Đèn Trung Thu

10 Tháng Chín 201911:32 SA(Xem: 344)

Đèn Trung Thu

tet trungthuTiểu Tử
 

Sàigòn đang vào Tết Trung Thu. Sàigòn, bấy giờ đã được đổi tên. Cũng đúng thôi ! Bởi vì “nó” không còn giống cái “Sàigòn” của thời trước, cái thuở mà mỗi món vật mỗi con người đều được nhận diện một cách trung thực, cái thuở mà tiếng nói chưa bị thâm nhập bởi những “mỹ từ… dao to búa lớn”, cái thuở mà tình cảm còn thật là tràn đầy… Cái tên mới của Sàigòn có hơi… dài, nên sau này, người ta chỉ còn gọi là “thành phố”, vừa ngắn gọn lại vừa hợp… thời trang !

Sàigòn bình thường đã rộn rịp. Vào dịp Tết Trung Thu lại còn rộn rịp gấp bội. Xe cộ – đông nhứt là xe mô-tô, loại sau này được gọi chung là Honda – chạy đầy đường, chạy loạn, tiếng máy nổ điếc tai thêm bóp kèn liên hồi inh ỏi. Quán lều cũng đầy đường. Hàng họ chưng bày cũng đầy đường. Bánh mứt đèn lồng Trung Thu cũng đầy đường. Coi thật là phồn vinh sung túc.

Trong rừng xe cộ đó, có một người đàn ông cởi xe đạp chở ba đứa nhỏ. Nhìn anh ta là thấy ngay rằng anh ta không “hợp thời”. Anh ta còn đội nón Panama, một loại nón mà thời trước người ta nhập cảng từ Nam Mỹ. Mặc dù cái nón – vốn là màu trắng – đã ngã màu vàng và vành nón có nhiều chỗ rách tưa…, cái nón đó vẫn thấy lạc lõng giữa phố phường đầy nón cối, mũ tai bèo, nón lá, nón rơm, nón kết. Anh ta còn mặc áo sơ-mi sọc, cổ đứng tay dài, mặc dù sơ-mi bỏ ngoài quần và mang đầy nếp nhăn vì đã không được ủi. Anh còn mặc quần tây dài màu sậm còn đủ bờ-li và nhứt là còn mang đôi giày da đen mũi nhọn – loại “xịn” – mặc dù giày đen đã ngã màu xam xám vì đầy bụi đất.

Trong lúc mọi người ăn mặc rất tự do, rất… giải phóng, đại loại như áo thun ba lỗ quần đùi dép cao su, hoặc sơ-mi ngắn tay phạch ngực quần pi-da-ma chim cò dép nhựt hoặc những bộ đồ màu xanh cỏ úa rộng thùng thình dép lớp xe… thì lối ăn mặc của anh ta – thật tình – không đúng “tác phong của thời đại” ! Ngay như chiếc xe đạp của anh ta cũng không hạp với rừng xe cộ chung quanh. Nó ọp ẹp cũ kỹ, giống như đã được lắp ráp chắp vá bằng những món đồ góp nhặt được từ những chiếc xe đạp phế thải. Cái giỏ sắt gắn ở phía trước ghi-đong (thường dùng như pọt-ba-ga) đã được cắt xén để trở thành cái ghế ngồi cho thằng bé, đứa nhỏ nhứt trong ba đứa. Còn cái pọt-ba-ga phía sau thì được nối dài ra một chút, mặt được lót ván và phía dưới có hàn hai thanh sắt ngắn để gác chân. Hai đứa nhỏ còn lại ngồi trên đó, đứa lớn ôm đứa bé, đứa bé – vì còn nhỏ quá không ôm được eo ếch của gã đàn ông – nắm chặt lấy vạt áo sơ-mi, nắm bằng cả hai tay…

Trong luồng xe cộ chạy như điên, hối hả, lòn lách… người đàn ông thản nhiên đạp chậm rãi vững chắc dọc theo hè phố. Mấy đứa nhỏ nhìn ngang nhìn dọc, tranh nhau hỏi, tranh nhau nói, líu lo:

– Ba ! Ba ! Coi kìa ! Đèn Trung Thu ở đâu mà nhiều quá hén ba.

– Ba ! Ba ! Cái gì mà bự quá xá đàng kia vậy ?

– Tại sao ông già ổng ôm cột đèn vậy ?

– Sao ông xích-“dô” ổng nằm ngủ trên xe vậy ?

– Bộ ở đây người ta đái ở gốc cây được hả ba ?

– Cha… Ông này ổng mua tới bốn cái đèn Trung Thu.

– Mình cũng đi mua đèn nữa, hén ba ?

Đứa nhỏ ngồi ở giữa, giọng khàu khàu:

– Anh Việt nói chừng ảnh “dớn” ảnh mua cho con cái đèn máy bay bự bằng cái nhà ớ !

Đứa lớn ngồi phía sau cười hắc hắc, ôm em nó lắc qua lắc lại:

– Ừa ! Mà Nhi phải đừng nói ngọng mới được. “Lớn” thì nói “lớn”, chớ cái gì mà “dớn” hả ?

