"Câu - Cá" Trong Ca Dao Nam Bộ

23 Tháng Bảy 20203:00 CH(Xem: 2006)

Trong bài viết nầy, chúng tôi khảo sát hình ảnh “cá, câu-cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao. Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu-cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước.
blankcauca_02
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao. Cá ở Nam bộ không chỉ được ăn tươi mà còn được làm mắm, làm khô để tích trữ ăn dần. Hiện thực nầy cũng để lại dấu ấu trong ca dao Nam bộ, cụ thể là trong lời ru của người mẹ:
Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng.

Xem hình ảnh cá như một phương tiện nghệ thuật, tác giả dân gian Nam bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại cá nói riêng để nói về con người:

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.

Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh. Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước. Nước trong một không gian cụ thể là biển, sông, kinh, đìa, ao. Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:

Bể sâu con cá vẫy vùng,
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.
Đôi ta như con cá ở đìa,
Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi
.

Với cặp biểu trưng câu - cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai - hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai. Câu cá là một hình thức lao động sản xuất của cư dân sông nước. Việc câu cá không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể câu được bởi công việc nầy tương đối dễ dàng. Tuy vậy, trong ca dao Nam bộ chỉ có chàng trai mới câu và câu là chàng trai:

Anh ngồi bực lở anh câu,
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn.
Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,
Câu thời câu vậy cá chờ có nơi.
Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.
Anh ơi, gá duyên đừng kén đừng lừa,
Cụm mây kia đen đặc, ngọn gió lùa còn tan.

Việc câu trong ca dao Nam bộ là sự thuyết phục, là bày tỏ tình yêu của chàng trai. Trong thực tế đời sống của cư dân Nam bộ, công việc câu cá cũng là một hoạt động lao động kiếm sống. Người ta hay dùng hai từ “ câu cơm “ để chỉ một hoạt động nào đó nhằm mục đích kiếm tiền, cụ thể hơn là kiếm tiền cho cuộc sống thường nhật của gia đình và bản thân. Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới nầy, việc bắt cá, câu cá là việc phổ biến, thường xuyên đồng thời là việc buộc phải làm. Cá trong sông, rạch rất nhiều nhưng phải câu, bắt mới có. Do vậy “ cá ăn câu “ trong ca dao mang ý nghĩa là một kết quả tốt cho chàng trai.
Hình ảnh câu- cá khá phổ biến trong ca dao các miền. Sau đây là một trường hợp được ca dao Bắc bộ sử dụng:

Anh ngồi vực lở anh câu,
Khen ai xui giục con cá sầu không ăn,
Con cá không ăn câu anh con cá dại,
Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân.

Hình ảnh câu- cá được tác giả sử dụng theo lối tư duy thuận chiều: cô gái yêu chàng trai thì mọi việc đều tốt đẹp, còn như không yêu là mất mát, dại khờ. Ca dao Nam bộ một mặt tiếp nối kiểu suy nghĩ ấy:

Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Bởi câu anh cầm, câu ngãi câu nhân.

Nhưng mặt khác, tác giả ca dao Nam bộ lại suy nghĩ theo kiểu “phản đề”: không phải lúc nào yêu anh cũng đều tốt đẹp cả:

Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Cá không ăn câu chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn.

Đó là kiểu tư duy phóng khoáng, luôn dành cho đối tượng nhiều khả năng lựa chọn, thậm chí là sự lựa chọn ngược lại với ý định ban đầu.
Vấn đề chỉ có chàng trai câu mà cô gái không câu trong ca dao Nam bộ, có thể lý giải rằng đây là phản ánh một tập quán xã hội: chàng trai phải bày tỏ tình yêu trước, phải chủ động trong quan hệ lứa đôi. Cô gái trong ca dao Nam bộ - với hình ảnh con cá - có thể chủ động chờ đợi, một hình thức tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng:

Con cá vẩn vơ núp tại bóng cầu,
Chờ anh khác thể sao hầu chờ trăng.

