Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông : Nước thứ ba có thể can thiệp ?

12 Tháng Bảy 201810:09 CH(Xem: 153)
  • Tác giả :

Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông : Nước thứ ba có thể can thiệp ?

mediaTàu sân bay USS Carl Vinson trong cuộc tuần tra tại Biển Đông, ngày 03/03/2017. Trong ảnh, chiến đấu cơ F-18 đang chuẩn bị cất cánh.REUTERS/Erik De Castro

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng chế ở Biển Đông hay không ? Đối với người Việt nhất là ngư dân mưu sinh trên biển, thì đây là một câu khẳng định chứ không phải ở thể nghi vấn. Tuy nhiên theo phân tích của tiến sĩ Constantinos Yiallourides (*) trên The Diplomat, sức nặng của từ ngữ là rất đáng kể.

Căng thẳng thường xuyên tăng lên tại Biển Đông trong những năm gần đây do các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc, ngày nay đã trở thành một chuỗi các căn cứ quân sự hoàn chỉnh, được trang bị các phi đạo, thiết bị chiến tranh điện tử, hỏa tiễn chống hạm tầm xa và hỏa tiến địa-không.

Bộ trưởng Quốc Phòng Úc, Nhật Bản và Hoa Kỳ hôm 03/06/2018 đã ra một thông cáo chung, truyền đạt « sự phản đối mạnh mẽ » của chính phủ các nước này « về việc sử dụng vũ lực và cưỡng bức cũng như các hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng, và lợi dụng tính chất tranh chấp cho mục đích quân sự tại Biển Đông ».

Gần đây nhất, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Mattis tố cáo Trung Quốc dùng quân đội« cho mục đích đe dọa và cưỡng bức », cảnh báo nếu tiếp tục sẽ nhận lãnh « những hậu quả ».

Sự chọn lựa từ ngữ đặc biệt này, nhất là dùng từ « cưỡng bức » để mô tả các hành động của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Yiallourides, không phải là vô tình. Ngược lại, « mục đích cưỡng bức » là một trong những tiêu chí mà theo đó hành động của một Nhà nước có thể bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế về việc cấm sử dụng vũ lực, như đã quy định ở Điều 2 Khoản 4 Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Theo chuyên gia về việc sử dụng vũ lực, giáo sư Olivier Corten, « mục đích cưỡng bức » phản ánh mục tiêu rõ ràng hoặc tác động của việc « áp đặt lên ý chí của một Nhà nước khác », buộc phải chấp nhận một hiện trạng mới.

« Mục đích cưỡng bức » đặc biệt liên quan đến các tình huống như triển khai quân đội và chiếm đóng một lãnh thổ tranh chấp mà không lâm chiến. Chẳng hạn như việc Ấn Độ sáp nhập vùng Goa một cách chớp nhoáng năm 1961, hay Nga chiếm Crimée năm 2014, và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đưa quân sang chiếm đóng quần đảo Socotra của Yemen năm 2018.

Trong vụ Israel dựng lên một bức tường tại lãnh thổ Palestine chiếm đóng năm 2004, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) nhận định đây là sự chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Dù phía Israel bảo đảm rằng bức tường này chỉ là tạm thời, ICJ vẫn cho rằng « việc xây dựng bức tường tạo ra ‘việc đã rồi’ trên mảnh đất này, và rất có thể trở thành vĩnh viễn » - như đã được chứng minh – « tương đương với việc sáp nhập trên thực tế ».

Cho dù vào năm 2015, ICJ vẫn chưa phân xử việc Nicaragua khi gởi quân sang vùng biển tranh chấp với Costa Rica là sử dụng vũ lực hay không, thẩm phán Patrick Robinson vẫn đưa ra ý kiến riêng về vấn đề này.

