Cách Mạng Về Làng

18 Tháng Tư 20197:29 SA(Xem: 657)

Cách mạng về làng

Vương Long là con nhà nông, cả đời sống trong làng sát thành phố Nam Kinh. Hàng ngày anh đi bán rau cải ở chợ nên anh cũng được mở mang. Cho nên anh là người đầu tiên trong làng hay tin hoàng đế thoái vị.

Biến cố này không hề xảy ra trước đó một năm. Chàng Vương liền báo tin cho cha anh và cha anh học lại chú anh làm biện trong làng, thế rồi những ai đến nhà viết thơ đều hay tin này. Trong thời gian ngắn, ai cũng biết tin nhà vua thoái vị.

Trong ít nhất là ba ngày, dân làng chỉ nói thì thầm. Người ta buồn rầu, lo ngại sẽ có tai biến xảy ra. Cố nhiên là trong làng, không có ai trông thấy nhà vua. Nhưng ai cũng xem nhà vua là một sức mạnh muôn đời. Thiên Tử là người sắp đặt mọi việc với các thần thánh trên trời. Tóm lại, người ta có thể giao tất cả tài sản quốc gia và những tội lỗi nho nhỏ vào tay Thánh thượng trong khi họ lo công việc riêng nhờ bán hàng bông vào mùa xuân, bán vịt vào mùa thu.
bac kinh ngayxua

Nhà vua đã thoái vị, không ai dám rời làng. Ông nội của Vương nhớ đến thời Thái Bình Thiên Quốc và lo sợ sẽ xảy ra những vụ cướp bóc. Ông gom góp đồ tuế nhuyễn trong nhà: giấy đất, chiếc áo da dê bạc màu và dơ bẩn trải qua nhiều thế hệ, nhưng vẫn còn tốt để xài thêm vài đời nữa. Và chút ít đồ vật bằng bạc. Ông giấu tất cả trong bức tường xây bằng đất rồi ngồi vuốt râu, mắt ngó chăm chú vào chỗ đất bị đào. Đến đêm, ông dời chiếc giường ra ngoài và nằm ngủ sát chân tường.

Nhưng hết ngày thứ tư chẳng có việc gì xảy ra. Ông cụ lấy các món tuế nhuyễn giấu trong vách đất ra, càu nhàu vì có hơi thất vọng.

Dân chúng trong làng bắt đầu tiếp tục làm việc như trước. Ban đầu họ hơi run sợ, nhưng về sau, họ không cần đến nhà vua. Và với thời gian, họ lại thấy vui thích về sự thoái vị của ông ta vì mùa màng mỗi năm cũng tốt đẹp như lúc có vua ngự trị.

Rồi một ngày kia, tại một quán trong làng, Vương Long nghe một thanh niên lớn tiếng tuyên bố các nhà vua là những cha biếng nhác làm tốn kém ngân quỹ quốc gia. Vương kinh hồn khi nghe mấy lời đó. Anh chờ một lúc để xem có mảnh ngói nào từ trên mái nhà rơi xuống ngang đầu chàng thanh niên kia hay không. Hoặc là anh ta sẽ té xỉu vì trà làm cho nghẹn họng. Nhưng không việc gì xảy ra. Sau khi suy nghĩ, anh thấy người thanh niên nói đúng vì thần thánh không dám trừng phạt hắn. Vương nhìn chàng thanh niên đó với vẻ tôn kính.

Người thanh niên này mặc áo dài vải xanh đậm, không nặng và cũng không nhẹ, một thứ vải thích hợp với thời tiết. Lúc bấy giờ mùa xuân đã bước vào tháng thứ ba. Người này cắt tóc thật ngắn, chải bóng như tóc phụ nữ.

Vương nghĩ thầm: “Có lẽ hắn từ miền Nam tới. Mình chưa hề thấy nhưng người như hắn”.

Chàng lạ mặt nói thật nhanh và đảo mắt nhìn đám đông trong quán. Khi thấy mình được Vương Long chú ý, y vuốt tóc với hai bàn tay dài và trắng xanh rồi cất cao giọng:

- Người dân Trung Hoa chúng ta đông hơn tất cả dân tộc khác trên mặt đất. Tất cả các quốc gia khác phải kiêng nể chúng ta, vậy mà họ khinh rẻ chúng ta bởi vì chúng ta không có chiến xa, không có chiến hạm. Nhưng mà các thứ đó chỉ là những thứ xoàng xỉnh. Trong thời kỳ thượng cổ, các vị thánh hiền của chúng ta đã chẳng biết đằng vân cỡi rồng phun lửa đó sao? Những chuyện gì người ta đã làm rồi có thể làm lại được. Bây giờ chúng ta đã lập nên chánh thể cộng hòa. Nhà vua đã chết. Cái gì cũng có thể làm được.

Vương Long xích lại gần, cúi xuống lật tà áo người kia, lễ phép hỏi:

- Tôi xin phép hỏi ông... bộ đồ này giá bao nhiêu? Hàng này gọi là gì? Người ta có cảm tưởng là rờ một đám mây. Có phải là hàng dệt ở ngoại quốc? Giá bao nhiêu?

Chàng thanh niên giận dữ đẩy tay Vương ra:

- Đừng làm bẩn áo người ta! Đây là hàng “len” bên Anh, tám ngàn đồng một thước.

Tám ngàn một thước! Vương há miệng như cá ngộp nước. Anh chỉ kiếm có hai đồng một tháng. Phải mất bao nhiêu thước để may một chiếc áo từ cổ xuống gót chân?