***
Hình ảnh “ cá hóa rồng “ ( cá hóa long ) gắn với một khía cạnh khác của văn hóa. Đó là sự sùng bái đối với loài cá chép ( cá lý ngư). Cá chép có thể hóa rồng bay lên mây, là loại cá thiêng cho các vị thần tiên cỡi về trời mang theo những thông điệp của trần gian. Đặc biệt, trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ cá sấu cũng có thể trở thành rồng. Quá trình cá sấu đắc đạo là quá trình từ khi hình thành cho đến khi sụp lở của một cù lao. Hiện tượng cù lao sụp lở gọi là cù dậy.Khi cá sấu bắt đầu tu là khi nó nằm im dưới đáy sông. Phù sa của dòng sông theo thời gian ngưng tụ lại trên mình cá sấu, trở thành cù lao. Đến lúc cá sấu đắc đạo thành rồng, cựa mình, vụt bay lên không trung thì cù lao sụp lở. Có thể nói niềm tin cá hóa rồng là niềm tin về hiện tượng thăng hoa diễn ra trong vũ trụ và trong cả cuộc đời trần tục. Từ trong sâu thẳm, đó còn là ước vọng về sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về khả năng cải tạo cái ác, cái xấu. Trong ca dao Nam bộ, “cá hóa rồng” mở ra hướng phát triển tiến tới sự hoàn thiện hơn. Do vậy mà trong một số trường hợp, cá biểu trưng cho một nhân cách thanh cao dạng tiềm ẩn hoặc là hướng tới một kết qủa tốt đẹp:

Trên trời có cây hóa kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn móng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến động lòng thương em (1).
Bậu chê anh quân tử lỡ thì,
Anh tỷ như con cá ở cạn chờ khi hóa rồng
Ngày nào nên ngãi vợ chồng,
Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây (2).
Mù u nhỏ rễ ăn lan,
Sợ mình nói gạt qua đàng đấy thôi.
Phụng hoàng chấp cánh bay xuôi,
Liệu bề thương đặng, mình ơi, tôi chờ.
Nước lên khỏi bực tràn bờ,
Thương mình thương vậy, biết chờ đặng không?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Đợi cho con cá hóa rồng sẽ hay.
Gặp mình may quá là may,
Trông cho trời tối bắt tay đặng về (3)
.

Ở (1), hình ảnh “ cá hóa long “ chưa mang ý nghĩa biểu trưng rõ ràng, nó chỉ phản ánh cách suy nghĩ gắn với tín ngưỡng về một loài cá thiêng. Ở (2) nghĩa biểu trưng của “cá hóa rồng” được thiết lập bằng hình thức so sánh. Cơ sở hình thành nghĩa biểu trưng trong hai bài ca dao nầy chính là tín ngưỡng vừa nói. Ở (3), hình ảnh “cá hóa rồng” là một ẩn dụ tượng trưng. Nghĩa bóng của nó đã được tác giả dân gian sử dụng như là ý nghĩa duy nhất của hình ảnh nầy.

Như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ phản ánh một nét của nền văn hóa vật chất, đó là công việc đánh bắt thủy sản, trường hợp cụ thể ở đây là nghề câu cá. Mối tương quan giữa câu và cá ở một số trường hợp, trong một chừng mực nào đó thể hiện cách suy nghĩ phóng khoáng của người Việt Nam bộ. Quan niệm về một loài cá thiêng có thể hóa thành rồng, phản ánh tín ngưỡng sùng bái loài vật, một tín ngưỡng của người Việt thời cổ còn lưu giữ.

Do tác động của thủy triều, trên các dòng sông Nam bộ thường xuyên có những cù lao, cồn cát hình thành và sụp lở. Hiện thực này được nhìn nhận theo chiều hướng tốt đẹp: đó là quá trình hoàn thiện của tạo vật. Đáng nói hơn, đó là tư tưởng hướng thiện của người Nam bộ. Chính tư tưởng này mà con người tìm thấy trong cái đổ vỡ (cù lao sụp) một điều gì đó tốt đẹp hơn (rồng bay lên).

Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng... từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao. Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch.

