Xuất Khẩu Gạo Của Việt Nam 30 Năm Nhìn Lại

10 Tháng Hai 201911:52 CH(Xem: 185)

Xuất khẩu gạo của Việt Nam 30 năm nhìn lại

Trung Khang, RFA
Ảnh minh họa: Gạo xuất khẩu của Việt Nam
Ảnh minh họa: Gạo xuất khẩu của Việt Nam
blank Courtesy VietNamExport

Năm nay tròn 30 năm Việt Nam trở lại thị trường gạo thế giới với tư cách là một nước xuất khẩu gạo (1989 - 2019). 30 năm trước, khi đang còn thiếu lương thực Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo trở lại và đã xuất khẩu được gần 1,4 triệu tấn gạo.

Nhân dịp này, Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn về những được mất qua 30 năm xuất khẩu gạo và những việc nên làm trong tượng lai.

Trước hết Tiến sĩ Đặng Kim Sơn có nhận định:

Đây là điều bất ngờ và diễn ra nhanh chóng, tuy nhiên là từ đó đến nay, vấn đề đổi mới về thể chế, chính sách cũng không phải diễn ra một cách dễ dàng, vì thế cũng có những cái tương đối chậm.
-TS. Đặng Kim Sơn

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Đây là chặn đường vừa dài vừa ngắn, nó ngắn là vì sau hàng chục năm thiếu ăn, thường xuyên phải nhập khẩu gạo của quốc tế, thì cuối thời kỳ đổi mới Việt Nam bất ngờ bắt đầu chuyển sang xuất khẩu gạo. Và liên tục xuất khẩu gạo năm sau cao hơn năm trước trong vòng hàng chục năm.

Đây là điều bất ngờ và diễn ra nhanh chóng, tuy nhiên là từ đó đến nay, vấn đề đổi mới về thể chế, chính sách cũng không phải diễn ra một cách dễ dàng, vì thế cũng có những cái tương đối chậm. Cho đến năm 2000 thì chúng ta mới bỏ được vấn đề quota về xuất khẩu gạo, và cho đến năm ngoái chúng mới hoàn toàn đưa các doanh nghiệp tư nhân vào xuất khẩu gạo một cách tự do, bỏ bới các điều kiện của doanh nghiệp xuất khẩu gạo.

Cho nên có thể nói là quá trình 30 năm, vừa ngắn vừa dài, đưa Việt Nam từ một nền nông nghiệp đói ăn trở thành một nền nông nghiệp xuất khẩu. Gần đây lại đi một bước tiếp theo mạnh hơn, tức là từ một nền nông nghiệp chỉ có lúa gạo, bây giờ chuyển qua đa dạng hóa nông sản, xuất khẩu nhiều loại nông sản khác nhau.

Trung Khang: Dạ thưa, năm 1989, như tiến sĩ vừa nói, khi đó Việt Nam vẫn đang là nước thiếu lương thực, thì việc trở lại xuất khẩu gần 1,4 triệu tấn gạo có là thời điểm thích hợp không ạ?

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Có thể nói năm 1989 là một năm rất đặc biệt với Việt Nam, lúc đó Việt Nam đang vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế rất trầm trọng. Nhìn lại năm tháng đó, có thể nói đây là một sự thần kỳ, chúng ta không có vốn để đầu tư vào nông nghiệp nên đầu tư vào nông nghiệp thấp hơn bình thường, khoa học công nghệ cũng không có gì đổi mới, cơ sở hạ tầng cũng không có gì đột phá. Thế thì sức lực ở đâu, tài nguyên ở đâu đổ ra để chuyển một đất nước đang nhập từ nửa triệu đến một triệu tấn lương thực mỗi năm sang thành xuất khẩu hơn một triệu tấn lương thực như thế. Thì điều kỳ diệu ấy đã xảy ra nhờ thay đổi về thể chế và chính sách nông nghiệp.