Trong khi người thanh niên nói về các nền cộng hòa, Vương tính nhẩm giá chiếc áo mà anh đã sẵn dịp cưới vợ sáu năm về trước. Tất cả phải mất hai thước rưỡi, vị chi hăm tám đồng.

Anh cảm thấy ngẩn ngơ trước sự giàu có đó. Phải làm lụng vất vả năm năm mới sắm được một chiếc áo như thế.

Vưang lẩm bẩm:

- Thật là đắt!

Chàng thanh niên quay lại nhìn Vương với vẻ ân cần:

- Đây là hàng ngoại quốc. Người ta lấy lông cừu dệt đặc biệt cho những người tóc đen, do bàn tay của những tên nô lệ người Anh.

Khi thấy Vương ngớ ngẩn trầm trồ khen áo mình, chàng thanh niên nói tiếp:

- Như tôi đã nói, chúng ta không cần vua chúa. Đất nước vĩ đại của chúng ta, như các vị thánh hiền từng tuyên bố, phải có một chánh phủ của dân, do dân và vì dân. Anh cũng có thể đi bầu để chọn một vị Tổng thống.

Họ Vương lùi mấy bước, kêu lên:

- Tôi à? Tôi còn phải nuôi cha tôi, ông nội tôi, vợ tôi, và ba đứa con gái. Bao nhiêu miệng ăn trông đợi nơi tôi. Tôi không có thì giờ. Xin ông lo các việc đó dùm tôi...

Chàng thanh niên đập bàn; cười ha hả khiến mọi người quay lại.

Họ Vương quay đi, khó chịu trước sự dòm ngó của nhiều người.

Thanh niên kia nói:
Related image

- Anh ngu dốt quá. Có gì đâu, chỉ viết một cái tên trên mặt mẩu giấy rồi bỏ vào hộp.

Vương lo ngại:

- Nhưng tôi không biết viết.

Thanh niên nốc cận chén trà, ném bốn đồng xu lên bàn, nói:

- Thì nhờ người khác viết cho anh.

Vương lại hỏi:

- Thưa ông, tôi chỉ là một con trùng. Nhưng tôi phải viết gì đây?

- Tên của người nào mà anh muốn chọn làm Tổng thống!

Người thanh niên tỏ vẻ nóng nảy khiến họ Vương không dám hỏi ý nghĩa của chữ “Tổng thống”.

Nhiều người xúm lại nghe. Người thanh niên bước ra thềm, nhấn mạnh:

- Thời thịnh vượng đã gần kề, những kẻ giàu sẽ trở nên nghèo, và người nghèo trở nên giàu.

Vương lắng tai nghe, thắc mắc “có thể nào người nghèo trở nên giàu”. Anh dè dặt hỏi:

- Thưa ông, làm sao có thể có chuyện đó?

Người thanh niên nói:

- Chuyện đó xảy ra trong tất cả nền cộng hòa. Ở Mỹ, tất cả mọi người đều ở dinh thự, chỉ những người giàu mới bị bắt buộc làm việc. Khi vua chúa không còn nữa, khi cách mạng xảy ra, thì xã hội sẽ biến đổi như tôi vừa nói. Chính vì vậy, mà tôi hớt tóc cao. Điều đó chứng tỏ là tâm hồn tôi được tự do. Tôi là một nhà cách mạng. Tôi và các bạn của tôi, chúng tôi sẽ cứu đất nước, cứu giúp những kẻ nghèo, những kẻ bị hiếp đáp.

Thanh niên chào mọi người, quay lưng bước đi. Họ Vương vẫn ngồi trên chiếc đòn gánh trước cửa quán, cản lối đi của người kia.

Người thanh niên dùng chân hất chiếc đòn gánh, nói:

- Dang ra cho tôi đi.

Họ Vương hấp tấp đứng lên gánh các giỏ cải ra đường, đứng nhìn chàng thanh niên bước đi, chiếc áo xanh lắc lư theo nhịp bước.

Trong những lời nói của kẻ lạ, họ Vương chỉ hiểu có một điều: “Những người nghèo trở nên giàu”. Anh đã ôm ấp hy vọng đó suốt đời, nhưng không hy vọng chút nào vì mấy đời nhà anh không có ai làm giàu trên mảnh đất mà anh đang canh tác. Bây giờ thì có thể hy vọng được lắm. Nhà vua đã chết, người ta có thể hy vọng bất cứ việc gì.

Họ Vương nhìn xuống đường, nghĩ ngợi khi thấy chiếc áo xanh hãy còn lấp lánh. Nếu làm ra tiền, anh sẽ sắm một chiếc áo như vậy, vừa dịu, vừa sáng, vừa ấm. Anh nhìn xuống, ngắm con người anh. Áo quần ngả qua màu vàng, chấm vá, hai chân đi đất. Anh tưởng tượng ngày kia mình sẽ mặc áo đẹp như chàng thanh niên cách mạng. Khi anh nghiêng đầu, chiếc bím rơi xuống, rối nùi vì không chải gỡ lâu ngày. Anh lẩm bẩm: “Làm sao mặc áo mới với cái đầu như thế này?”