- Nguon http://e-cadao.com
    Ts. TRẦN VĂN NAM
-------------
Tư liệu tham khảo:
1. Jean Chevalier, Alain Gheebrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng, TP. HCM.
2. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị(1984), Ca dao dân ca Nam Bộ,Nxb TP. HCM.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật...(1995), Kho tàng ca dao người Việt (KTCDNV), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường đại học KHXH và NV TP. HCM.
5.Lê Trí Viễn (chủ biên) (1986), Thơ văn Đồng Tháp tập I, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể. Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực. /post 13 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3298) Nguyên Hưng - TgpSaigonnet/
Hàng mấy vạn chiến thuyền treo lưới cá- Dùng biển người giặc đang cướp biển Đông- Sao Bộ quốc phòng lại ngồi tri ân giặc?- Hưng Đạo vương ơi, đâu Hội nghị Diên Hồng?- Đâu Dã Tượng, Yết Kiêu, đâu hàng triệu cánh tay Sát Thát?- Đâu cọc nhọn Bạch Đằng, đâu kế sách Bình Ngô?- Giặc đến nhà sao vẫn ngồi ca hát? /post 02 Tháng Tám 20122:00 CH(Xem: 5386) Trần Mạnh Hảo (Danlambao)/
Lê Anh Tuấn - Hàng ngày chúng ta vẫn sử dụng những thành ngữ quen thuộc do ông cha để lại trong khi nói chuyện hay viết lách. Tuy nhiên, có nhiều thành ngữ mặc dù thường xuyên sử dụng, nhưng câu gốc hay ý nghĩa của nó lại khác xa so với những gì ta nghĩ. Sau đây là một số những thành ngữ như vậy. Nghèo rớt mùng tơi Nhiều người vẫn nhầm tưởng mùng tơi ở đây là cây mùng tơi mà chúng ta vẫn thường nấu canh hay dậu mùng tơi trong thơ Nguyễn Bính.
Sinh hoạt hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên được thể hiện trong lao động tập thể, trong các hình thức giải trí vui chơi, và ngay trong các ngày hội lễ, mặc dù tính chất trang nghiêm, nhưng không vì thế mà hò đối đáp không được sử dụng. /TÔN THẤT BÌNH - TapchisongHuong - post 26 Tháng Sáu 2012 (Xem: 2966)/
Tôi gởi xe Honda 72 trên tàu lửa, từ ga Đà Nẵng, trở về Huế. Gặp Bà Cụ già bán thơm miếng, tôi nói láo để được giúp Bà: ''Mệ (3) ơi, ngày trước, mạ con cũng đi bán khoai, chuối, thơm như Mệ để nuôi con ăn học. Chừ, Mệ cho con bán thơm giùm Mệ để con thấy khổ ra răng, mà gắng học thành tài. Được không, Mệ?'' Bà Cụ nhìn tôi, mỉm cười, từ chối: ''Dáng thư sinh, sạch sẽ như rứa, đi bán thơm, ai tin! Thiên hạ cười cho chừ!'' Tôi năn nỉ. Bà Cụ miễn cưởng để tôi bưng rổ thơm lát đi mời bà con mua. Ai dè, thơm bán nhanh là nhờ hành khách thấy tôi vui tính! Bà Cụ mừng, gọt, xẻ thêm thơm để tôi ''rao hàng'' tiếp. Khi xe lửa qua khỏi Lăng Cô, tôi nghỉ ''giải lao'' ở toa thứ sáu để hút thuốc.
Sinh thời Đĩnh Chi là người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng diện mạo lại rất xấu xí. Vì sự xấu xí đó mà suýt chút nữa con đường quan lộ của ông bị hủy hoại. Tuy vậy cũng nhờ thế mà trên thi đàn văn học Việt Nam có thêm một bài phú vô cùng đặc sắc và hậu thế cũng được biết thêm nhiều giai thoại thú vị về ông...
Tôi xin nhắc lại: Tôi không theo đạo Thiên Chúa, và điều ấy có thể đã làm cho tôi sống được đến hôm nay, năm 1994. Vì những người Cộng Sản căm những người theo đạo Thiên Chúa nhất nên tất cả mũi nhọn của nền chuyên chính đều chĩa vào họ./post2 Tháng Bảy 2012 (Xem: 4982) Kiều Duy Vĩnh - Vantuyen /
Cần xóa bỏ quan niệm cho rằng Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có nguồn gốc từ Tết Đoan Ngọ của Tàu. . Ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch là ngày Tết Đoan Ngọ - còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Đoan Dương, Trùng Ngũ, Tết giết sâu bọ, Tết giữa năm, Tết mồng năm … Đây là một trong những ngày Tết truyền thống tại một số nước châu Á như Việt Nam, Triều Tiên, Trung Quốc. Tuy nhiên nguồn gốc, ý nghĩa thực của ngày tết này không phải ai cũng rõ . Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 là một trong những ngày lễ tưởng nhớ tới tổ tiên do đó trong số các vật phẩm dâng cúng không thể thiếu bánh tổ (tổ tiên) và nhiều loại bánh trái khác làm bằng các thứ gạo nếp. Đặc biệt, đây còn là ngày lễ thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam, đó là ngày giỗ Quốc mẫu Âu Cơ.
*** Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình. Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc va-li da, bước vào.Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc va-li lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô , Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.
Bảo Trợ