Phơi lúa sau thu hoạch ở Hậu Giang, Việt Nam.
Phơi lúa sau thu hoạch ở Hậu Giang, Việt Nam. AFP
blank

Năm đó có hai yếu tố đột phá xảy ra, thứ nhất là việc quản lý tổ chức, nắm giữ toàn bộ đất đai và cơ sở vật chất, máy móc trâu bò của các hợp tác xã được chuyển về các hộ nông dân. Người nông dân thật sự nắm giữ mảnh đất của mình, họ có thể quyết định trồng cái gì vào lúc nào, và nuôi con gì ra làm sao. Chuyện thứ hai là toàn bộ thị trường năm đó đang là do nhà nước nắm giữ, nghĩ là quy định giá cả, ai mua ai bán đều phải theo kế hoạch; thì chuyển sang thị trường tự do, bỏ hết ngăn song cấm chợ, hoàn toàn là tự do hóa thương mại, giá cả là do thị trường quyết định.

Chính hai yếu tố đó đã tạo động lực mạnh mẽ để người dân nông thôn hang hái tổ chức sản xuất, bỏ hết công sức của mình, bỏ hết tiền bạc của mình, ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng, chính sự nhiệt tình đó đem lại sự đột phá trong khâu sản xuất. Bài học đó bây giờ vẫn còn nguyên giá trị, phải làm thế nào để người dân đem lại quyền lợi của chính mình, thì đấy là sức mạnh có thể tạo nên sức sản xuất to lớn.

Trung Khang: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2012 Việt Nam xuất khẩu gạo đạt kỷ lục hơn 8 triệu tấn, nguyên nhân có phải do chính sách nông nghiệp của Việt Nam những năm trước đó đi đúng hướng không ạ?

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Những thành tựu như năm 2012 cho chúng ta biết năng lực của chúng ta rất mạnh, nhưng đấy không phải là định hướng để chúng ta đánh giá là tốt nhất hay là phải thay đổi. Trong những năm gần đây, chúng ta không coi sản lượng sản xuất hay xuất khẩu là tiêu chí trọng tâm của nền sản xuất nông nghiệp. Càng ngày chúng ta càng thấy thu nhập của nông dân quan trọng hơn, cái hiệu quả kinh tế đem lại cho đất nước quan trọng hơn.

Trung Khang: Mặc dù vẫn không thể phá vỡ kỷ lục năm 2012, nhưng đến năm 2018, xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đã đạt sản lượng cao nhất kể từ 2013, lên gần 7 triệu tấn, thành công này có phải nhờ những định hướng như Tiến sĩ vừa nói?

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Chính xác, Việt Nam hiện nay mội năm xuất khẩu từ 6 triệu tấn cho đến trung bình là 7 triệu tấn gạo là không có gì khó khăn. Điều đó giúp Việt Nam luôn đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, và một đóng góp nữa là với vị trí xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới đã góp phần rất lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới, Mặc khác nó cũng đảm bảo những vùng sản xuất lúa gạo có lợi thế nhất của Việt Nam tiếp tục phát triển được. Vá chúng ta tiếp tục trong tương lai đi theo hướng hạ giá thành, tăng chất lược, đẩy mạnh khâu bảo quản chế biến, để tăng thêm giá trị gia tăng. Để lúa gạo Việt Nam góp phần cùng những nông sản khác đưa nông nghiệp Việt Nam đi lên theo hướng tổng hợp hơn, hiệu quả hơn.

Trung Khang: Vừa qua tại Hội chợ Long An, thương hiệu gạo của Việt Nam được chính thức công bố, động thái này theo ông có giúp gì cho sản phẩm gạo của Việt Nam?

Chúng ta phải phát triển công nghệ, một lần nữa thay đồi tổ chức sản xuất,  chúng ta sẽ trở lại hợp tác xã, nhưng hợp tác xã của thị trường, chứ không phải hợp tác xã kế hoạch.
-Tiến sĩ Đặng Kim Sơn


Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: 
Hiện nay gạo cũng như các nông sản chiến lược khác của Việt Nam mà Việt Nam có lợi thế như cà phê, hạt tiêu, hạt điều.v.v… Thì chính phủ, các doanh nghiệp, các địa phương bắt đầu nhắm đến xây dựng các chuỗi giá trị, hình thành các thương hiệu, trong đó có thương hiệu quốc gia. Đây là hướng chuyển rất quan trọng, nó cho thấy chúng ta không chỉ tập trung vào sản xuất nữa, mà lo bán được hàng, lo phát triển thị trường, đây có thể là một bước tiến rất quan trọng.

