Nghĩa Trang Xưa

19 Tháng Mười Một 20208:20 SA(Xem: 132)

NGHĨA TRANG XƯA

thuong tiec VNCH
Chốn cũ hồn xưa vắng tịch trường
Đêm tàn le lói bóng trăng sương
Vi vu tiếng gió luồn bia mộ
Eo ốc canh gà gọi ánh dương
Lạnh lẽo khói hương chìm uất hận
Âm thầm sông núi ngấm bi thương
Nghĩa trang quân đội giờ hoang phế
Chốn cũ hồn xưa vắng tịch trường
Viễn Khách
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười Một 2014 (Xem: 1602) Vào khoảng thế kỷ 16-17, một tộc người thường được gọi là Pilgrim ở Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa
Hoa Dã quỳ gắn với một câu chuyện truyền thuyết cảm động về tình yêu đôi lứa. Chuyện kể rằng từ xa xưa có một bộ tộc Lasiêng sinh sống ở vùng Tây nguyên xa xôi. Trong bộ tộc có nàng H’Linh xinh đẹp yêu tha thiết chàng K’Lang, ngày ngày K’Lang vào rừng săn bắn, hái lượm, còn H’Linh ở nhà se sợi dệt tấm chăn kiệu chồng (theo tục lệ của bộ tộc thì con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng), tối về họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng. Cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của họ cứ thế trôi qua và chờ đến ngày trở thành chồng vợ. Nhưng tình yêu giữa hai người lại không được suôn sẻ như mong đợi, bởi trong bộ tộc có chàng LaRihn là con trai của người tộc trưởng cũng ngày đêm thương trộm, nhớ thầm H’Linh, nhưng không được nàng đáp lại. LaRihn rất hờn ghen.
ĐÔNG VỀ Đông đã về rồi em có biết Anh vẫn đây chờ hơi ấm yêu thương Quay lại đi em đứng ngã ba đường Đừng đi xa cho tình thành vạn dặm Đông đã về tim rét căm căm Tuyết rơi nhanh anh ướt cả tấm lòng Em đâu rồi để tình long đong Mà tay nắm bỏ buông tình trở đắng Anh vẫn bước trên con đường vắng Đã quen rồi xa thẳm bóng người thương Vẫn thơ thẩn đếm từng giọt sương Đông đã về bỡ ngỡ nhìn sương rơi Trần Ngọc Vinh 05:24' 07/11/2018
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Hết lòng cảm tạ Ơn Trên, Mỗi ngày được sống bình yên dưới trần Cho dù là kiếp phù vân Tôi như cây cỏ ân cần nở hoa. Tạ ơn Mẹ, Tạ ơn Cha, Đã cho con được sinh ra cõi đời Tạ ơn Thầy, dạy làm người Biết yêu thương, biết nụ cười bao dung. Tạ ơn Hiền Hữu thủy chung, Đồng hành, đồng hướng, lại cùng đồng tâm Tạ ơn Em, Bạn trăm năm, Cho anh Hạnh Phúc, như mâm cỗ đầy! Tạ ơn: Trăng, Nước, Cỏ, Cây, Từng đêm say đắm, từng ngày mộng mơ Tạ ơn cung Nhạc, dòng Thơ Để hồn lãng mạn, thẫn thờ đam mê. Xin tạ ơn mảnh Đất Quê, Sắt son vẫn một lời thề trong tim Cầu mong Vận Nước chuyển mình Tôi về hôn Đất, tạ tình Quê Hương! Trần Quốc Bảo
Mụ Chét tất tả đi về phía Ủy Ban Xã. Hôm nay là ngày mụ được vinh dự mời lên để nhận quà. Món quà mà chỉ có gia đình liệt sĩ mới nhận được. Mấy tháng trước làng bị lụt nặng. Những cơn mưa dầm liên tiếp cả tuần, gió rít từng cơn khiến trời lạnh cóng hơn nhiều hơn năm trước. Nước từ con sông dâng lên mỗi lúc một cao. Nhà mụ chồng ghế, chồng bàn lên giường để tránh lụt. Cuối cùng mụ được đưa lên ngồi lên khu đĩ nhà, lụt mới từ từ rút lui. Nước rút, căn nhà như ruộng mới bừa xong, dơ nhớp không chịu được. Mọi thứ đều hư hại. Lúa không có bao nhiêu lại bị ngâm nước lên mộng hết phân nửa. Sắn trong nương bới không kịp cũng bị hư hết một mớ. Nhà đã nghèo lại bị tai trời, rau ngoài vườn thúi cả, gạo ẩm độn với sắn đã chạy chỉ vàng khè, cơm ăn vào nó cứ say say thế nào.
NHỚ QUÊ Lâu quá con không về quê thăm mẹ Còn nhớ nhiều bữa bên bụi tre Chiều chiều mẹ ra đứng chờ đón Con học về mỗi khi trời mưa Con nhớ lắm đám ruộng nước ngập xưa Mẹ còng xuống cây sâu từng bụi lúa Lúa reo lên cùng gió nhảy múa Con lớn lên trang sách trắng học trò Con nhớ lắm bao ngày mẹ tay mò Tìm con cua con cá sống đói no Con nhớ lắm ánh mắt mẹ nỗi lo Con trở bệnh miệng ho khan từng tiếng Con bỏ xứ đi xa gom vốn liếng Bao năm rồi vẫn còn số không Mẹ ơi mẹ! Trời đã vào Đông Ai sưởi ấm trái tim mẹ lạnh giá? Trần Ngọc Vinh 08/11/2018
Trên cánh đồng Flanders Giữa những hàng hàng bia mộ Hoa poppies nở Dập dờn Đánh dấu nơi chúng tôi yên nghỉ Trên trời Những con sơn ca vẫn can đảm hót Tiếng hót chợt vang lên đôi lúc Giữa tiếng đại pháo rền dưới kia Chúng tôi là những người vừa mới chết chỉ mấy ngày trước đây Nhưng chúng tôi vẫn sống để cảm nhận bình minh Thấy được ánh hoàng hôn Yêu và được thương yêu Và giờ đây Chúng tôi nằm yên nghỉ Trên những cánh đồng Flanders Hãy tiếp nhận cuộc chiến đấu của chúng tôi chống kẻ thù Từ những bàn tay buông xuôi Chúng tôi trao lại bó đuốc Để các bạn giương cao Ôi, nếu vì lẽ gì bạn quên lời thề, đập vỡ niềm tin Với chúng tôi những người đã chết Chúng tôi sẽ không bao giờ nhắm mắt Dẫu hoa poppies vẫn nở dập dờn Trên những cánh đồng Flanders John McCrae
Bầu Cử 2020 USA 1/ Cá Cược Bầu Cử Thế sự thăng trầm chơi cá cược Quốc gia vận mệnh cũng như đùa Hầu bao mặc cả hồn non nước Dám hỏi chi bằng chuyện được thua ? Thái Huy Long 2/ Thu 2020 Từng bước chân lạnh âm thầm Cuối thu trở gió lâm râm bồi hồi Hương xưa kỷ niệm lở bồi Quê hương dấu ấn chẳng thôi tìm về Nửa đêm chợt tỉnh cơn mê Nơi này tôi vẫn bên lề cuộc chơi Chập chờn thế sự ma trơi Cho tôi được phút ru hời à ơi Thái Huy Long
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Bảo Trợ