Đèn Trung Thu

10 Tháng Chín 201911:32 SA(Xem: 352)

Đèn Trung Thu

tet trungthuTiểu Tử
 

Sàigòn đang vào Tết Trung Thu. Sàigòn, bấy giờ đã được đổi tên. Cũng đúng thôi ! Bởi vì “nó” không còn giống cái “Sàigòn” của thời trước, cái thuở mà mỗi món vật mỗi con người đều được nhận diện một cách trung thực, cái thuở mà tiếng nói chưa bị thâm nhập bởi những “mỹ từ… dao to búa lớn”, cái thuở mà tình cảm còn thật là tràn đầy… Cái tên mới của Sàigòn có hơi… dài, nên sau này, người ta chỉ còn gọi là “thành phố”, vừa ngắn gọn lại vừa hợp… thời trang !

Sàigòn bình thường đã rộn rịp. Vào dịp Tết Trung Thu lại còn rộn rịp gấp bội. Xe cộ – đông nhứt là xe mô-tô, loại sau này được gọi chung là Honda – chạy đầy đường, chạy loạn, tiếng máy nổ điếc tai thêm bóp kèn liên hồi inh ỏi. Quán lều cũng đầy đường. Hàng họ chưng bày cũng đầy đường. Bánh mứt đèn lồng Trung Thu cũng đầy đường. Coi thật là phồn vinh sung túc.

Trong rừng xe cộ đó, có một người đàn ông cởi xe đạp chở ba đứa nhỏ. Nhìn anh ta là thấy ngay rằng anh ta không “hợp thời”. Anh ta còn đội nón Panama, một loại nón mà thời trước người ta nhập cảng từ Nam Mỹ. Mặc dù cái nón – vốn là màu trắng – đã ngã màu vàng và vành nón có nhiều chỗ rách tưa…, cái nón đó vẫn thấy lạc lõng giữa phố phường đầy nón cối, mũ tai bèo, nón lá, nón rơm, nón kết. Anh ta còn mặc áo sơ-mi sọc, cổ đứng tay dài, mặc dù sơ-mi bỏ ngoài quần và mang đầy nếp nhăn vì đã không được ủi. Anh còn mặc quần tây dài màu sậm còn đủ bờ-li và nhứt là còn mang đôi giày da đen mũi nhọn – loại “xịn” – mặc dù giày đen đã ngã màu xam xám vì đầy bụi đất.

Trong lúc mọi người ăn mặc rất tự do, rất… giải phóng, đại loại như áo thun ba lỗ quần đùi dép cao su, hoặc sơ-mi ngắn tay phạch ngực quần pi-da-ma chim cò dép nhựt hoặc những bộ đồ màu xanh cỏ úa rộng thùng thình dép lớp xe… thì lối ăn mặc của anh ta – thật tình – không đúng “tác phong của thời đại” ! Ngay như chiếc xe đạp của anh ta cũng không hạp với rừng xe cộ chung quanh. Nó ọp ẹp cũ kỹ, giống như đã được lắp ráp chắp vá bằng những món đồ góp nhặt được từ những chiếc xe đạp phế thải. Cái giỏ sắt gắn ở phía trước ghi-đong (thường dùng như pọt-ba-ga) đã được cắt xén để trở thành cái ghế ngồi cho thằng bé, đứa nhỏ nhứt trong ba đứa. Còn cái pọt-ba-ga phía sau thì được nối dài ra một chút, mặt được lót ván và phía dưới có hàn hai thanh sắt ngắn để gác chân. Hai đứa nhỏ còn lại ngồi trên đó, đứa lớn ôm đứa bé, đứa bé – vì còn nhỏ quá không ôm được eo ếch của gã đàn ông – nắm chặt lấy vạt áo sơ-mi, nắm bằng cả hai tay…

Trong luồng xe cộ chạy như điên, hối hả, lòn lách… người đàn ông thản nhiên đạp chậm rãi vững chắc dọc theo hè phố. Mấy đứa nhỏ nhìn ngang nhìn dọc, tranh nhau hỏi, tranh nhau nói, líu lo:

– Ba ! Ba ! Coi kìa ! Đèn Trung Thu ở đâu mà nhiều quá hén ba.

– Ba ! Ba ! Cái gì mà bự quá xá đàng kia vậy ?

– Tại sao ông già ổng ôm cột đèn vậy ?

– Sao ông xích-“dô” ổng nằm ngủ trên xe vậy ?

– Bộ ở đây người ta đái ở gốc cây được hả ba ?

– Cha… Ông này ổng mua tới bốn cái đèn Trung Thu.

– Mình cũng đi mua đèn nữa, hén ba ?

