Đề Tài Này Vẫn Còn Tranh Cãi Mãi? "d" Hay "gi"? "dòng" Hay "giòng"?

06 Tháng Giêng 20219:42 SA(Xem: 63)

ĐỀ TÀI NÀY VẪN CÒN TRANH CÃI MÃI? "D" HAY "GI"? "DÒNG" HAY "GIÒNG"?


- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như:
tiengviet
a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy".
b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược".
c) Thạch Lam: "Theo Giòng". 

- Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như:

a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959).
b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972).
c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985).

- Và sau hơn nữa đó là:

a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007). 

I. Vậy câu hỏi ở đây là chúng ta nên sử dụng theo ai cho hợp lý, cho đúng cách dùng? Theo các nhà văn lớp trước hay các nhà văn lớp sau? 

1/ Đầu tiên, trong ba cuốn tự điển Việt Ngữ ta có thể cho là có uy tín nhất của Việt Nam tới hiện nay, TẤT CẢ cùng viết là "dòng". Đó là:

a) "Việt Nam Tự Điển" của Hội Khai Trí Tiến Đức (trang 155).
b) "Tự Điển Việt Nam" của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (quyển Thượng, trang 376).
c) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" của Huỳnh Tịnh Của (quyển I, trang 243).
d) Ngoài ra cuốn "Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị" do nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ biên soạn cũng viết "dòng" (trang 141).

2/ Các tự điển do những học giả có uy tín khác biên soạn cũng viết "dòng". Thí dụ như:

a) "Vietnamese-English Dictionary" của giáo sư Nguyễn Đình Hòa (trang 126).
b) "Giúp Đọc Nôm Và Hán Việt" của linh mục Trần Văn Kiệm (trang 388).

3/ Hầu hết các tự điển Việt Ngữ xuất bản ở trong nước hiện nay và tự điển chữ Nôm (ở trong nước cũng như ở hải ngoại) cùng đều viết “dòng”:

a) "Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn" (Westminster, CA, 2009 - trang 299).
b) "Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải (Hà Nội, 2012) - trang 452).

- Các nhà biên soạn tự điển có lý do để viết “dòng” (với D) bởi vì:

a) Trong chữ Nôm, chữ "dòng" ấy được viết như sau (𣳔).
b) Phía trước là bộ Thủy (氵= nước) để cho biết có "liên quan đến nước".
c) Phía sau là chữ Dụng (用 = dùng) để chỉ cách "phát âm". 

- Vậy đó là một chữ có "liên quan đến nước", và "phát âm" giống chữ DỤNG (trong chữ Nôm đọc là DÙNG).

- Và do phát âm giống “dụng” và "dùng", chúng ta cũng thấy âm thanh khi phát ra là “dòng” rõ ràng gần và tự nhiên hơn.

- Khi đã phát âm là “dòng,” thì viết với mẫu tự D là đúng. 

- Vì lẽ đó, những ai năng tra cứu tự điển hoặc biết qua chữ Nôm (các giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Trần Trọng San... và những người tốt nghiệp Văn Khoa sau các ông) đều có khuynh hướng viết là “dòng”.

- Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là con rể nhà thơ Tú Mỡ. Là một giáo sư Quốc Văn, dạy về "Tự Lực Văn Đoàn", ông biết rất rõ nhạc phụ đã viết "Giòng Nước Ngược", cũng như Nhất Linh, Thạch Lam đã viết "Giòng Sông Thanh Thủy", "Theo Giòng", nhưng ông không theo. 

- Trong cương vị một nhà giáo, ông viết "Dòng Sông Định Mệnh" vì nghĩ rằng như thế đúng hơn. 

- Nhà văn Nhật Tiến có giao tình thân với văn hào Nhất Linh. Ông là người đọc lời vĩnh biệt khi hạ huyệt trong tang lễ Nhất Linh ở Sàigòn ngày 13.07.1963. Tuy biết rất rõ Nhất Linh đặt tên cho tác phẩm cuối đời của mình là "Giòng Sông Thanh Thủy", nhưng năm 1972 Nhật Tiến vẫn đặt tên cho một tập truyện mới ra đời của ông là "Tặng Phẩm Của Dòng Sông". 

- Trong "Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển", khi cho in các tác phẩm văn học, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết "dòng":

a) Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một DÒNG (Ca dao).
b) Bình bạc vỡ tuôn đầy DÒNG nước (bản dịch Tỳ bà hành). 