Anh có cảm tưởng như đang mặc chiếc áo mới đó, đang cài các nút vàng mà anh trông thấy trên ngực chàng thanh niên kia. Dù chưa bán hết mớ cải xanh, họ Vương đếm tiền cẩn thận, xuống đường đi riết tới anh thợ cạo hớt dạo:

- Hớt hết tóc cho tôi. Tôi trả cho anh mười đồng tiền kẽm.

Thế là Vương Long trở thành một nhà cách mạng mà anh không ngờ.

Chiều ấy, dân làng ngồi trước sân nhà cười ầm lên khi thấy họ Vương cạo trọc đầu như nhà tu. Không ai nói gì trừ một cậu bé con. Mỗi ngày nó tới trường ở chợ cho nên biết nhiều hơn kẻ khác. Nó kêu lên:

- A ha! Một nhà cách mang! Thầy con bảo chỉ có những nhà cách mạng mới cắt tóc.

Họ Vương lúng túng khi nghe cậu con reo lên như thế. Anh không biết một người cách mạng là như thế nào.

Anh không muốn vì một chút vô ý mà trở thành một kẻ lạ.

Để được bình tĩnh, anh ném chiếc đòn gánh thật mạnh xuống đất, kêu lên như thường lệ:

- Má sấp nhỏ, cơm nước xong chưa? Tôi đi làm đổ mồ hôi sót con mắt để lo cơm gạo cho mấy người, mà lúc trở về mệt mỏi, tôi không thấy một chén trà nóng...

Những người láng giềng thấy họ Vương giở trò hàng ngày như thường lệ, giải tán. Họ chỉ ngạc nhiên về cái đầu cạo trọc của anh chàng thôi. Nhưng danh từ “cách mạng” mà đứa con kêu lên một cách vô tình lại được người ta gán cho họ Vương, và từ đó về sau người ta gọi anh nông dân này là nhà cách mạng họ Vương. Về lâu danh từ này mất hẳn ý nghĩa ghê gớm của nó.

Riêng về họ Vương thì cứ tơ tưởng đến chiếc áo xanh mà anh sẽ sắm khi trở nên giàu có.
Related image

Ban đầu, anh trông đợi xảy ra những biến cố bất ngờ, nhưng khi tóc anh dần dần mọc lại, mùa hè nối tiếp mùa xuân, hết thu đến đông, năm này kế tiếp năm kia, cuộc đời của anh vẫn không thay đổi. Anh vẫn làm lụng từ sáng đến tối, nhưng vẫn nghèo và không kiếm được một thằng con trai nào.

Thét rồi chán nản, anh không ngủ được nữa, đêm đêm trằn trọc, thắc mắc nhiều điểm, nhưng điều làm anh đổ quạu là không hy vọng được hưởng lạc trong những ngày về già.

Cho nên một hôm, anh nói xa xôi để trách vợ không sanh con trai cho anh:

- Quả đất này toàn là những phường ăn hại, không được tích sự gì.

Mỗi khi nghe có ai sanh con trai, anh nghiến răng, trách ông trời bất công đối với anh. Anh cũng bực khi giá vải, giá dầu, giá củi tăng lên.

Lên tỉnh, anh bực khi thấy những kẻ ăn không ngồi rồi thả rong ngoài phố ăn mặc nhung lụa, hoặc ngủ gà ngủ gật trên bàn tiệc các quán nước hay ngồi đánh bài trong các kho hàng trong khi anh phải còng lưng gánh nặng để nuôi những kẻ đó.

Một việc nhỏ nhặt cũng làm cho anh gắt gỏng. Một con ruồi bu trên mặt đầm mồ hôi cũng có thể làm anh nhảy dựng lên, kêu ầm ĩ. Nhiều người trông thấy kêu lên “Kìa thằng điên gây gổ với con ruồi”. Thật ra thì nguyên nhân chánh của sự bất mãn là cái áo xanh mà anh mơ ước một cách vô vọng.

Một hôm, khi lên chợ, đi ngang qua văn miếu, anh trông thấy một thanh niên lớn tiếng diễn thuyết. Đó là một cậu còn trẻ, mặt tái xanh, mặc áo đen, cậu vừa hô hào, vừa quơ hai cánh tay gầy và đảo mắt nhìn đám đông đang bu chung quanh.

Vương vờ mệt đứng lại để nghe. Anh ngồi lên trên chiếc đòn gánh, lấy khăn lau mặt. Ban đầu anh không hiểu gì. Anh đinh ninh thanh niên kia sẽ nói về nhà vua, nói về Cộng Hòa. Nhưng không, anh chỉ nghe những danh từ mới lạ.

Giọng the thé của thanh niên vang lên:

- Bọn đế quốc, bọn ăn cướp ngoại quốc giết chúng ta, chà đạp chúng ta.

Họ Vương kinh hãi, anh không biết đế quốc là ai, nhưng vẫn ngồi nán lại nghe. Anh lấy dọc tẩu ra, hút vài hơi trước khi tiếp tục đi. Bỗng anh nghe thanh niên kia kêu lên:

- Tất cả tài sản là của chúng ta. Người ta đã cướp nhà, cướp đất, cướp tiền của bạc vàng. Chúng nó sống đế vương trong khi chúng ta làm nô lệ. Chúng đi xe hơi, có máy hát, mặc gấm vóc xanh đỏ vàng, cũng như các vị vua chúa. Đả đảo tư bản! Cách mạng muôn năm! Nhờ cách mạng mà kẻ nghèo trở nên giàu, kẻ giàu biến thành nghèo.

