Người Dân Còn Phải Chịu Ngập Đến Bao Giờ?

23 Tháng Chín 20152:54 SA(Xem: 569)
Người dân Sài Gòn chịu thảm cảnh này đến bao giờ. Đường phố Saigòn ngày 15 tháng 9, 2015
Người dân Sài Gòn chịu thảm cảnh này đến bao giờ. Đường phố Saigòn ngày 15 tháng 9, 2015
Báo Dân Việt

Mưa gây ngập nặng tại nhiều thành phố Việt Nam, nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội lâu nay gây ra những khó khăn cho cuộc sống của cư dân. Cơ quan chức năng tại thành phố Hồ Chí Minh từng yêu cầu được cấp những khoản ngân sách nhiều ngàn tỷ đồng để triển khai công trình chống ngập. Chi phí cho chống ngập tiếp tục được yêu cầu tăng thêm; thế nhưng ngập vẫn hoàn ngập và mỗi lúc dường như lại nặng thêm.

Nguyên nhân vì đâu và lý do tại sao công trình chống ngập lâu nay chưa thể phát huy tác dụng?

Mưa lớn, ngập sâu

Tin tức trong nước cho biết vào ngày 22 tháng 9 nhiều khu vực tại thủ đô Hà Nội lại bị ngập bởi mưa lớn vào đêm trước. Vào ngày 21 tháng 9, trung tâm thành phố Hải Phòng được mô tả ‘chìm trong biển nước’ bởi trận mưa kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ vào buổi sáng. Mức ngập tại thành phố Hải Phòng là từ nửa thước đến một thước.

Hơn chục ngày trước đó tại thành phố Hố Chí Minh, cũng xảy ra một trận mưa trong ba tiềng đồng hồ vào buổi chiều và nhiều tuyến đường tại đó bị ngập. Hình ảnh được truyền thông trong nước loan đi cho thấy cảnh xe máy bị ngập trong nước. Giao thông được mô tả là ùn tắc và hỗn loạn.Cảnh ngập lụt như thế được cư dân mạng dùng một bài hát về thành phố Hồ Chí Minh chế lời để bày tỏ nhận định về tình trạng kéo dài lâu nay và dường như không có cách giải quyết khiến dân chúng phải chịu đựng.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nước và Biến Đổi Khí hậu, kiêm phó ban Chống ngập thành phố Hồ Chí Minh, ông Hồ Long Phi, cho biết tình trạng ngập nước sau mưa tại nhiều thành phố của Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó như sau:

“ Tất cả đều có một bệnh giống nhau, tức là đô thị hóa phát triển nhanh hơn phát triển hạ tầng thoát nước. Thành phố Hồ Chí Minh đang bị tình trạng đó: khu vực trung tâm bị trước bởi đô thị hóa trước, khu vực bên ngoài cách đây 10 năm chưa phát triển nên không thấy. Khi bên trong đô thị hóa xong phát triển ra bên ngoài thì bên ngoài lại ( bị tình trạng) đô thị hóa đến đâu, ngập đến đó. Đó là căn bệnh mà các tỉnh hiện nay đang gặp.

Nếu thống kê thì tại Việt Nam có khoảng ba mươi mấy thành phố bị ngập. Kể cả những vùng thấp ở Đồng bằng Sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long.. ngập thì không nói gì mà cả vùng cao cũng ngập như Dak Lak, Đà Lạt…Rồi gần đây Sơn La cũng ngập, các tỉnh ven biển cũng ngập. Mới đây là Hải Phòng ( sáng hôm nay mới bị một trận rất nặng). Hà Nội được biết ( ngập) cách đây mấy năm. Tất cả đều giống nhau hết. Vấn đề ở đây là không có sự cân xứng về đầu tư. Một mặt đầu tư đô thị hóa tạo ra dòng chảy tràn khi không để nước thấm. Những nơi trữ lại nước trước đây thì nay lấn chiếm trở thành đô thị khiến đẩy nước qua những chỗ khác. Trong khi đó lại không có những công trình dẫn nước đi, tháo nước hay trữ nước; do đó ngập là đương nhiên.