- Khi phiên âm Truyện Kiều, các học giả Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cũng đều viết "dòng":

a) Nao nao DÒNG nước uốn quanh (câu 55).
b) Đem mình gieo xuống giữa DÒNG trường giang (câu 2636). 

- Các học giả của Miền Nam trước 1975 như Giáo sư Trần Trọng San trong cuốn "Văn Học Trung Quốc Đời Chu Tần", cũng luôn luôn viết: "ngược dòng, xuôi dòng, dòng dõi...".  

II. Tại sao các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn lại viết “giòng”? 

- Khi các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết "Giòng Nước Ngược" và "Theo Giòng", tuy lúc ấy "Tự Điển Việt Nam" của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ cùng "Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị" của Lê Ngọc Trụ chưa ra đời, nhưng hai bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của và Hội Khai Trí Tiến Đức đã xuất hiện (1895 và 1931). 

- Rất có thể các vị lớp trước ngoài Bắc không lưu tâm đúng mức đến bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của được xuất bản ở trong Nam. Nhưng cũng có nhiều phần vì các vị này có "thành kiến" với Hội Khai Trí Tiến Đức. 

- Báo Phong Hóa đã đăng rất nhiều thơ văn giễu cợt, châm biếm Hội này. Trong khung cảnh ấy, việc theo những đề nghị về phương diện chính tả do tự điển Khai Trí Tiến Đức đưa ra là ĐIỀU KHÓ XẢY RA. (ML: do ganh tỵ, coi thường, thủ cựu?)

III. "Tự Lực Văn Đoàn" cũng có mắc phải những sai lầm khác về phương diện chính tả. 

- Khi xuất bản lần đầu năm 1936, tập truyện ngắn của Khái Hưng mà nay chúng ta gọi là “Dọc Đường Gió Bụi” đã được in với nhan đề "Giọc Đường Gió Bụi" (http://www.worldcat.org/title/gioc-ng-gio-bui-truyen-ngan/oclc/64086678). 

- Thời nay chúng ta cùng biết rằng viết như thế là sai. Câu đầu bài “Chí làm trai” của Nguyễn Công Trứ vẫn được phiên âm là: 

"Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc"
(Nguyễn Công Trứ) 

- Tự Lực Văn Đoàn có những đóng góp rất quý giá về phương diện văn học và xã hội. Về văn học, đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam (và cho cả Thơ Mới) rất đáng kể. Nhưng cách viết chữ quốc ngữ ở thời Tự Lực Văn Đoàn chưa hoàn hảo về phương diện chính tả. Đọc lại báo Phong Hóa, chúng ta thấy lỗi chính tả khá nhiều.

- Vì những lẽ ấy, tuy vẫn nên viết tên các tác phẩm của Nhất Linh, Tú Mỡ, Thạch Lam là "Giòng Sông Thanh Thủy", "Giòng Nước Ngược", "Theo Giòng" (đó là những danh từ riêng, tên các tác phẩm đã có địa vị trong văn học sử), chúng ta vẫn nên viết “dòng” (dòng nước, dòng dõi, dòng tu...) trong những trường hợp khác.

* PHẦN GÓP Ý:

1) Nhà văn Nhật Tiến (California):

- Dĩ nhiên ta tôn trọng các tác phẩm đã in thành sách như của Nhất Linh "Giòng Sông Thanh Thủy", Tú Mỡ "Giòng Nước Ngược"... và biết ơn công trình làm mới văn chương của Tự Lực Văn Đoàn từ giữa thế kỷ trước. Nhưng phải nói rằng trong hai cơ quan ngôn luận của văn đoàn này, tờ Phong Hóa và tờ Ngày Nay hãy còn chứa đầy rẫy lời văn thô sơ hay lỗi chính tả. 

- Như một số mục chính trên tờ Phong Hóa đã dùng những từ mà cho đến nay không còn ai dùng nữa như CHUYỆN Ngắn thay vì Truyện Ngắn, Từ Nhỏ Đến NHỚN thay vì Từ Nhỏ Đến Lớn, Hạt Đậu DỌN thay vì Hạt Đậu Nhọn, tòa soạn quảng cáo: “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In MÙI, có bìa giấy trắng” thay vì “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mầu, có bìa giấy trắng” ..v..v...

- Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý với những nhận định xác đáng của anh Trần Huy Bích về việc viết chữ “dòng sông,” thay vì viết “giòng sông”.

2) Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Brisbane, Úc Châu):

- Bài viết của Anh Trần Huy Bích có thể gọi là “tường-tận”. "Tường" là nói rõ ràng, và "tận" là đã nói tới cùng. Có hai hệ-luận như sau: một là trong tương-lai chúng ta nên cùng đồng ý viết “dòng”, nhưng vì Việt Nam không có Hàn Lâm Viện để quy định chính tả nên việc này tuy dễ mà khó. Vả lại trong văn chương chẳng nên có sự bức bách, bắt người viết phải theo ý kiến mình, dù đó là ý kiến của số đông.

- Cũng không nên có sự chê trách vội vã đối với một bài văn vì một vài “lỗi” chính tả mà quên đi ý tưởng của toàn thể bài viết. Việc này thường đưa đến những mối bất hòa không cần thiết. Hai là sau này khi tái bản chúng ta có dám, hay có nên, thay đổi tựa đề của tác giả mà in là “Dòng Sông Thanh Thủy” (Nhất Linh), “Theo Dòng” (Thạch Lam) và “Dòng Nước Ngược” (Tú Mỡ), hay là chúng ta bắt buộc phải tôn trọng các tác giả và giữ nguyên tựa đề như đã viết trong quá khứ?

3) Nha Sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc (Columbus, Ohio):

- Bản thân tôi nhiều khi cũng lúng túng vì chữ “dòng sông” và “giòng sông”.

- Cám ơn anh Huy Bích đã tra cứu và giảng giải rất cặn kẽ. Từ nay tôi sẽ dùng chữ “dòng” mà không còn phải lưỡng lự gì nữa.

- Còn chữ “giòng” coi như chữ cổ, vì ngôn ngữ theo thời gian có thể đọc khác đi một chút, như “ông trời” ngày trước ta gọi là “ông giời” vậy.

4) Huy Văn Trương (Bellflower, California):

- Tôi thường viết “dòng sông, dòng dõi, dòng họ” vì tôi dựa theo tự điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn.

- Trong cuốn tự điển này KHÔNG có chữ “giòng” nào hết. Tôi dùng cuốn tự điển này vì tôi thấy nó tạm đủ so với nhiều cuốn khác. Tuy vậy trong đó cũng có nhiều chữ, theo tôi nghĩ vẫn còn trong vòng tranh cãi, như người ta thường viết là “chia sẻ”, thì trong Tự Điển Lê Văn Đức viết là “chia xẻ”...

- Từ trước tới giờ tôi viết “dòng sông” vì theo tự điển nhưng vẫn thấy lấn cấn thế nào đó. Đọc bài viết của anh xong, tôi không còn thấy lấn cấn nữa, mọi thắc mắc đã được giải toả. Đề nghị anh đăng bài này lên nhiều tờ báo để mọi người cùng được đọc.

5) Nguyễn Thị Ngọc Dung, cựu giáo sư Trung Học Võ Tánh, Nha Trang:

- Xin cảm ơn anh đã gửi một câu chuyện thú vị về văn chương, ngôn ngữ Việt Nam, cách viết chữ “giòng” hay “dòng.”

- Ngọc Dung cũng xin mạo muội chen vào, bày tỏ một vài ý kiến riêng, nho nhỏ:

a/ Ngọc Dung cũng quen với chữ “dòng” để chỉ “dòng sông” hay “dòng đời,” và chữ “giòng” để chỉ “giòng dõi”.

b/ Tuy nhiên, theo thiển ý, dù viết “giòng đời” hay “dòng dõi” cũng vẫn được. Điều quan trọng là KHÔNG SAI về ý nghĩa.