Ông Robinson nhận định « không có phát súng nào được bắn ra, không có loại vũ khí hạng nặng nào được sử dụng và chắc chắn là chẳng cần phải giết ai cả, trước khi một Nhà nước được cho là đã vi phạm điều khoản cấm ». Tuy vậy ông lý luận « ý định và mục đích » cũng như« động cơ »của Nhà nước xâm chiếm nằm trong các yếu tố liên quan để phán xét xem đây có phải là một sự xâm phạm bất hợp pháp khu vực tranh chấp hay không, cho dù không đi kèm với xung đột vũ trang, vẫn vi phạm Điều 2 (4).

Trong trường hợp đặc biệt này, « sự hiện diện kéo dài » của các nhân viên và doanh trại quân đội Nicaragua, cùng với việc từ chối rút quân khỏi lãnh thổ tranh chấp, việc « chĩa vũ khí »vào các máy bay của Costa Rica rõ ràng cho thấy Nicaragua có « mục đích cưỡng bức », cụ thể là« sẵn sàng sử dụng vũ lực mỗi khi Nicaragua cảm thấy cần thiết », như là phương tiện « để thách thức các quyền chủ quyền của Costa Rica ». Theo thẩm phán Robinson, cách xử sự của Nicaragua dẫn đến kết luận là nước này đã sử dụng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Vì vậy, dù Trung Quốc bảo đảm « sẽ không sử dụng vũ lực » để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, các hoạt động đào đắp và tiếp tục quân sự hóa các lãnh thổ tranh chấp, rõ ràng đã tạo ra việc đã rồi trên thực địa, cưỡng bức các bên yêu sách chủ quyền khác phải chấp nhận hiện trạng mới. Điều này cấu thành việc bành trướng lãnh thổ bất hợp pháp thông qua vũ lực, vi phạm luật pháp quốc tế. Chắc chắn là với việc quân sự hóa các đảo tranh chấp, Trung Quốc đã buộc các đối thủ không có chọn lựa nào khác : hoặc ngậm ngùi chấp nhận hiện trạng mới, hoặc phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nhiều tổn thất trước một Nhà nước hùng mạnh, có vai trò chiến lược trong khu vực.

Ngay cả sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016 đã phán quyết yêu sách hầu như toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh là vô căn cứ, Trung Quốc vẫn đều đặn tiếp tục các hành động bành trướng trong khu vực. Theo nhà chính trị học hàng đầu, giáo sư Taylor Fravel, Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ nhằm « tỏ ra cứng rắn về mặt chủ quyền và răn đe các đối thủ khác trong mọi xung đột ».

Vì sao việc phân loại này là quan trọng trong luật pháp quốc tế ? Có gì khác biệt về phương diện luật pháp, khi đánh giá các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông là sử dụng vũ lực, theo ý nghĩa của Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc ?

Trước hết, việc đánh giá các hành động của Trung Quốc ở Trường Sa như là sử dụng vũ lực, theo luật pháp quốc tế sẽ mở ra khả năng đáp ứng bằng hành động tự vệ. Tuy nhiên, tự vệ chỉ có thể coi là chính đáng nếu đối mặt với một cuộc tấn công vũ trang (Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc), như ICJ đã nêu trong phán quyết giữa Nicaragua và Hoa Kỳ, một trong « những dạng thức sử dụng vũ lực trầm trọng nhất », khác với những dạng khác ít nặng nề hơn.

Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là tương đối nhỏ để có thể coi là tấn công vũ trang theo nghĩa pháp luật, nhưng là một phần của các hành động vũ trang tiệm tiến, mà khi cộng dồn lại sẽ trở thành một sự chuyển đổi mang tính chiến lược trên lãnh thổ, có lợi cho Trung Quốc. Như vậy, theo tác giả, cho dù mỗi lần triển khai lực lượng đơn lẻ không đủ nghiêm trọng để coi là tấn công vũ trang, nhưng nhìn một cách tổng thể, các hành động này có thể nằm trong phạm vi của Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc (được gọi là lý thuyết « tích lũy các sự kiện »).