Họ Vương nhào tới, đánh rơi dọc tẩu, tiến gần thanh niên hỏi:

- Thưa ông, chừng nào?

Chàng thanh niên đảo cặp mắt sáng rực về phía anh nông dân, nói:

- Ngay bây giờ. Khi những ngươi cách mạng tiến vào thành phố, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của anh. Anh chỉ còn chọn lựa. Đồng chí có phải là một nhà cách mạng?

Họ Vương ngây ngô đáp:

- Người ta gọi tôi là nhà cách mạng họ Vương.

Nhưng chàng thanh niên kia không để ý đến Vương. Y tiếp tục la khẩu hiệu:

- Đả đảo tư bản. Đả đảo ngoại nhân! Đả đảo tôn giáo, đế quốc! Cách mạng muôn năm! Người nghèo trở nên giàu! Người giàu biến thành nghèo.

Bây giờ họ Vương hiểu được chữ cách mạng. Còn mấy danh từ tư bản, đế quốc, tôn giáo chẳng có nghĩa gì. Chỉ có một điều rõ ràng là kẻ nghèo trở nên giàu, kẻ giàu biến thành nghèo. Nếu đúng như vậy thì họ Vương cũng muốn làm cách mạng.

Anh nhìn chăm chú thanh niên kia và trong khi nhìn như vậy, anh chợt thấy một tên lính cầm súng gắn lưỡi lê chĩa ngay mũi súng vào lưng diễn giả, quát to:

- Nhà cách mạng trẻ tuổi! Mời ông vào khám để xem ông có làm giàu được hay không!

Thanh niên kia vụt biến thành một kẻ không hồn, âm thầm bước xuống đi về khám dưới mũi lưỡi lê của người lính.

Đám đông giải tán như tuyết rã dưới ánh mặt trời. Họ Vương hốt hoảng chụp đòn gánh đi nhanh ra chợ.

Ngày hôm ấy, anh nông dân rất sợ, không dám nói chuvện với ai.

Đêm ấy, sau khi uống chén trà xanh, anh không ngủ như thường lệ mà đi cày mảnh đất dự định trồng khoai. Anh cày cho đến khi trăng khuất sau rặng liễu, trời tối không thể trông thấy luống cày.
Image result for china 1890

Sáng hôm sau, họ Vương thức sớm để đi chợ. Đến cuối chợ, anh thấy nhiều biểu ngữ lớn dán trên tường. Anh nhìn một lúc lâu, tò mò, nhưng không hiểu. Anh liền nhờ một cụ già đọc cho nghe. Ông lão đứng lại, đọc từng chữ thật cẩn thận trong khi Vương nóng nảy chờ đợi vì trời đã trưa. Sau cùng cụ già quay lại nói:

- Chuyện này không ăn nhập gì đến anh. Người ta loan báo những người cách mạng bị bắt sẽ bị chặt đầu.

Họ Vương kinh hoảng kêu lên:

- Chặt đầu!

Ông lão gật gù:

- Phải. Người ta cho biết là nếu tới cầu Tam Nương, anh sẽ thấy bêu đầu những người làm cách mạng. Ông Tổng đốc của chúng ta không muốn những tên khởi loạn ở Quảng Châu lên đây.

Nói xong, ông lão tiếp tục đi, chiếc áo dài lắc lư một cách trịnh trọng.

Ho Vương đứng lại ngắm những hàng chữ trên biểu ngữ, trong lòng run sợ đến cực độ. Người ta đã gọi anh là “nhà cách mạng họ Vương”. Thật là nguy! Và anh oán chiếc áo xanh đã mê hoặc anh bước vào con đường ghê gớm. Anh không ham giàu sang nữa. Anh đang sợ. Nhưng sợ mà vẫn muốn đến cầu Tam Nương để xem. Giao gánh cải cho người bán nước nóng; có bà con xa với anh, họ Vương đi đến cầu, cách đó một dặm. Gánh cải bắt đầu héo với sức nắng buổi trưa, nhưng tánh tò mò vẫn thúc giục anh nông dân đi xem chuyện ghê gớm. Bảy chiếc đầu đầy máu được bêu trên đầu bảy cột tre. Những mép tóc đen rủ xuống, đôi mắt nửa khép nửa mở. Một chiếc đầu còn há miệng, chiếc lưỡi le ra ngoài bị hai hàm cắn gần đứt.

Nhìn kỹ, tim họ Vương đập mạnh vì nhận ra kẻ đó là người thanh niên vừa hô hào trong ngày hôm qua. Tất cả đầu bêu đó đều là của những người trẻ tuổi.

Đám đông kéo đến xem. Một ông lão sún răng nhổ nước miếng kêu lên “Đó, làm cách mạng là chết như vậy đó”. Vương giựt nẩy mình khi nghe tiếng cách mạng. Nếu có ai nhận ra anh, gọi anh là “nhà cách mạng họ Vương”, trong lúc này thì chết như chơi, Vương liền tất tả lánh xa.

Kể từ giờ phút đó, Vương làm việc thật nhiều và nói thật ít. Anh không than thở với ai, kể cả vợ anh. Người vợ lấy làm lo sợ đi tìm ông thầy bói mù trong làng để bói xem chồng chị có bịnh hoạn gì không.

Nhưng họ Vương chẳng có bịnh hoạn gì cả. Y chỉ lo sợ sẽ có một kẻ thứ tám bị chặt đầu bêu cạnh bảy chiếc đầu ở cầu Tam Nương.