Nếu thống kê thì tại Việt Nam có khoảng ba mươi mấy thành phố bị ngập. Kể cả những vùng thấp ở Đồng bằng Sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long.. ngập thì không nói gì mà cả vùng cao cũng ngập như Dak Lak, Đà Lạt…Rồi gần đây Sơn La cũng ngập, các tỉnh ven biển cũng ngập

ông Hồ Long Phi


Bệnh này không riêng gì ở Việt Nam mà những nơi đô thị hóa kém bền vững ví dụ như Bắc Kinh cũng bị. Vào năm 2013 Bắc Kinh bị một trận rất nặng. Jarkarta hay Bangkok cũng bị. Nói chung cùng một bệnh giống hệt nhau.”

Tuy nhiên theo tiến sĩ Lương Văn Thanh từ Viện Khoa học Thủy Lợi miền Nam thì còn có những nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng ngập sâu mỗi khi mưa lớn như tại thành phố Hồ Chí Minh:

“ Có nhiều nguyên nhân mà đó chỉ là một thôi. Còn lại các công trình của mình như đường cống thì không thông được. Cống của Việt Nam là cống cũ trước đây. Chỉ có Nhiêu Lộc- Thị Nghè mới có hệ thống thoát ngầm bên dưới thôi, còn trong nội đô vẫn là hệ thống cống cũ, tiết diện vẫn thế. Người dân mình thì bảo quản, bảo vệ không tốt qua việc xả những thứ bồi lấp xuống cống khiến bị tắc. Khi mưa nước xuống nhiều thì phải tắc và từ từ mới thấm hết.

Ở Sài Gòn còn khó hơn vì khi mưa mà lúc gặp triều đang dâng thì không thoát được. Thực ra Việt Nam làm không bài bản, không có hệ thống lớn mà ngập chỗ nào thì xử lý chỗ đó.

Rồi những vùng sình lầy điều tiết nước trước đây cũng bị lấp hết như khu Phú Mỹ Hưng; rồi bên quận 7, Nhà Bè cũng thế.”



Khi các cơn mưa lớn kéo dài thì đường phố Hà Nội biến thành “sông”
Khi các cơn mưa lớn kéo dài thì đường phố Hà Nội biến thành “sông” (Người đưa tin)

Kinh phí thiếu hụt?

Theo ý kiến của một người tham gia công tác chống ngập và nghiên cứu về tình hình nước và những tác động do biến đổi khí hậu gây nên cho Việt Nam như ông Hồ Long Phi thực tế cho thấy dù nguồn kinh phí dành cho công tác chống ngập được nói là lớn nhưng cũng không đủ. Ông giải thích:

“ Thực tế con số trăm tỷ, nghìn tỷ thì thấy nhiều nhưng so với công tác chống ngập thì chẳng thấm vào đâu hết. Qui hoạch được duyệt năm 2001 do một công ty tư vấn của Nhật lập, tính tương đối chi tiết, tỉ mĩ, thì để chống ngập được cho toàn bộ khu vực đô thị hóa của thành phố Hồ Chí Minh khoảng 650 cây số vuông cần khoảng chừng 6 tỷ đô la ( tương đương chừng 150 ngàn tỷ đồng). Đến nay mới đầu tư cho được 100 cây số vuông thôi; nghĩa là mới được hai mươi mấy ngàn tỷ. Phần còn lại trước đây nhờ vốn ODA nên giải ngân cũng tương đối khá. Tức khoảng 10 năm trước, một năm được khoảng 2.000-2500 tỷ đồng. Nhưng trong 5 năm gần đây chỉ còn 1000 tỷ môt năm thôi. Nếu so số tiền còn lại chừng 120 ngàn tỷ và nếu 1 năm chỉ chi được 1 ngàn tỷ thì 120 năm nữa mới xong được công trình căn bản. Đó là chưa nói đến biến đổi khí hậu. Do nhận thức của người dân không rõ nên cho rằng nhiều; nhưng thực ra hạ tầng chống ngập như thế là quá yếu kém. Kinh phí được dành cho nó cũng không thấm vào đâu hết. Ví dụ như bỏ tiền nhiều để xây nhà mà mới xây được phần móng thôi thì dột vẫn dột, khi nào xây được mái thì hết. Công trình chống ngập ở thành phố Hồ Chí Minh bây giờ mới xây phần móng thôi, và từ trung tâm rồi lan dần ra. Kinh phí là tắc nghẽn lớn nhất, kinh phí tìm không ra.