Thứ hai, điều này có thể mở ra cánh cửa cho các biện pháp đối phó của bên thứ ba. Có một sự đồng thuận rộng rãi là việc cấm sử dụng vũ lực là một nghĩa vụ « erga omnes » (theo công pháp quốc tế, có nghĩa là nghĩa vụ mà một Nhà nước phải thuận theo « cộng đồng quốc tế nói chung »). Chẳng hạn một nước có quyền xử lý các hành động hải tặc, diệt chủng, nô lệ…xảy ra trên lãnh thổ mình, bởi công dân một nước không trừng trị những hành động trên. Trong trường hợp xảy ra vi phạm nghĩa vụ « erga omnes », có nghĩa là tất cả các Nhà nước khác đều có quyền dùng biện pháp đối phó không mang tính cưỡng bức để chấm dứt vi phạm, như là họ trực tiếp bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng vũ lực này.

Có nhiều ví dụ khác nhau trên thực tiễn cho thấy các Nhà nước có thể đáp trả những vi phạm nghĩa vụ « erga omnes » bằng cách sử dụng những biện pháp đối phó hợp pháp. Có thể kể : những trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Liên Xô cũ vì đóng quân dọc theo biên giới Ba Lan, được coi là đe dọa hòa bình thế giới ; Cộng đồng châu Âu trừng phạt Achentina vì đã xâm lược vũ trang quần đảo Falkland và bị Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án là « vi phạm hòa bình ».Hoặc các biện pháp trừng phạt của Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ đối với Nga vì đã sáp nhập Crimée và can thiệp vào miền đông Ukraina.

Theo đó, nếu việc Trung Quốc chiếm đóng và đơn phương triển khai lực lượng vũ trang trên quần đảo Trường Sa được coi là sử dụng vũ lực chống lại các nước đòi hỏi chủ quyền, cấu thành vi phạm tiêu chí « erga omnes », thì các nước thứ ba dù không bị ảnh hưởng trực tiếp vẫn có thể viện đển trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc. Với vi phạm này, có nghĩa là các quốc gia khác ngoài các bên đòi hỏi chủ quyền Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan) cũng có thể áp đặt một loạt các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc.

Tuy vậy, nước nào có thể sẵn sàng sử dụng các biện pháp đối phó như trên thì còn phải chờ xem. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, liệu có quốc gia nào quyết tâm đưa Trung Quốc ra trước Tòa án Công lý Quốc tế ?

