mặt chất lượng – trong ngắn hạn, sự hiện diện quân sự bên ngoài biên giới Trung Quốc là một nấc thang hợp lý và cần thiết nếu Trung Quốc hy vọng thể hiện quyền lực của họ lên một mức cao hơn. Đầu tư quân sự của Trung Quốc tiếp tục tăng và họ chỉ có một mặt trận để tập trung vào – đó là Biển Đông.

Những vụ việc như giám đốc tài chính của tập đoàn Huawei, bà Mạnh Vãn Châu, bị bắt giữ và tranh chấp thương mại dai dẳng với Mỹ đã khiến mọi người tập trung sự chú ý giúp cho Bắc Kinh có vỏ bọc hữu dụng để che đậy những hoạt động của họ trên Biển Đông. Do đó, lợi ích của Trung Quốc trên Biển Đông đã trở nên tương đối ít được nhắc đến trên truyền thông.

“Những vấn đề gây xao lãng cũng cho Trung Quốc thời gian quý giá để thiết lập sự hiện diện quân sự mạnh mẽ hơn ở Biển Đông trên những thực thể mà họ kiểm soát hơn là mở rộng và theo đuổi các công trình bồi đắp đảo nữa. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng viện tới những phương cách khác để khẳng định chủ quyền với việc Brunei đang ngày càng dựa vào Trung Quốc về kinh tế thông qua các thỏa thuận thương mại và tài chính. Nhờ đó mà Bắc Kinh đã có được một đồng minh mà họ rất cần trên Biển Đông vốn hoặc sẽ là giữ im lặng hoặc lay chuyển theo hướng phù hợp với các lợi ích chiến lược của Bắc Kinh,” bài phân tích viết.

Về phía Philippines, nước này đã tìm cách lấy lòng Trung Quốc sau khi bị hấp dẫn với những hứa hẹn của ý tưởng ‘Vành đai-Con đường’. Chiến lược phát triển hoành tráng này vừa là công cụ chính trị vừa là ý tưởng kinh tế mà Bắc Kinh có thể dựa vào để tăng cường ảnh hưởng chính trị đối với chính sách của các nước quanh Biển Đông.

“Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước tương đối ngoan cố đối với Bắc Kinh và vẫn là thành trì chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông với một chuỗi những hành động thách thức Trung Quốc. Nỗ lực của Việt Nam trong việc lên án những hành động phiêu lưu của Trung Quốc trên Biển Đông cho thấy giới hạn của chính sách gây áp lực hữu hảo của Bắc Kinh lên các nước để họ lặng lẽ từ bỏ tuyên bố chủ quyền các khu vực tranh chấp.”

Bắc Kinh đã chứng tỏ có những con đường khác để tiến trên Biển Đông và mở rộng quyền kiểm soát của họ trên thực tế. Kéo dài các cuộc đàm phán và mua chuộc các nước là hai chiến thuật khả dĩ. Moscow cũng từng dùng chiến thuật tương tự để siết chặt sự kiểm soát của họ đối Crimea bốn năm sau khi họ sáp nhập vùng lãnh thổ này từ tay Ukraine, tác giả bài phân tích nhận xét.
Theo VOA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tốc độ tàu cao tốc 200-350 km/h trên toàn mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã mang lại ấn tượng về sự phát triển đáng kinh ngạc trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này không thành công như quảng cáo, nó đã trở thành ác mộng của nền kinh tế. Đáng tiếc là Trung Quốc đã kịp xuất khẩu ác mộng này sang Việt Nam 10 năm trước. Global Times đưa tin, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc có phạm vi khoảng 38.000 km và Bắc Kinh có kế hoạch sẽ mở rộng mạng lưới này lên quy mô 7 triệu km đến năm 2035. Năm 2008, chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã xuất phát từ ga đường sắt Nam Bắc Kinh, ngày nay sau 13 năm, Trung Quốc đã thiết lập mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.
Cuộc diệt chủng của ĐCSTQ đối với Tây Tạng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta Trong bài phát biểu đánh dấu 70 năm ĐCSTQ tiến quân vào và kiểm soát Tây Tạng, dù ông Uông Dương đã hết lời ca ngợi những thành tựu huy hoàng của ĐCSTQ tại Tây Tạng, ông Anders Corr lại nhận thấy những bằng chứng hiển nhiên về tội ác diệt chủng và nỗi ám ảnh của ĐCSTQ đối với việc phải hủy diệt tín ngưỡng và tôn giáo. Ở bài bình luận này, tác giả Corr sẽ phân tích và chỉ rõ ra những dấu hiệu và bằng chứng về tội ác của ĐCSTQ, thông qua phát biểu của ông Uông Dương.
Thống đốc bang California (Mỹ) vừa ban hành đạo luật gây xôn xao dư luận: ‘Cho phép trẻ vị thành niên phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc phá thai mà không cần thông báo cho phụ huynh’. Liệu đây là một đạo luật cấp tiến, tự do hay sẽ tiếp tay cho tội ác và sự suy đồi về đạo đức? Trẻ được phá thai hoặc chuyển giới mà không cần thông báo cho phụ huynh Ngày 22/9 vừa qua, Thống đốc bang California, ông Gavin Newsom đã ban hành hai đạo luật cho phép trẻ vị thành niên có thể thực hiện một số thủ tục y tế như phẫu thuật chuyển đổi giới tính và phá thai mà không cần thông báo với phụ huynh. Một trong hai điều luật là AB-1184, trong đó cấm các công ty bảo hiểm sức khỏe yêu cầu có sự ủy quyền của cha mẹ, trước khi những đứa trẻ bắt đầu làm thủ tục cho các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ, người Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho Hoa Kỳ buộc phải sơ tán, người ta không khỏi băn khoăn rằng: Liệu điều tương tự có thể xảy ra ở những quốc gia mà Mỹ đang bảo trợ? Và có tác động như thế nào đối với Đài Loan và các đồng minh khác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Bảo Trợ