Đứa nhỏ ngồi ở giữa, giọng khàu khàu:

– Anh Việt nói chừng ảnh “dớn” ảnh mua cho con cái đèn máy bay bự bằng cái nhà ớ !

Đứa lớn ngồi phía sau cười hắc hắc, ôm em nó lắc qua lắc lại:

– Ừa ! Mà Nhi phải đừng nói ngọng mới được. “Lớn” thì nói “lớn”, chớ cái gì mà “dớn” hả ?

Đứa nhỏ nhứt ngồi trong giỏ phía trước, nói chen vào, cũng ngọng trớt :

– Anh Nhi ảnh nói “nhọng” “vá” hà. Há ba ?

Làm cả bọn cười vang. Tiếng cười của cha con nhà đó hồn nhiên, thanh thoát, bị chìm lấp trong dòng thác tiếng động điếc tai, vừa ô-hợp, vừa khô khan của phố phường đầy người, đầy xe, đầy bụi…

Đến một gốc đường khá thoáng, nghĩa là vỉa hè còn có chỗ trống, thấy có một xe đẩy treo đầy đèn Trung Thu đủ kiểu đủ cỡ và đủ màu sắc đang nằm gần đó, người đàn ông rà xe đạp vào lề:

– Tụi con coi kìa, đèn Trung Thu kìa ! Để ba ngừng đây cho tụi con xuống lựa nghen !

Mấy đứa nhỏ “ồ” lên sung sướng. Đứa bé nhứt bỗng vỗ tay cười hắc hắc giống như bị cù léc. Nó la lớn:

– Đèn ! Đèn ! Đèn ! Đèn !

Thả bầy con xuống xong, người cha bảo:

– Tụi con lại đó coi đi ! Lựa đi ! Ba ngồi đây đợi.

Trong lúc mấy đứa nhỏ vây quanh xe bán đèn lồng, người đàn ông chống chân lên bờ hè, rút ở túi áo sơ-mi một điếu thuốc . Đó là loại thuốc vấn tay (sau cuộc “đổi đời”, vì không còn tiền để hút thuốc loại sản xuất kỹ nghệ nên phần đông dân “ghiền” mua thuốc rê Gò Vấp về trộn với thuốc vàng Lạng Sơn rồi vấn hút. Nhiều người vấn sẵn ở nhà rồi cho vào bao hay hộp mang theo mình cho tiện khi cần đi đâu…). Cầm hộp quẹt máy trong tay lắc lắc cho xăng thấm lên đầu tim, người cha đó hướng về bầy con nói to, khá to, để át tiếng ồn man dại của thành phố:

– Tụi con lựa đi nghen ! Lựa đi ! Thứ nào cũng được hết ! Máy bay, xe tăng, bươm bướm gì cũng được hết ! Đứa nào thích thứ nào thì nói cho ba biết. Lát nữa về nhà, ba làm cho y như vậy hà !

Nói xong, anh ta để điếu thuốc lên môi, chẹt hộp quẹt đốt . Bập vài cái cho lửa bắt rồi hít một hơi thật sâu để thở khói ra dài, thật dài… Làm như anh ta muốn trút ra theo khói một cái gì đang nghẹn trong lòng ngực. Chung quanh, người ta, xe cộ đi như loạn.