Đứa nhỏ nhứt ngồi trong giỏ phía trước, nói chen vào, cũng ngọng trớt :

– Anh Nhi ảnh nói “nhọng” “vá” hà. Há ba ?

Làm cả bọn cười vang. Tiếng cười của cha con nhà đó hồn nhiên, thanh thoát, bị chìm lấp trong dòng thác tiếng động điếc tai, vừa ô-hợp, vừa khô khan của phố phường đầy người, đầy xe, đầy bụi…

Đến một gốc đường khá thoáng, nghĩa là vỉa hè còn có chỗ trống, thấy có một xe đẩy treo đầy đèn Trung Thu đủ kiểu đủ cỡ và đủ màu sắc đang nằm gần đó, người đàn ông rà xe đạp vào lề:

– Tụi con coi kìa, đèn Trung Thu kìa ! Để ba ngừng đây cho tụi con xuống lựa nghen !

Mấy đứa nhỏ “ồ” lên sung sướng. Đứa bé nhứt bỗng vỗ tay cười hắc hắc giống như bị cù léc. Nó la lớn:

– Đèn ! Đèn ! Đèn ! Đèn !

Thả bầy con xuống xong, người cha bảo:

– Tụi con lại đó coi đi ! Lựa đi ! Ba ngồi đây đợi.

Trong lúc mấy đứa nhỏ vây quanh xe bán đèn lồng, người đàn ông chống chân lên bờ hè, rút ở túi áo sơ-mi một điếu thuốc . Đó là loại thuốc vấn tay (sau cuộc “đổi đời”, vì không còn tiền để hút thuốc loại sản xuất kỹ nghệ nên phần đông dân “ghiền” mua thuốc rê Gò Vấp về trộn với thuốc vàng Lạng Sơn rồi vấn hút. Nhiều người vấn sẵn ở nhà rồi cho vào bao hay hộp mang theo mình cho tiện khi cần đi đâu…). Cầm hộp quẹt máy trong tay lắc lắc cho xăng thấm lên đầu tim, người cha đó hướng về bầy con nói to, khá to, để át tiếng ồn man dại của thành phố:

– Tụi con lựa đi nghen ! Lựa đi ! Thứ nào cũng được hết ! Máy bay, xe tăng, bươm bướm gì cũng được hết ! Đứa nào thích thứ nào thì nói cho ba biết. Lát nữa về nhà, ba làm cho y như vậy hà !

Nói xong, anh ta để điếu thuốc lên môi, chẹt hộp quẹt đốt . Bập vài cái cho lửa bắt rồi hít một hơi thật sâu để thở khói ra dài, thật dài… Làm như anh ta muốn trút ra theo khói một cái gì đang nghẹn trong lòng ngực. Chung quanh, người ta, xe cộ đi như loạn.

