Biển Việt ơi căng buồm gió lộng

10 Tháng Chín 20208:04 SA(Xem: 99)

Biển Việt ơi căng buồm gió lộng

 

Biển lung linh biển tình biển nhớ.

vietnam - quehuongBiển vỗ về biển chở mối thương yêu.

Biển hiu hiu sóng nhẹ gió muôn chiều.

Cho liễu rủ bóng dừa nghiêng xõa tóc.

 

Biển thông lộ cho đoàn con vượt thoát.

Đường Tự Do rộng mở cuối chân trời.

Nắng cao lên lồng lộng gió căng hơi.

Vững tay lái ta xa rời cõi chết.

 

 

Biển Mẹ đó bắt nguồn từ Móng Cái

Chảy về Nam xuôi đến Bến Vân Đồn.

Cửa Ông ơi ta nhớ những người thương.

Than Cẩm Phả sắc đen màu quê mẹ.

 

Hạ Long Vịnh nước trong xanh như ngọc.

Rồng ở đây nằm ngủ rất yên bình.

Cánh buồm nâu tất tả cuộc mưu sinh.

Sao thương quá những cuộc đời trôi nổi.

 

Hải Phòng hỡi làm sao ta quên được?

Mùi cá thu ươm khói Đảo Cát Bà.

Nhớ tôm he, nhớ con sứa mặn mà.

Bạch Long Vĩ Đảo xa xa mờ hiện.

 

Biển mẹ rộng xuối xuống miền Tiền Hải.

Cho đàn con thêm cuộc sống no lành.

Sầm Sơn ơi bờ biển đẹp như tranh.

Bao truyện đẹp tô bồi trang lịch sử.

 

Biển Thanh-Nghệ sao quá nhiều giông tố?

Bạch đàn gầy chẳng ngăn nổi phong ba.

Mái tranh nghèo mẹ mới cất hôm qua.

Nay tan tác theo từng cơn bão thổi.

 

Nước mắm Nghệ cất lên từ biển tối.

Ta cảm ơn những con cá ngoan hiền.

Người ở đây chân cứng tựa Trường Sơn,

Xin cảm phục những con người cần khổ.

 

Cửa Nhật Lệ tích xưa giờ còn đó.

Đường xuôi nam Chúa Nguyễn mở cơ đồ.

Qua Thuận An lại nhớ cố đô xưa.

Thương xứ Huế Mậu Thân mùa tang tóc.

 

Vững tay lái thuyền xuôi về Đà Nẵng.

Theo dòng khơi thuơng Bán Đảo Sơn Trà.

Người yêu ơi giờ anh ở rất xa.

Nhưng vẫn nhớ những ngày ta hò hẹn.

 

Hoàng Sa đó chim âu buồn soải cánh.

Nhìn đoàn thuyền hối hả bỏ ra đi.

Đảo san hô con sóng thở rầm rì.

Như thương cảm nỗi đau người vượt biển.

 

Những hang động Đảo Lý Sơn thật đẹp.

Tên của em trên vách đá năm nào.

Theo tháng năm tình đâu có lạt phai.

Thương em quá những ngày mùa biển động.

 

Rời Quảng Ngãi thương Xa Huỳnh nghèo lắm.

Việt Cộng về tan tác cả tình quê.

Nhìn sao khuya ta cố ngoái trông về.

Thương dáng mẹ hao gầy từ Cổ Lũy.

 

Thuyền xuôi chảy theo lòng người háo hức.

Kìa Quy Nhơn trông mát rượi xanh mềm.

Dừa Tam Quan ngọt như sữa mẹ hiền.

Sao Bình Định cứ triền miên đói khổ?

 

Qua Nha Trang nghe tiếng đời đổ vỡ.

Sóng biển tình đồng vọng khúc bi ai.

Trời Vũng Rô chim yến cũng thở dài.

Màu cờ đỏ phủ đen miền cát trắng.

 

Cam Ranh đó nắng biển chiều lấp lánh.

Rạch Ba Ngòi buổi chợ cá tôm ươn.

Qua Phan Rang còn nhớ mãi người thương.

Phan Rí Cửa dáng buồn như nỗi chết!

 

 

Vào Phú Quí thấy ai buồn tha thiết.

Việt Cộng về đàn cá cũng phân ly.

Thuyền câu nằm thương tiếc mãi người đi.

Hợp tác xã phá tan đời ngư phủ.

 

Trăng cổ độ sáng soi vùng Mũi Né.

Muối ở đây như một giải Ngân Hà.

Giàn mực nằm quặn đỏ lớp phên tre.

Bên lớp cá khô ngon mùi nước biển.

 

Bà Rịa đó ta lấy làm điểm hẹn.

Chờ đoàn người hối hả bỏ ra khơi.

Trăng vào mây nương những lúc tối trời.

Đoàn ghe vội tiến nhanh ra ngoài Cửa.

 

Đêm Vũng Tàu hải đăng đèn sáng tỏ.

Hướng đoàn người vượt tới Đảo Côn Sơn.

Đồng ca lên khúc hát buổi ly hương.

Nghe lịch sử quặn đau từng khúc ruột.

 

Biển Thạnh Phú tối đen như địa ngục.

Rừng chà là nín thở sợ công an.

Người vợ ngồi từng giờ phút dõi trông.

Chồng con được bình an ra cửa biển.

 

Qua Bình Đại thương con sò huyết ngọt.

Mẻ tôm khô phơi nắng tỏ yên bình.

Đàn le le còn ở đó không em?

Hay tan tác tìm phương nào chạy trốn?

 

Sông Cửa Tiểu nghe tiếng người rên xiết.