Trung Khang: Cuối cùng là những khuyến nghị gì mà tiến sĩ đưa ra cho ngành lúa gạo trong thời gian tới để có thể đạt hiệu quả cao, đủ sức cạnh tranh với các nước cùng tham gia xuất khẩu gạo, cũng như để người nông dân hưởng lợi thích đáng với công sức bỏ ra?

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Trong thời kỳ đổi mới cách đây 30 năm chúng ta đã tạo ra thành công mà ngay người Việt cũng kinh ngạc, đó là từ chỗ đói ăn thành nước xuất khẩu gạo. Sau đó chúng ta lại chuyển sang một bước đổi mới nữa là dành bớt diện tích lúa gạo, dành bớt tài nguyên, để mà chuyển sang đa dạng hóa nông nghiệp hướng về xuất khẩu, Nói như thế không phải là chúng ta không còn tiềm năng, ĐBSCL vẫn là vựa lúa quan trọng và tốt nhất so với thế giới. Việt Nam còn có thể giảm giá thành sản xuất lúa gạo, do mức nước, mức thuốc… vẫn còn thừa, có thể cắt giảm. Chất lượng lúa gạo có thể tăng thêm. Giá trị gia tăng thông qua chế biến và bảo quản có thể cải thiện rất lớn.

Như vậy, trong tương lai diện tích lúa gạo có thể giảm, biến đổi khí hậu có thể làm quy mô sản xuất giảm. Nhưng giá trị gia tăng, hiệu quả đem lại của sản xuất lúa gạo cũng sẽ tiếp tục gia tăng dài dài.

Muốn như vậy, chúng ta phải phát triển công nghệ, một lần nữa thay đồi tổ chức sản xuất,  chúng ta sẽ trở lại hợp tác xã, nhưng hợp tác xã của thị trường, chứ không phải hợp tác xã kế hoạch. Đồng thời với liên kết của nông dân, các doanh nghiệp sẽ được thu hút mạnh hơn trong sản xuất lúa gạo. Chúng ta sẽ thấy xuất hiện trên vùng đất của Việt Nam các doanh nghiệp xuyên quốc gia, các đại gia lớn trong sản xuất đầu tư kinh doanh cũng bắt đầu đổ tiền vào đầu tư lúa gạo. Như vậy nền nông nghiệp Việt Nam trong tương lai sẽ là nền nông nghiệp sản xuất lớn, hàng hóa hiệu quả cao, vững bền với môi trường, và chắc chắn có giá trị gia tăng cao hướng về xuất khẩu.