Ban đêm, khi không đủ sức làm lụng nữa họ Vương cảm thấy trước mắt cái đầu của anh bị chặt với hai mắt nửa nhắm nửa mở và cặp môi xám.

Khi người bà con đi ngang qua nhà hỏi to lên: “Nhà cách mạng họ Vương đã trông thấy ở tỉnh ngày hôm nay” Vương liền chạy ra mắng y một trận nên thân rồi không thèm nghe những lời đầy kinh ngạc của người này.

Vương không dám tâm sự với ai về mối lo sợ của mình. Vì chứa chấp trong bụng, anh càng thấy khổ. Nhưng nói ra thì tự đút đầu vào cửa tử.

Vương đâm ra thù oán tất cả. Anh thù rẫy cải, nương khoai đã tiêu hao sức lực của anh, anh ghét những người láng giềng mà anh không dám tâm sự. Anh khi thường những người dân trong làng chỉ biết mặc quần áo thô, ăn gạo đỏ như tổ tiên của họ. Anh ghét thành thị với đường phố dập dìu, những kẻ du hí vô tư.

Khi mối bất bình gia tăng, sự lo sợ giảm bớt. Anh không nghe nói đến cách mạng nữa và càng bực thêm vì ngoài cách mạng anh không thấy có cách nào để biến những kẻ nghèo trở nên giàu.

Anh nghĩ đến những người giàu và chửi rủa họ. Anh biết những hạng người đó. Mỗi năm một lần, anh đến chúc tết các vị hương chức hội tề. Anh thấy ở trong nhà có màn che sáo phủ, ngồi trên ghế chạm có gối dựa bằng lụa, gia nhân của họ cũng mặc lụa. Còn anh thì cả đời không đụng tới tơ lụa, trừ một đôi khi vào cửa hàng rờ qua một cách lén lút cho biết tơ lụa êm đến mức nào.
Related image

Còn những người ngoại quốc? Chàng thanh niên kia cho rằng họ giàu hơn hết. Người ta thỉnh thoảng đề cập đến họ trong các quán nước. Người ta đồn là họ ngồi trên ghế bằng vàng trước các bàn bằng bạc, đi trên nhung một cách tự nhiên cũng như anh dẫm lên cỏ gai trên đường làng. Những người ngoại quốc đó ngủ trên giường chạm trổ cẩn ngọc. Thật là giàu! Họ Vương thấy thù oán những người ngoại quốc đó hơn hết, vì anh không thể chấp nhận cho họ sống đế vương như vậy trong khi ở trên đất Trung Hoa có nhiều người nghèo như anh. Lúc đầu, Vương muốn thấy những người nghèo trở nên giàu, nhưng bây giờ, khi nghĩ đến các bất công mà anh chịu đựng, anh muốn những kẻ giàu trở nên nghèo.

Càng nghĩ tới nghĩ lui những điều đó, Vương không thiết đến việc làm ăn. Anh không có thói quen giải quyết các thắc mắc đó. Anh không thể vừa dẫy cỏ vừa suy nghĩ trong một lúc. Anh đứng dừng lại mỗi khi gặp những vấn đề quá sức hiểu biết. Và càng xao lãng làm lụng, gia đình anh càng túng thiếu. Người vợ than thở:

- Làm sao mình có vải bông để may áo ngự hàn vào mùa đông này? Mình không thể vừa chạy ăn vừa chạy mặc được.

Những lời lẽ đó khiến Vương nghiến răng giận dữ, và chính anh không hiểu tại sao mình lại nổi nóng.

Một buổi sáng, cảm thấy mệt mỏi, anh nhứt định nghỉ trọn ngày, vì dù có cố gẳng làm cũng không giàu được. Anh đặt gánh cải xuống, bước vào quán nước. Anh ngồi thật gần cửa, gọi một chén trà. Một người đàn ông hãy còn trẻ có mặt trong quán từ bao giờ. Y mặc một chiếc áo dài đen, cắt tóc ngắn, lau mặt với chiếc khăn lông, nhìn Vương, ôn tồn bảo:

- Đồng chí làm việc có hơi nhiều.

Vương thở dài, sửa lại chiếc áo xám chấm vá và anh mở nút cho bớt nóng:

- Thưa ông, đúng vậy. Nhưng vẫn không đủ ăn. Với giá gạo quá cao, với một nhà toàn đàn bà vô dụng phải nuôi, tôi phải làm quần quật cả ngày, cháy da phỏng trán.

Người kia nói nhỏ vào tai anh:

- Anh nghèo quá. Lẽ ra thì anh phải giàu.

Họ Vương lắc đầu. Anh không muốn chữ giàu mà người kia vừa nhắc làm bận rộn đầu óc. Anh châm trà vào chén, uống thật kêu. Nước trà nóng làm cho anh thoải mái vì anh cảm thấy gây gây lạnh.

Người thanh niên nói:

- Anh làm lụng vất vả, anh lại thiếu ăn trong khi bao nhiêu kẻ khác vui đùa, ăn uống thỏa thích.

Vương vụt nói:

- Đúng vậy!

Người kia nói tiếp:

- Nhưng anh là một người can đảm, đáng giàu hơn những kẻ khác.

Họ Vương lắc đầu, nhưng mặt tươi vui lên.

Người kia lại nói:

- Đúng vậy! Tôi thấy anh là người lương thiện. Xin phép cho tôi rót trà cho anh.