Tiểu Tử

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Sử sách Việt Nam, dù mới dù cũ, đều dành phần trang trọng nói về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê, Việt Nam Sử Lược -Trần Trọng Kim /post 14 Tháng Mười 2012 (Xem: 3659)/
Mối tình đầu (Premier amour) là một trong những tác phẩm quan trọng đầu tiên của Samuel Beckett. Ông khởi sự viết truyện ngắn này, có thể nói là truyện thật ngắn đầu tiên, năm 1945, nhưng có nhiều tư liệu – như của nhà Grove Press ở New York chẳng hạn, là nơi hầu như toàn bộ tác phẩm của Beckett đã được xuất bản – ghi là 1946. /post 28 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3828) Samuel Beckett - Bản dịch Hoàng Ngọc Biên - vietmessenger /
Lỡ Một Mai... Nửa khuya thức giấc thường hay trằn trọc Nhìn em vào mộng ngà ngọc an bình Khẻ tắt đèn nằm lại chỉ làm thinh Rồi vương vấn những ý tình ngã nghiệt Nếu sáng dậy thình lình ta đã chết Dấu tình thương đã dành hết cho nàng Còn mơ hồ nàng tự hỏi băn khoăn Rồi quên lãng trong chiều hoang nhạt nắng ?! Nếu ta đi để lại nhà lạnh vắng Chắc chi rằng tâm sâu lắng tình yêu Đã thể hiện bằng săn sóc sáng chiều Đủ cho kẻ sẽ cần nhiều bảo bọc Nếu mai lỡ đường đời ta đã trọn Quả phụ ngồi bóng trải ngọn đèn đêm Khi u hoài tuyết giá siết bậc thềm Có nhớ lại những ấm êm đôi lứa ? Nếu mai ấy người thân không còn nữa Nói lời yêu bị cách trở âm dương…. Thôi từ nay... chỉ có một con đường Là bộc lộ tình thương ngày còn sống Thái Huy Long
Mẹ tôi yêu hoa thiên lý như yêu chồng con. Chả biết mầu xanh dìu dịu của lá vả hương thơm nhẹ nhàng của hoa thiết tha là bao mà mẹ tôi âu yếm nó thế. Thường thường mẹ tôi trồng từng khóm. Mẹ bắc khum khum một cái giàn. Chiều chiều mẹ xách nước tưới vào gốc cho cây chóng lớn./POST 26 Tháng Sáu 20122(Xem: 4566) Duyên Anh - Vantuyen /
Biết bao giờ con mới được gọi lại tiếng "Mẹ" ngọt-ngào đầy yêu-thương này! Ngày Mẹ còn sống, gọi tiếng Mẹ đã thấy ấm lòng, thấy chứa-chan tình-cảm. Bây giờ Mẹ không còn nữa, tiếng Mẹ làm con xót-xa tận cõi-lòng,/post 10 Tháng Năm 2015 (Xem: 2071)/
Ngày nào cũng vậy, cứ vào lúc mây chiều ngả sang màu đỏ thẫm, mặt trời sắp lặn dưới mấy ngọn đồi xa xa, anh Lũy dọn dẹp hết mọi thứ vào cái giỏ cũ kỹ, vác cái cuốc lên, anh chuẩn bị dẫn con bò về nhà./post 23 Tháng Bảy 2012 (Xem: 6173)/
Đây là chuyện có thật vào năm 1975. Tác giả Trần Đức Thạch là phân đội trưởng trinh sát tiểu đoàn 8, trung đoàn 266, sư đoàn 341 Bắc Việt tấn công Xuân Lộc. Khi viết tác giả không dùng từ "nguỵ" mà dùng nguyên cụm từ VNCH cho những người lính miền Nam. Tác giả bị kết án 3 năm tù giam...<post 23 Tháng Mười Một 2012(Xem: 2606) Trần Đức Thạch >
Anh bạn cùng quê vô Bà Rịa dạy học từ thời bao cấp. Hôm qua anh về quê và vợ chồng anh ghé đến nhà thăm tôi. Ngồi nói chuyện, bất giác anh nhìn lên bàn thờ cha tôi và hỏi: – Ba mày hồi trước là ngụy quân hay ngụy quyền vậy?. Tôi hỏi: – Ngụy quân là sao? Ngụy quyền là sao? Anh ngạc nhiên: – Ơ, mày không biết à? Ngụy quyền là người làm trong chính quyền ngụy, ngụy quân là lính trong chính quyền ngụy. Có thế mà không biết à? Tôi lắc đầu trả lời: Cha tui chỉ là một công chức của chính phủ Miền Nam thôi, chứ ổng có theo Cộng Sản đâu mà ngụy quân với ngụy quyền!. Anh đưa mắt nhìn sang vợ rồi ngước mặt lên trần nhà cười lớn: – Mày nói cái gì thế? Ngụy là chính phủ Miền Nam đó! Những người làm việc cho Miền Nam là ngụy quyền, ai đi lính là ngụy quân. Hiểu chưa?.
Ngày nay khi tôi rong ruổi đến bất cứ nơi nào trên mảnh đất Việt này, mọi người đều cần có nước khoáng, nước đóng chai, nước đun sôi để uống, liệu còn dòng sông nào được tinh khiết như dòng sông tuổi thơ quê hương? Những mái nhà tranh đơn sơ, cánh đồng nhuộm màu vàng óng, những chú trâu chầm chậm về chuồng dưới ánh hoàng hôn đỏ rực, dòng sông phẳng lặng như tờ khoác lên mình chiếc áo trắng thanh tao của chị Hằng… Dòng sông quê tôi ngày xưa ấy, nó đã từng mang lại những niềm vui, khát vọng, bí ẩn chen lẫn những nỗi buồn, nó vẫn không ngừng chảy, một mạch đằng đẵng đến tận chân trời.
Vương Long là con nhà nông, cả đời sống trong làng sát thành phố Nam Kinh. Hàng ngày anh đi bán rau cải ở chợ nên anh cũng được mở mang. Cho nên anh là người đầu tiên trong làng hay tin hoàng đế thoái vị. Biến cố này không hề xảy ra trước đó một năm. Chàng Vương liền báo tin cho cha anh và cha anh học lại chú anh làm biện trong làng, thế rồi những ai đến nhà viết thơ đều hay tin này. Trong thời gian ngắn, ai cũng biết tin nhà vua thoái vị. Trong ít nhất là ba ngày, dân làng chỉ nói thì thầm. Người ta buồn rầu, lo ngại sẽ có tai biến xảy ra. Cố nhiên là trong làng, không có ai trông thấy nhà vua. Nhưng ai cũng xem nhà vua là một sức mạnh muôn đời. Thiên Tử là người sắp đặt mọi việc với các thần thánh trên trời. Tóm lại, người ta có thể giao tất cả tài sản quốc gia và những tội lỗi nho nhỏ vào tay Thánh thượng trong khi họ lo công việc riêng nhờ bán hàng bông vào mùa xuân, bán vịt vào mùa thu. <Post 18 Tháng Tư 2019 (Xem: 870)>
Bảo Trợ