Trung Khang: Xin cám ơn Tiến sĩ Đặng Kim Sơn đã dành cho Đài Á Châu Tự Do cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.
Theo RFA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Như thông lệ, tuần báo Anh The Economist dành trang bìa cho thời sự quốc tế. Trong số ghi ngày 23/02/2019, tờ báo tập trung trên Trung Quốc trong bối cảnh phải đối phó với cuộc chiến tranh thương mại do Mỹ khởi động.Đáng lưu tâm tuy nhiên là bài phân tích về Thượng Đỉnh Trump-Kim sắp diễn ra ở Hà Nội.
Trung Quốc đã rót những khoản tiền khổng lồ vào Venezuela thông qua các giao dịch dầu và cơ sở hạ tầng, theo cái mà Bắc Kinh gọi là “mối quan hệ cùng có lợi”, nhưng không ngờ quốc gia Nam Mỹ này lại lâm vào khủng hoảng trầm trọng vì suy thoái kinh tế.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un sắp gặp lại Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump trong hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai tại Hà Nội. Và khi Bắc Hàn có vẻ như sắp bước ra khỏi vòng cô lập và hòa nhập với thế giới, thì một câu hỏi đặt ra là phải làm gì đối với những nhà ngoại giao cấp cao Bắc Hàn đã đào tẩu?
Chuyên gia Bùi Mẫn Hân gần đây đặt câu hỏi là liệu Trung Quốc có sẽ để cho dự án Vành đai Con đường chết một cái chết lặng lẽ. Vành đai Con đường là sáng kiến đầu tư rộng lớn, đầy tham vọng của Trung Quốc, do Chủ tịch Tập Cận Bình đề ra với mục đích kéo thế giới lại gần và biến quốc gia này thành trung tâm chính trị và kinh tế của hơn 60 quốc gia trong vòng quét của dự án.
Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chu toàn nghĩa vụ bề tôi trung thànhvớiTrung Cộng sau 40 năm chiến tranh biên giới 1979-2019. Bằng chứng này được thể hiện qua 3 hành động : Thứ nhất, Tuyên giáo của đảng không lên lịch, ra đề cương tuyên truyền và chỉ thị tổ chức kỷ niệm cấp nhà nước như đã làm đối với “kỷ niệm 40 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh, bảo vệ biên giới Tây Nam và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot (7/01/1979 - 7/01/2019).”
thật ngạc nhiên là chính đảng Dân chủ từng ủng hộ ông Obama xây tường và chi 40 tỷ USD để bảo vệ biên giới, nay lại phản bác việc xây tường của Tổng thống Trump, thậm chí bà Pelosi còn tỏ ra mỉa mai khi cam kết chỉ chi 1 USD cho bức tường và đề xuất “xén cỏ cũng sẽ giải quyết được vấn đề”.
Trên vietnamnet.vn, Giáo Sư Sử học Phạm Hồng Tung, Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho biết Việt Nam lâu nay đã “gạt quá khứ” sang một bên nên sách giáo khoa Lịch sử gói gọn 4 câu, 11 dòng ở lớp 12, báo chí lại ít nhắc đến Chiến tranh biên giới Việt – Trung. Trung cộng thì vẫn tiếp tục tuyên truyền “chiến tranh phản kích chống Việt Nam để tự vệ” và trừng phạt “tiểu bá” Việt Nam vong ân bội nghĩa, tay sai của Liên Xô.
Một họa sĩ kỳ cựu nói với BBC rằng việc TP HCM dự định tu sửa, thay tượng Trần Hưng Đạo cũng như các tượng khác được dựng trước 1975 “là để xóa ký ức Sài Gòn”. Dư luận hôm 19/2 tiếp tục xôn xao chuyện chiếc lư hương dưới chân tượng Trần Hưng Đạo bị cẩu và việc TP HCM loan báo sắp tu sửa tượng Trần Hưng Đạo và tượng Thánh Gióng. “Hai tượng đài này được xây dựng từ trước năm 1975 bằng bê tông cốt thép là chất liệu không bền vững, đến nay đã xuống cấp, Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM kiến nghị Ủy ban Nhân dân thành phố tu sửa, tôn tạo và đã được chấp thuận,” báo Tuổi Trẻ viết.
Không tồn tại một xã hội thuần túy, chỉ tồn tại một xã hội sinh thái. Mọi quan điểm phát triển (kinh tế, chính trị, văn hóa) sẽ đổ vỡ nếu như chúng không xuất phát từ quan điểm xã hội sinh thái. Cả ‘núi’ các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường Ngày 12/10/1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập. Năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên, số 29-L/CTN được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 27/12/1993, có 7 chương và 55 điều.
Hôm thứ Hai (11/2) Hoa Kỳ đã phái hai tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường đi vào khu vực 12 hải lý của Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa, động thái mới nhất thể hiện quan điểm nhất quán của chính quyền Trump đối với vấn đề tự do hàng hải ở Biển Đông. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc đang tiếp tục các vòng đàm phán căng thẳng về thương mại, đồng thời, Tổng thống Trump sắp có cuộc gặp với lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào cuối tháng này tại Việt Nam, quốc gia có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông. Suốt hai nhiệm kỳ với chính sách mềm mỏng của cựu Tổng thống Barack Obama, Trung Quốc đã tăng cường hoạt động chiếm đóng và xây dựng phi pháp các tiền đồn trên Biển Đông, trong đó có Đá Vành Khăn. Tuy nhiên, kể từ khi Tổng thống Trump tiếp quản Nhà Trắng, mọi thứ đã dần trở nên khó khăn hơn với Bắc Kinh. Trái ngược với người tiền nhiệm Obama, chiến lược của chính quyền Trump là duy trì sự hiện diện ở Biển Đông thường xuyên đến mức điều đó không còn là tin tức đ
Bảo Trợ