Vừa nói người ấy đứng lên, trịnh trọng rót trà vào chén họ Vương như Vương là một người sang trọng.

Vương đứng lên cám ơn người kia, và nhủ thầm: “Người thanh niên này thông minh quá. Y đoán rất đúng về mình”. Anh hỏi lớn:
Image result for china 1890

- Thưa ông, dinh tự của ông ở đâu?

Người kia đáp:

- Tôi cũng nghèo như anh. Nhưng tôi báo tin cho anh và các bạn của anh hay là các người sẽ giàu khi những người cách mạng về thành.

Vương vụt đứng lên nói:

- Tôi không phải là người cách mạng.

Thanh niên kia ôn tồn:

- Không, tôi thấy anh là người tốt.

Họ Vương yên tâm ngồi xuống.

Trời bắt đầu lạnh. Anh kéo áo sát vào người.

Thanh niên kia nói tiếp:

- Tôi thấy anh nghèo quá. Tôi thành thật buồn cho anh.

Họ Vương xúc động. Trước đây chẳng có ai thương hại anh. Người ta còn cho là anh khá giả vì dù phải làm lụng nhiều, nhưng một ngày nào đó anh sẽ hưởng sáu công đất và ngôi nhà đất ba gian của cha để lại vì anh là con một. Tự nhiên nước mắt trào ra khi có ngườỉ tỏ lòng thương hại, thông cảm mối nghèo khó, cực nhọc của anh. Họ Vương nghẹn ngào nhìn nhận:

- Đúng vậy!

Người kia nói:

- Thật là bất công. Anh là người thông minh. Tôi thấy anh xứng đáng được hưởng giàu sang. Nhưng mà cơ hội tốt sắp tới, khi cách mạng về làng thì dân nghèo sẽ giàu, người giàu sẽ nghèo.

Vương cúi đầu sát người kia để nghe cho rõ vì hai người thì thầm thật nhỏ:

- Tôi không biết điều đó. Nhờ ông giải thích.

Người kia liếc nhanh chung, quanh rồi nói vào tai Vương:

- Bọn ngoại quốc giàu lắm. Chúng chỉ cốt giữ vàng, còn bạc chúng ném đi. Mà vàng bạc đó, chúng nó cướp của người Trung Hoa chúng mình. Nếu không cướp của thiên hạ thì chúng ở đây để làm gì? Tại sao chúng không trở về xứ chúng? Chúng nó cướp hết vàng bạc thành thử chẳng còn gì cho anh, cho tôi. Nhưng mà vàng bạc đó là của chúng ta, khi cách mạng tới, anh phải sẵn sàng.

Nói xong, người kia đứng lên, bước khỏi quán nước.

Vương Long cố quên những lời vừa nghe đó vì anh nhớ đến bảy cái đầu bêu ở cầu Tam Nương! Nhưng nghĩ tới vàng mà bọn ngoại quốc cướp đoạt của đồng bào, anh nghĩ thầm: “Có lẽ chúng nó có mấy rương áo, loại áo xanh mà mình mơ ước khi trông thấy”. Và hình ảnh chiếc áo xanh kia hiện ra, lộng lẫy ấm áp, ám ảnh tâm tư anh.

Không đầy một tháng sau, họ Vương hay tin cách mạng sắp đến làng.

Anh không quên lời nói của người thanh niên. Chắc là những tin đồn mấy năm trước sẽ biến thành sự thật.

Một ngày kia, khi mặc cả với một khách hàng về một bắp cải, Vương nghe có tiếng thì thầm bên tai: “Trong mười ngày nữa, anh nên sẵn sàng”.

Vương vội quay lại. Anh thấy người thanh niên đã từng thương hại anh. Họ Vương muốn nói chuyện với y, nhưng y đã đi mất dạng. Người khách hàng nóng nảy kêu lên:

- Bắp cải này chỉ đáng hai quan.

Họ Vương trả lời như thường lệ:

- Không được! Thà chết đói hơn là bán dưới giá bốn quan.

Và anh thì thầm lặp lại lời của người kia: “Trong mười ngày nữa mình sẽ thấy nhưng chuyện sắp xảy ra”.

Anh chờ đợi, bán tín bán nghi, và có hơi lo. Nhưng người ta thấy có cái gì sắp xảy ra. Như một dòng nước đen tách ra khỏi con sông, hàng vạn binh sĩ kéo ngang qua làng. Họ Vương kinh hãi, nhìn đoàn người đi qua quán nước, đi mãi không thấy dứt. Anh hỏi người bồi bàn:

- Có phải quân cách mạng đó không?

Một người đứng gần đó trợn mắt kêu lên:

- Im đi! Đồ ngu! Ngươi muốn chúng ta bị bêu đầu hay sao? Không thấy họ to xương lớn xác, không nghe giọng nói trong cuống họng hay sao? Kia, hãy xem họ ăn toàn bánh mì chớ không chịu ăn cơm. Họ là dân miền Bắc, tức là những người chống cách mạng. Rồi đây sẽ còn nhiều cái đầu ngu ngốc như ngươi bị bêu trên cầu!

Rồi cúi xuống sát Vương, người đó nói nhỏ vào tai:

- Nên sẵn sàng, trong vòng bảy ngày nữa.

Nói xong, y bỏ đi thật nhanh.