(*) Tiến sĩ Constantinos Yiallourides chuyên nghiên cứu Luật quốc tế về tranh chấp lãnh thổ tại Viện Luật quốc tế và so sánh của Anh quốc (BIICL) và là tác giả chính của công trình nghiên cứu, được công bố vào tháng Bảy năm 2018 « Sử dụng vũ lực liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ».
Theo RFI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hôm 7 tháng 12, mạng báo Scroll có bài viết của tác giả Tom Fawthorp dịch ra tiếng Việt đại ý là “Người dân chống đối Trung Quốc gây khó khăn cho chính quyền Việt Nam.” Bài viết đề cập đến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng hay những dự án có yếu tố Trung Quốc. Một trong những cuộc biểu tình lớn bị chính quyền đàn áp mạnh mẽ là biểu tình chống Dự luật đặc khu mà Quốc hội thảo luận vào tháng 6 năm nay.
Ngày 01/12/2018, tại Buenos Aires, tổng thống Mỹ và chủ tịch Trung Quốc cho biết tạm ngưng leo thang xung đột thương mại Mỹ - Trung. Tuy nhiên, theo cây bút xã luận của Le Monde (07/12/2018), nhà báo Alain Frachon, cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất hành tinh còn xa mới có « hòa bình ». Và vụ bắt giữ nhân vật số hai của Hoa Vi, tập đoàn viễn thông lớn nhất của Trung Quốc tại Canada là một bằng chứng cụ thể.
Libération hôm nay 05/12/2018có bài điều tra mang tựa đề « Cần phải nhắc tới Tập Cận Bình trong mỗi chương sách ». Trong các trường đại học Trung Quốc, việc giám sát các giảng viên và sinh viên được tăng cường, dọ thám và tố cáo đã trở thành tiêu chí. Thậm chí các nhà nghiên cứu ngoại quốc và các công trình mang tính quốc tế cũng bị kiểm duyệt.
Quý vị đọc tựa đề chắc đã biết chuyện gì rồi. Nhưng chúng tôi sẽ không nhắc đến tên cô giáo viên trường Trung Học Duy Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Cô đã cho học sinh vả vào mặt một người bạn 231 cái tát! Cô giáo đã chịu hình phạt của dư luận. Cả nước hùa nhau xỉ vả cô. Cô còn bị khởi tố hình sự về tội hành hạ một người. Cô đã có ý tự tử, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, không ăn không ngủ, lúc tỉnh lúc mê.
Nhà báo Trương Duy Nhất kết luận, đánh giá qua việc lấy phiếu tín nhiệm là vô nghĩa, nó như hình thức cho vui chứ nó không tác động thực sự gì đối với việc đánh giá chất lượng cán bộ đảng viên theo yêu cầu của bộ máy.
TRUMP CHẮC CHẮN CÀI NHIỀU “ĐIỀU KHOẢN THUỐC ĐỘC” TRONG BẢN YÊU SÁCH 142 ĐIỀU - Trần Đình Thu - Mấy hôm nay làng báo Mỹ không có tin. Đó là điều dĩ nhiên. Đang chiến thì tin chiến sự dồn dập, còn đang nghị hòa thì sẽ ít tin hơn. Đó là chưa kể những tin trong lúc nghị hòa phần lớn là tin mật.
Bạo động tại Paris.Toàn nước Pháp bị « choc », chờ giải pháp. Macron vướng lưới « áo vàng ». Giải pháp nào đưa nước Pháp ra khỏi nguy cơ « tổng nội dậy » ? Mỹ- Trung hưu chiến thương mại. Putin tuyên bố « tiếp tục chiến tranh » với Ukraina.Thượng đỉnh khí hậu COP24, nhiệt độ vẫn tăng. Đó là những chủ đề lớn trên báo Pháp hôm nay bên cạnh những bài từ giả, khen ngợi nhiều hơn là chỉ trích, cựu tổng thống Mỹ George H. Bush vừa qua đời, thọ 94 tuổi.
Mất mặt đến thế là cùng... Tổng thống Trump làm những việc mà Trung Quốc khó còn chỗ nào để giữ thể hiện. Ông đã liên tục nói rằng ông sẽ áp thêm thuế quan với Bắc Kinh nếu họ không có hành động thỏa đáng, ngay cả khi việc áp thuế này có nguy cơ làm tổn hại tới các lá phiếu cử tri của chính ông.
Thứ năm 22/11/2018 nhật báo TAZ của Đức bình luận về việc Hà Nội trục xuất cô Lê Thu Hà như sau: “Lê Thu Hà là công dân của nước Việt Nam, cô không có quốc tịch nào khác. Một quốc gia khước từ, không cho công dân của mình nhập cảnh là một hành vi vi phạm Công pháp quốc tế“. Cô Hà sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, vì bất đồng chính kiến đã bị Hà Nội bắt bỏ tù và sau đó trục xuất sang Đức. Cô mong trở về Việt Nam sống với mẹ già nhưng một lần nữa lại bị Hà Nội trục xuất phải quay lại Đức.
J.B Nguyễn Hữu Vinh (Blog RFA) - Trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, bạo lực được sử dụng không chỉ bằng hành vi, lời nói mà cả ngay trong tư tưởng con người. Bất cứ một vấn đề nào khi đối diện với những khó khăn giữa các mối quan hệ, bạo lực lại được sử dụng hoặc tính đến.
Bảo Trợ