Còn kinh phí được duyệt năm 2008 đến nay mới được 10% thôi. Vốn lớn quá đến mấy chục ngàn tỷ không có tiền để làm nên chậm. Còn qui hoạch thoát nước mưa được duyệt năm 2001 đến nay mới làm được 20%.

Tổng cộng 650 cây số vuông thì đến nay mới giải quyết được hơn 100 cây số vuông thôi.

Nói cách khác đô thị hóa và bê tông hóa vốn từ nhiều nguồn mà trong đó vốn tư nhân rất nhiều. Qui hoạch đô thị, san lấp thì tư nhân bỏ tiền vào làm nhiều lắm. Trong khi nhà nước đầu tư cho công trình chống ngập đến nay chủ yếu dựa vào vốn vay là chính mà vốn vay trước đây còn kha khá, chứ mấy năm này gần như không có. Kinh phí là trở ngại lớn nhất.

Làm cầu đường, tư nhân bỏ tiền ra sau đó thu phí. Còn làm công trình chống ngập thì không thu được đồng nào nên tư nhân không mặn mà trong chuyện này. Còn dựa vào vốn cung cấp thì không đủ.

Hai bất cập gặp nhau: một bên phát triển quá nhanh, vượt qui hoạch còn một bên phát triển quá chậm so với qui hoạch!”

Qui hoạch của mình không có tầm nhìn xa mà cần phải 50-100 năm. Ở nước ngoài như London, họ xây dựng một hệ thống ngầm bên dưới rất ‘kinh khủng’, con người có thể đi dưới đó và như một ‘mê cung’ bên dưới. Như thế mới thoát được nước. Còn của mình không được như thế

Tiến sĩ Lương Văn Thanh


Tiến sĩ Lương Văn Thanh cũng đồng ý một phần với lý giải của ông Hồ Long Phi là trong công tác chống ngập khó kêu gọi nguồn vốn vì lợi ích không rõ và nhanh như việc đầu tư vào hệ thống giao thông; tuy nhiên tiến sĩ Thanh nêu ra tình trạng qui hoạch thiếu tầm nhìn của Việt Nam khiến lãng phí nguồn vốn bỏ ra:

“ Qui hoạch của mình không có tầm nhìn xa mà cần phải 50-100 năm. Ở nước ngoài như London, họ xây dựng một hệ thống ngầm bên dưới rất ‘kinh khủng’, con người có thể đi dưới đó và như một ‘mê cung’ bên dưới. Như thế mới thoát được nước. Còn của mình không được như thế!

Thứ hai nói tiền, thì ai lãnh đạo phải rốt ráo, chịu trách nhiệm bỏ tiền vào làm thì mới được; còn cứ dàn trải mỗi năm cấp cho một tí để có việc làm thì không được. Chứ người ta giải quyết vùng nào thì đầu tư một lần luôn…”

Ông Hồ Long Phi nhắc đến trách nhiệm của phía gây ngập để cùng tham gia trong công tác chống ngập:

“Tất cả đổ lỗi cho phía chống ngập không làm tốt công tác của mình, còn bên gây ra ngập thì gần như ‘vô can’. Trong cùng một sự việc hai đối tượng khác nhau mà một bên gần như vô can.