Họ Vương chột dạ. Lại nghe những lời ghê gớm đó mãi! Anh hoàn toàn hoang mang, cả ngày không dám nói chuyện với ai. Anh làm lụng với vẻ bực dọc, tránh những con đường lớn mà đoàn quân miền Bắc vừa đi qua.
Image result for china 1890

Đêm sau, một tiếng nổ hãi hùng từ trên trời rơi xuống. Sấm sét nổ bốn hướng, mặt đất rung chuyển. Cả nhà Vương đang ăn tối. Họ Vương đặt đũa xuống nghe ngóng. Anh phân biệt hai loại tiếng động. Một tiếng gầm kinh khủng chốc chốc lại vang lên và tiếng nổ “bụp bụp bụp” thật dòn. Vương chưa hề nghe tiếng này và không thích nó chút nào.

Anh đứng lên để tìm hiểu, nhưng đâm sợ, quay lại ra lịnh cho vợ:

- Đi ra ngoài coi việc gì vậy!

Vợ anh len lỏi theo bức tường nhìn ra ngoài. Một vật gì đập mạnh xuống đất ngay chân khiến chị vội lùi lại. Đất văng túa ra theo hình cánh quạt, lọt vào gian phòng, rơi trên bàn ăn và mâm cơm. Tất cả đều kinh sợ. Họ Vương liền nhào tới đóng cửa gài lại cẩn thận. Không dám đốt đèn, họ ở thầm lắng nghe đất rơi như mưa xuống mái nhà trong đêm, từng chập các tiếng nổ vang lên.

Họ Vương nhủ thầm: “Cách mạng đây rồi, chúng mình chết hết! Mình chết vì chiếc áo xanh”.

Ngày hôm sau, tiếng nổ nghe xa dần và im bặt. Họ Vương chúi mũi ra cửa, và giận dữ trước cảnh tượng trước mắt. Rau cải của anh bị đào lỗ tứ tung. Anh bước ra ngoài chửi bới ầm lên, quên cơn hãi hùng trong đêm. Anh nhặt vài bắp cải còn rơi rớt lại, không đầy một giỏ. Anh buồn bã trở vô nhà nói với vợ:

- Ngày tàn chúng mình đã đến. Phải mất một tháng nữa cải củ mới lớn. Mình lấy cái gì ăn đây?

Người vợ ngồi trên chiếc băng cây lắc lư, chậm nước mắt, nghẹn ngào:

- Tôi sống dở chết dở. Cuộc đời tôi chỉ toàn là những chuyện không may. Nhưng mà dù sao anh cũng phải đi bán cải kiếm được đồng tiền nào hay đồng tiền nấy.

Họ Vương buồn thảm đi lên tỉnh. Nhưng đi được một phần ba dặm anh dừng lại, hoảng hốt. Một xác chết nằm ngang con đường. Vương nhìn xác không chớp mắt. Máu chảy đọng vũng trên đất cát. Họ Vương không thích người ta thấy anh ở kế bên xác chết. Anh vội tiếp tục đi. Anh thấy ít nhứt một chục tử thi khác nằm gần đó. Và còn nhiều nữa ở đằng xa. Dường như tất cả dân ở chợ bị cơn thịnh nộ của ông trời trong đêm qua.

Anh chạy không kịp thở và đụng phải một đám đông nhộn nhịp, vừa ca vừa hát. Vương hỏi những người gần nhứt:

- Việc gì vậy?

Nhưng không trả lời anh. Họ chen lấn, thúc đẩy, dường như nổi cơn điên. Vương cũng bị lôi cuốn theo. Anh kêu thật to.

- Việc gì vậy mấy bà con.

Nhưng không ai thèm trả lời. Bị kẹt trong đám đông, không thể tiến hay lùi; anh đâm sợ.

“Mình ngu thật, tại sao mình không cho mẹ sấp nhỏ đi chợ sáng hôm nay cho được việc!” Kế có tiếng vang lên:

- Bọn nhà giàu kia kìa! Nhà bọn ngoại quốc ở trước mặt chúng ta đó!

Họ Vương hiểu ngay: “Cách mạng là đây”. Tim anh đập mạnh, anh hòa mình theo đám đông, chỉ cưỡng lại để khỏi bị đạp chết. Trong đám đông có cả những binh sĩ. Các binh sĩ này không giống các tử thi nằm dọc theo đường. Họ là những người nhỏ thó, mảnh khảnh, lúc nào cũng kêu liền miệng: “Tiến tới! - Bọn giàu! - Bọn giàu!”

Vương hoa mắt lên. Anh không hiểu người ta làm gì và đi đâu. Nhưng anh cứ đi theo đoàn người đến một cổng lớn. Đó là một khu phố mà anh chưa hề biết.

Vào những lúc bình thường, anh không hề nghĩ đến vượt qua cổng đó, nhưng hôm nay sự táo bạo của đám đông khiến anh liều lĩnh.

Hai người lính tiến tới trước, đập bá súng vào cánh cổng. Vương thấy mặt họ đỏ gay như say rượu, mắt họ dữ tợn, sáng ngời như kính. Họ đập cánh cổng cho đến khi một mảnh ván bật ra. Bấy giờ họ quay lại đám đông kêu to lên:

- Tất cả thuộc về các bạn! Người nghèo trở nên giàu! Người giàu trở nên nghèo! Cách mạng muôn năm!

Nhưng đám đông do dự. Sau cùng những kẻ táo bạo hơn hết chui qua lỗ hổng của chiếc cổng, rút cây gài cửa.