(Mich Long sưu tầm - Tác giả Trần Huy Bích)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
Một tờ Giấy khai sinh Đời bắt đầu từ đó Khổ, vui.. rình lấp ló Theo gót ta vào đời. Rồi suốt bao năm trời Miệt mài cùng sách vở Phấn đấu cả một thời Được mảnh bằng, ná thở! Kế, nên chồng nên vợ Một tờ giấy kết hôn Từ đó xác lẫn hồn Trói trăn vào ngục thất. Xuôi dòng đời tất bật Tranh đấu cùng bon chen, Nhọc nhằn biết bao phen Một tờ tiền '' xỏ mũi '' Phải ra lòn, vào cúi Mới được tờ '' thăng quan '' Muốn ngó dọc, nhìn ngang Phải bao lần khúm núm. Bằng khen, ôi hí hửng Danh dự được là bao! Chút hư vinh sóng trào Ai vỗ tay hoài mãi. Tuổi chiều đời bải hoải Đến phòng mạch mới hay. Cầm giấy bịnh trên tay Thở dài, từ nay khổ..
Khoảng cuối tháng 1 /2015 - có một bài thơ "Mai tôi đi " không đề tên tác giả được phổ biến khắp nơi - khiến nhiều người đọc sững sờ, về những lời tác giả sáng tác trong bài thơ, thấy buồn muốn khóc ! Vì tác giả biết trước sự ra đi của mình trong nay mai nên đã sáng tác bài thơ này bằng Tiếng Anh và cũng chính tác giả đã chuyển sang Việt Ngữ, phổ biến trên Facebook . Nay tôi được biết tác giả là: Thái Thúc Hoàng Minh (quay phim) - con ruột của cố đạo diễn Thái Thúc Nha (Alfa Film) trước 1975 - Nay tác giả đã qua đời : Ngày 13 tháng 2 năm 2015-Tại Đà lạt - Tác giả Thái Thúc Hoàng Minh là Cậu ruột của nữ ca sĩ & tài tử Thanh Lan (hiện ở Cali) - Ngoài ra, tôi được biết Thái Thúc Hoàng Minh đã từng sinh sống ở Nam Cali - Không hiểu tại sao lại bỏ Nam Cali về sống ẩn dật tại Đà lạt , khoảng 9 năm trước khi chết.
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Lời Tri ân muộn màng. Đã biết bao mùa cây đổ lá Thầy, cô bè bạn kẻ khuất - còn Phần tư thế kỷ - xa xăm quá Nghĩa thầy, cô vẫn mãi sắt son Ngồi đây mái điểm màu sương muối Chạnh nhớ dáng cô - cánh hạc gầy Lời người chắp cánh, em rong ruỗi Một thuở hoa niên mộng ước đầy. Giờ em xa nửa vòng trái đất Mà ngỡ ngày xưa cậu học trò Hoài bão, ước mơ đầy ngăn cặp Áo, tiền, cơm, gạo chẳng hề lo Chiều nay mây dịu về quanh phố Mỏi cánh chim thu lạc khuất ngàn Vọng hoàng hôn ngát sau ngàn lá Rộn lòng trong tiếng guốc trường tan Thưa lại thầy cô em đi nhé! Trường học trường đời bấy cách xa Gõ nhịp tim em dù rất khẽ Cho chút tin yêu dẫu nhạt nhoà. 20/11/2017 Nhớ về thầy cô, kính gửi thầy cô, thân tặng bạn bè ngày tri ân. Phạm Toàn
Chúng ta cám ơn nhau vì đã luôn tin tưởng, dẫu biết rằng mình không đáng được như thế. Chúng ta cám ơn nhau vì đã làm và nghĩ ra những điều tốt đẹp cho nhau. Chúng ta cám ơn nhau vì đã trao tặng cho nhau nụ cười và lời động viên khích lệ. Chúng ta cám ơn nhau vì đã quan tâm, lắng nghe và thấu hiểu những suy nghĩ của nhau. Chúng ta cám ơn nhau vì những biến cố đã xãy ra cho nhau và cho thế giới để biết giới hạn về con ngươi. Chúng ta cám ơn nhau vì những vấp ngã được chỗi dậy và những giọt nước mắt sâu kín trong lòng để chúng ta cứng cáp hơn và trưởng thành hơn. Chúng ta cám ơn nhau vì những dối gian, lọc lừa, nhỏ nhen, ích kỷ của người khác để giúp nhau tập sống bao dung và tha thứ hơn. Chúng ta cám ơn nhau vì đã cho nhau những lúc được bình an, vui khoẻ trong một năm qua.
"Trăm năm bùn vẫn là bùn Ngẫm ra mới thấy trong bùn có sen Trăm năm sen vẫn là sen Ngẫm ra mới biết sen thơm nhờ bùn" Ao chung hương sẽ thơm chung Bùn nuôi sen lớn ung dung với đời Khiết trinh, trong sáng chói ngời Xin đừng phụ nhé công người nuôi sen "Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá chen bông trắng lại xen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" Ngẫm ra mọi nghĩa tương phùng Nên đừng xem trọng mình bùn hay sen Hương đời có cả bùn, sen Bao phen vinh nhục mới nên một đời Hôm nay ngồi ngắm đất trời Viết nên triết lý cuộc đời vậy thôi
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Bảo Trợ