Nếu bên gây ra ngập họ có trách nhiệm một chút thì sẽ giúp giảm nhẹ việc chống ngập. Bên gây ra ngập nhiều lắm ví dụ như ‘đô thị hóa’, ‘là, vỉa hè’, san lấp. Khi một sở ký giấy phép cho san lấp con sông hay con rạch là họ gây ra ngập. Khi ký giấy phép cho xây dựng một chung cư nào đó mà không có giải pháp điều tiết nước cho chính khu vực đó mà tạo ra dòng chảy thặng dư đổ vào hệ thống thành phố, họ cũng gây ra ngập. Người dân quăng một túi rác ra đường cũng là thủ phạm gây ra ngập.”

Trong những biện pháp để chống ngập cho thành phố lớn, đông dân như thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho biết sẽ chi ra 950 tỷ đồng để xây ba hồ điều tiết. Ba hồ này nhằm giúp chống ngập cho khu trung tâm thành phố.

Ông Hồ Long Phi cho rằng quan điểm đó là đúng về lâu dài, thế nhưng khi thực hiện lúc này sẽ vấp phải những trở ngại vì liên quan nhiều đến cộng đồng như diện tích giải tỏa đền bù…

Ông này nêu ra quan điểm cần phải làm sao giải pháp chống ngập mang tính bền vững hơn, thích ứng với những ‘yếu tố bất định’; đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay.

Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Gia Minh hẹn gặp lại các bạn trong chương trình kỳ tới.
Theo RFA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khu vực miền Tây Nam Bộ, còn được gọi tên “Đồng bằng sông Cửu Long” (ĐBSCL) là vùng châu thổ trù phú được thiên nhiên ưu đãi nhất ở Việt Nam. ĐBSCL được dân gian truyền miệng rằng vùng đất Phương Nam “chim trời cá nước” là một nơi không bao giờ bị đói khát vì được bao bọc bởi những đồng lúa cò bay thẳng cánh và dòng Mekong mênh mông với 9 nhánh sông đầy ấp tôm cá quanh năm, nhiều nhất vào mùa nước tràn đồng mỗi năm.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam vào ngày 16/12 thảo luận quy chế bầu cử tại Đại hội Đảng XIII trong ngày làm việc thứ 3 của Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Truyền thông Nhà nước Việt Nam dẫn thông cáo báo chí của Văn phòng Trung ương Đảng cho biết như vừa nêu nhưng không nói rõ nội dung chi tiết thảo luận thế nào về quy chế vừa nêu.
Việt Nam nằm trong số 5 quốc gia, trong đó có Trung Quốc, được coi là những 'nhà tù' lớn nhất đối với các nhà báo, theo một báo cáo mới nhất của tổ chức Phóng viên không Biên giới (RSF) vừa công bố. Thống kê thường niên của RSF đưa ra hôm 14/12 cho thấy hơn một nửa số nhà báo bị cầm tù – tương đương 61% – đang bị giam giữ tại 5 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tổ chức bảo vệ quyền tự do thông tin có trụ sở ở Paris, Pháp, cho rằng 5 quốc gia này, trong đó còn gồm Trung Quốc, Ai Cập, Ả Rập Saudi và Syria là “những nhà tù lớn nhất đối với các nhà báo” trong năm thứ 2 liên tiếp. Trung Quốc đứng đầu với số lượng 117 nhà báo bị bỏ tù trong khi Việt Nam đứng thứ 4, sau Ả Rập Saudi và Ai Cập, với 28 nhà báo – gồm cả chuyên nghiệp và tự do, theo thống kê của RSF.
Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng năm nay được trao cho Tù nhân Lương tâm trẻ tuổi Phan Kim Khánh. Cả hai người Phan Kim Khánh và Lê Đình Lượng đang bị giam cùng nơi tại Trại giam Ba Sao ở Nam Hà. “Đây là năm thứ 3 Giải nhân quyền Lê Đình Lượng được tổ chức trong một không khí vừa đang cao điểm của mùa dịch cúm vừa trải lòng trong một năm với nhiều thay đổi trong nước...”.
Tại phiên xử sơ thẩm 29 người dân Đồng Tâm với cáo buộc đổ xăng thiêu chết ba sĩ quan công an, diễn ra vào tháng 9 vừa qua, các luật sư tham gia bào chữa cho những bị cáo này yêu cầu cho dựng lại hiện trường nhưng không được Hội đồng xét xử đáp ứng. Luật sư Nguyễn Hồng Bách, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ba nạn nhân công an phản đối việc dựng lại hiện trường với lý do là sẽ gợi lại nỗi đau của gia đình nạn nhân.
Các Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc (UN) về nhân quyền, văn hoá và Nhóm làm việc chống bắt người tuỳ tiện của UN hôm 17/9/2020 đã gửi thư đến Chính phủ Việt Nam, bày tỏ quan ngại về tình trạng bắt giữ người tuỳ tiện và đàn áp đối với các nhà báo độc lập ở Việt Nam.
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bốn ngày sau lễ ký kết Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Toàn Diện Khu Vực (RCEP), truyền thông trong nước vẫn đang tuyên truyền rằng đây là “thành tựu,” “thắng lợi” của chính phủ CSVN. RCEP có sự tham gia của 15 quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm 10 quốc gia thành viên ASEAN và do Trung Quốc làm “chủ xị.” Hiệp định này được cho là có mục đích giảm thuế quan, tăng cường chuỗi cung ứng với các quy tắc xuất xứ chung và hệ thống hóa các quy tắc về thương mại điện tử mới giữa các thành viên. Hàng Trung Quốc nhập cảng vào Việt Nam qua cửa khẩu Cốc Nam ở tỉnh Lạng Sơn. (Hình: Hà Nội Mới) Trong khi Hà Nội “hồ hởi” tham gia hiệp định thì Ấn Độ được ghi nhận đã rút khỏi vòng đàm phán. Tờ Công An Nhân Dân hôm 19 Tháng Mười Một ví von Hiệp Định RCEP “là trái ngọt của hơn tám năm đàm phán.”
Thuộc trong số 63 giáo viên tiêu biểu được tiếp xúc với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, vào sáng ngày 16/11, cô giáo người dân tộc Raglai, dạy ở trường Mầm non Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu bày tỏ rằng "Nếu có điều ước, tôi ước trường lớp được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, có nhà vệ sinh bởi không có nhà vệ sinh, các cháu, các cô cũng rất vất vả". Bên cạnh đó, 63 giáo viên còn đưa ra các kiến nghị như có điện, nước sạch, có trang thiết bị dạy và học, đặc biệt là dạy tiếng dân tộc cho học sinh các dân tộc thiểu số.
Trước sự phản ánh của dư luận đối với dự thảo tăng học phí kể từ niên học 2021-2022, Thứ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo (GD-ĐT) Phạm Ngọc Thưởng đăng đàn giải thích rằng do Nghị định số 86 chỉ có thời hạn hiệu lực đến hết năm học tới, nên để có căn cứ pháp lý cho các cơ sở GD-ĐT thực hiện từ năm học 2021-2022 và các năm tiếp theo thì cần phải xây dựng nghị định thay thế.
Trong đợt chất vấn và trả lời chất vấn vừa qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIV, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông (TT&TT) cho biết, 2 năm gần đây mạng xã hội Việt Nam có sự phát triển mà theo lời ông là ‘bứt phá’ với hơn 800 mạng xã hội. Năm 2018, các mạng xã hội Việt Nam đạt 47 triệu tài khoản, nhưng đến nay đã là 96 triệu.(!?) Trả lời Đài Á Châu Tự Do hôm 11 tháng 11 năm 2020 từ Việt Nam, ông Diệp Quang Văn, chủ sở hữu trang mạng xã hội ‘Việt Nam Ta’, nhận định:
Bảo Trợ