Mắt đục ngầu như từng lớp phù sa.

Cửa Hàm Luông giờ như bãi tha ma.

Chỉ có đám lục bình trôi ra biển.

 

Mũi Cà Mau nghe rừng tràm réo gọi.

Xác vượt biên theo sóng nổi lênh đênh.

Hồn ma vương nơi bến bãi đầu ghềnh.

Sao vẫn cứ lao mình ra cửa biển?

 

Ngoảnh mặt lại Kiên Giang thôi vĩnh biệt!

Việt Cộng về cả nuớc phải thi đua.

Đầu tôm xưa vứt bỏ chẳng ai mua.

Nay cũng phải tranh nhau từng vốc nhỏ.

 

Qua Phú Quốc nghe hồn tan nát vỡ.

Bầy cá mai cũng đã bỏ đi rồi.

Nước mắm ơi nước mắm cũng đổi đời!

Nghe từng bước quặn đau tình cố lý.

 

Đào Văn Bình

(Trích Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển xb năm 2002)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Em đi qua mùa hạ- Lượm gió thu se hồn- Anh ngồi nhìn chiếc lá- Lòng những luống cô đơn - Lá vàng đưa vọng tiếng- Hồi chuông bên nhà thờ- Ru hồn anh trống vắng- Đầy những lời kinh thơ / post 07 Tháng Mười 2013 (Xem: 2297) Sa Mạc Hồng /
1. Lương tâm . Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm? 2. Xứ lạ quê người . Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm. Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ”Suốt ngày tích- cực lao-ôộng, làm thêm "over time", đâu rảnh để chơi internet!" 3. Chung Riêng. Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên… Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung t
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Lá khởi vàng em nhỉ Từ độ người đi thương nhớ âm thầm Chiều vào thu nghe lời ru gió Nắng vàng lơ lửng ngoài hiên Mắt nai đen mùa thu Hà Nội Nghe lòng ấm lại tuổi phong sương May mà có em cho đường phố vui
Khi đường đời nhiều gian nan, trắc trở.. Cả thế gian dường ngoảnh măt, quay lưng.. Thì Cha Mẹ.. bóng mát hoài che chở Đôi vòng tay độ lượng tới vô cùng.. - Nắng có lúc cũng phai ngày thu đến Mưa bao lần chưa thắm vội vàng đi Người yêu dấu.. cũng theo thuyền sang bến.. Tình Mẹ Cha vẫn thế.. dẫu chia ly.
Tác giả: Phạm Lưu Vũ Tiết tháng bảy gió âm lạnh buốt Nỗi buồn dâng nghẹn khúc sông Hồng Thương thay một dải non bồng Bên ngoài giặc cướp, bên trong quan trường Vốn đường đường con nhà khuôn phép Bỗng chốc thành vạn kiếp dân oan Lê la xó chợ đường quan Già thương nỗi trẻ, trẻ than nỗi già Bãi tha ma bóng chiều hiu hắt Chốn công đường lạnh ngắt lương tri Đoàn người từ buổi ra đi Màn trời, chiếu đất biết khi nào về Người yêu nước không hề có tội Cửa lao tù nghẹn nỗi chia phôi Chỉ vì thương xót giống nòi Nỗi oan mờ cả mặt trời, mặt trăng Kìa những kẻ tham tàn xảo quyệt Rước quỷ về hủy diệt sơn khê Ngoài khơi giặc cướp bốn bề Gần bờ biển chết, mất nghề ông cha Dặm đường xa phí chồng lên phí Có đâu ngờ chướng khí còn dai Áo vàng lấp ló bụi gai Dùi cui nó trỏ, biên lai nó cầm Những linh hồn chọn nhầm kiếp sống Mới lọt lòng đã cõng nợ công Thác sinh vào chốn gai chông Hành không thành đạo,
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Nhà Mẹ con ở nửa đời Mẹ chưa phiền trách một lời dở, hay Nhà con Mẹ ở ba ngày Thấy, nghe, đủ việc đắng cay tình người Nhà Mẹ con được phép lười Nhà con Mẹ phải làm người siêng năng Nhà Mẹ con thỏa thích ăn Nhà con Mẹ phải uống ăn đúng giờ Nhà Mẹ con mặc sạch dơ Nhà con Mẹ dọn tay quờ quạng tay Nhà Mẹ con không ngại nói sai Nhà con Mẹ nói phải lọt tai láng giềng Nhà Mẹ con dữ, con hiền Nhà con Mẹ phải nể kiêng từng người Nhà Mẹ thỏa thích con cười Nhà con Mẹ phải làm người nghiêm trang Nhà Mẹ con bước dọc ngang Nhà con Mẹ phải đàng hoàng đứng, đi Nhà Mẹ mua sắm con thi (đua) Nhà con Mẹ dám thích gì con ơi Ngẩm suy hai chữ tình đời Thăm con ba bữa chơi vơi lững lờ Nhà Mẹ giàu có con nhờ Nhà con nhiều của Mẹ mơ cũng thừa ... (TVH)
Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về? Không chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?” Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.
Phòng phi cơ lúc ấy gần như hoàn toàn yên tĩnh. Mọi người như đã đắm mình trong một giấc ngủ êm đềm. Một vài tiếng cựa mình của hành khách. Mấy tiếng mút tay chùn chụt đều đều của vài chú bé. Tiếng nhac vẫn nhẹ nhẹ loãng ra. Tất cả đều nương nhẹ, như không muốn làm tan mất làn không khí tĩnh mịch./post 20 Tháng Giêng 2013(Xem: 1690) Huyền Nga - TỦ SÁCH TUỔI HOA /
Bảo Trợ