Tiểu Tử

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày nay khi tôi rong ruổi đến bất cứ nơi nào trên mảnh đất Việt này, mọi người đều cần có nước khoáng, nước đóng chai, nước đun sôi để uống, liệu còn dòng sông nào được tinh khiết như dòng sông tuổi thơ quê hương? Những mái nhà tranh đơn sơ, cánh đồng nhuộm màu vàng óng, những chú trâu chầm chậm về chuồng dưới ánh hoàng hôn đỏ rực, dòng sông phẳng lặng như tờ khoác lên mình chiếc áo trắng thanh tao của chị Hằng… Dòng sông quê tôi ngày xưa ấy, nó đã từng mang lại những niềm vui, khát vọng, bí ẩn chen lẫn những nỗi buồn, nó vẫn không ngừng chảy, một mạch đằng đẵng đến tận chân trời.
Vương Long là con nhà nông, cả đời sống trong làng sát thành phố Nam Kinh. Hàng ngày anh đi bán rau cải ở chợ nên anh cũng được mở mang. Cho nên anh là người đầu tiên trong làng hay tin hoàng đế thoái vị. Biến cố này không hề xảy ra trước đó một năm. Chàng Vương liền báo tin cho cha anh và cha anh học lại chú anh làm biện trong làng, thế rồi những ai đến nhà viết thơ đều hay tin này. Trong thời gian ngắn, ai cũng biết tin nhà vua thoái vị. Trong ít nhất là ba ngày, dân làng chỉ nói thì thầm. Người ta buồn rầu, lo ngại sẽ có tai biến xảy ra. Cố nhiên là trong làng, không có ai trông thấy nhà vua. Nhưng ai cũng xem nhà vua là một sức mạnh muôn đời. Thiên Tử là người sắp đặt mọi việc với các thần thánh trên trời. Tóm lại, người ta có thể giao tất cả tài sản quốc gia và những tội lỗi nho nhỏ vào tay Thánh thượng trong khi họ lo công việc riêng nhờ bán hàng bông vào mùa xuân, bán vịt vào mùa thu. <Post 18 Tháng Tư 2019 (Xem: 870)>
Nửa khuya thức giấc thường hay trằn trọc Nhìn em vào mộng ngà ngọc an bình Khẻ tắt đèn nằm lại chỉ làm thinh Rồi vương vấn những ý tình ngã nghiệt Nếu sáng dậy thình lình ta đã chết Dấu tình thương đã dành hết cho nàng Còn mơ hồ nàng tự hỏi băn khoăn Rồi quên lãng trong chiều hoang nhạt nắng ?!
Không biết tự bao giờ mà người dân ở thành phố có cái kiểu buôn bán, làm việc với “tiếng rao”. Tiếng rao được coi là loại “đặc sản” của thành phố. Trước đây ở Sài Gòn chỉ nghe tiếng rao về đêm, nhưng dạo này tiếng rao lanh lảnh đã bắt đầu từ tờ mờ sáng – không chỉ để bán những thức ăn nhanh, tiện lợi, mà còn để bán cá, thịt, rau củ quả… và cả những dụng cụ: chổi lau bụi, lau nhà, chiếu, chăn… Trước đây, giữa đêm khuya tiếng rao của những người phụ nữ nghe buồn đến não lòng. Bao nhiêu con đường, ngõ hẻm đều in những dấu chân nhọc nhằn của họ. Tiếng rao, lúc trầm bổng khi lắng dịu của những người mẹ, người chị tần tảo kiếm miếng cơm manh áo. “Bánh mì nóng giòn đê”,
Cụ Phan Chu Trinh đã chỉ ra 10 điều bi ai của Dân Tộc như sau:...Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
Con sẽ không đợi một ngày kia - có người cài cho con lên áo một bông hồng - mới thảng thốt nhận ra mình mất mẹ - mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng- hoa đẹp đấy - cớ sao lòng hoảng sợ ?- Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ - Sống tự do như một cánh chim bằng' 10 Tháng Tám 2012 (Xem: 5818)
Maria cảm thấy vui trong lòng với cuộc đời mới, chẳng phải niềm vui như bao cô gái xuân thì khác, khi đến tuổi lấy chồng tạo dựng được một gia đình riêng cho mình. Nàng vui vì từ đây ý định thực sự dâng mình cho Thiên Chúa đã trọn vẹn. Nàng cũng cảm thấy vui vì người chồng của nàng, Giuse cũng đã có cùng ước nguyện. . Post 21 Tháng Mười Hai 2012 CH(Xem: 4528)
TIẾNG CHUÔNG CHIỀU Vẳng tiếng chuông ngân buổi chiều tà Buồn lòng lữ khách nẻo đường xa Xa quê lưu lạc nơi viễn xứ Sống cảnh tha phương thấy nhớ nhà Nỗi khổ cõi lòng rời bỏ nước , Đắng cay trong dạ lánh quê cha ! Cùng nhau chung sức lo phục quốc Giải phóng quê hương cứu nước ta Nguyễn Bá Tứ
28 Tháng Sáu 2012 (Xem: 2070) Phạm Cao Dương - VanchuongViet “Từ Lĩnh Nam Chích Quái Đến Các Tài Liệu Bị Quân Minh Tịch Thu Đem Về Tàu”...năm 2004 khác với năm 2012. Năm 2004 hiểm họa xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2011 và bây giờ là năm 2012.
vì hai bài thơ “ Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí”, Phùng Quán đang trên lưng voi của đảng bèn ngã xuống hàng chó đẻ của địch, kẻ phản động chống đảng bẩn thỉu khả ố nhất, xấu xa ghê tởm nhất… Xin in lại hai bài thơ này : Lời mẹ dặn Tôi mồ côi cha năm hai tuổi Mẹ tôi thương con không lấy chồng Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải Nuôi tôi đến ngày lớn khôn. Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ Ngày ấy tôi mới lên năm Có lần tôi nói dối mẹ Hôm sau tưởng phải ăn đòn. Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Bảo Trợ