Tất cả thong thả bước vào. Vương ở về phía trước, trong đám đông. Sau khi chui qua lỗ hổng, anh đứng lại, nhìn chung quanh. Sân cỏ có trồng cây và hoa rực rỡ. Tất cả đều sạch sẽ và yên tĩnh. Không có một bóng người.

Đám đông rải rác tiến về ngôi nhà hai tầng. Người nào cũng có vẻ lúng túng, nhưng hai người lính nhảy lên tam cấp, đập mạnh vào cánh cửa. Người ta mở cửa ngay. Vương thấy một bóng người cao lớn, ăn mặc kỳ lạ với một gương mặt bình tĩnh và trắng.

Đám đông tụ tập lại xông vào nhà, vừa chạy vừa la hét, giống tiếng gầm của con vật trước miếng mồi. Nghe tiếng kêu đó, một sự thèm muốn xâm chiếm họ Vương, một sự thèm muốn mãnh liệt hơn sự đói khát. Như một con chó dữ, anh gầm hét xông tới, xô đẩy, chen lấn để tiến lên thang lầu.

Lên từng trên, đám đông biến thành những con vật tranh nhau một miếng mồi. Họ Vương cũng làm như những người khác. Nhưng anh không hiểu tại sao anh đánh đấm như vậy.

Rất nhiều vật chạy qua hai bàn tay anh. Có lúc anh thấy một vật bằng bạc chiếu sáng. Anh chụp lấy. Người ta giựt mất. Anh quên không biết phải tìm vật gì khác thế vào. Anh không chọn được món gì vì vừa lấy món này lại thấy món khác thích hơn.

Hai mắt anh bốc cháy; máu trong người anh đập mạnh. Anh la hét không ngớt, hét một cách vô tâm, cũng như tất cả đám đông. Đầu óc anh đầy ham muốn nên không còn chứa chất được một cảm nghĩ nào khác, mỗi khi người ta mở một tủ thì cả chục người nhào tới. Họ giành giựt, xô đẩy, lôi kéo, xâu xé nhau.

Vương bỏ hết những gì cầm trong tay, nhào tới để giựt những vật trong tủ.

Thế rồi đột nhiên đoàn người chạy biến ra ngoài. Giống như cơn gió thoảng một ngày hè.

Vương là một trong những người đầu tiên xông vào nhà cho nên anh cũng là một cuối cùng để trở ra. Còn lại một mình, anh nhìn chung quanh như một người vừa thức giấc.

Gian phòng gần như trống rỗng chỉ còn có hai chiếc ghế gãy, một bàn và một tủ bị người ta lấy mất các ngăn kéo.

Vương chợt tỉnh. Mình làm gì đây? Anh đang ở nhà người ngoại quốc. Anh ngắm mấy cái ghế, cái bàn.

Tất cả đều đóng bằng gỗ xoàng không phải bằng vàng như người ta nói. Tường phết vôi, bằng gỗ sơn, nhám nhúa.

Lần đầu tiên, Vương mới chú ý đến vật anh đang cầm trên tay, một bộ quần áo trẻ con vải trắng, một chiếc giày da lớn, hai quyển sách gáy cứng đầy chữ kỳ lạ, một bóp cũ đựng một đồng mỹ kim và vài đồng tiền kẽm, không có cái gì giống chiếc áo xanh mà anh mơ tưởng.

Anh thở dài, bỗng nhiên thấy chán nản. Anh ngồi thụp xuống gói tất cả các vật đó trong bộ quần áo nhỏ rồi quay trở xuống thang lầu.

Anh đi lên rất nhanh và dễ, nhưng đi xuống thật khó. Anh chưa thấy một thang lầu kỳ lạ như thế. Anh cho gói xách sang bên tay kia, ôm lấy tay vịn, từ từ bước xuống đến từng dưới, anh mệt đuối.

Vài người đàn bà còn ở nán lại gom góp lượm lặt những vật người ta đánh rơi hoặc bỏ quên trong lúc vội vàng. Vương đứng lại. Anh hy vọng tìm được một vật gì có giá trị, nhưng chỉ có một đống sách rải rác, hai chiếc ghế gỗ, một cái bàn cũng bẳng gỗ - một bức tranh xé nát và giẫm bừa lên, không có một vật gì có giá.

Anh cúi xuống lượm một mảnh vải xám và thấy một nhóm người ở trong phòng tận cùng. Vương chưa hề gặp những người như thế. Một người đàn ông, một người đàn bà, hai đứa nhỏ. Họ ôm chặt lấy nhau. Áo quần họ dơ bẩn, rách rưới, chỉ có phía dưới thân thể là được che lại. Người đàn bà khoác lên vai một mảnh vải. Người đàn ông có một dấu trầy trên trán, một dòng máu đỏ chảy dài một bên gương mặt trắng. Vương chưa hề thấy máu đỏ như vậy.

Anh nhìn họ thật kỹ và họ cũng nhìn anh, không hề sợ hãi. Hai đứa bé cũng không kêu lên một tiếng nào.

Vương không chịu nổi những cái nhìn đó. Anh ngoảnh mặt đi rồi lại nhìn lại lần nữa.

Người đàn ông nói mấy tiếng bằng một ngôn ngữ kỳ lạ. Người đàn bà cười chua chát và họ tiếp tục nhìn Vương, với đôi mắt sáng ngời, với vẻ tự tin.

Vương nói to lên: “Mấy người này không có vẻ gì sợ hãi”. Rồi anh tự thấy thẹn vì tiếng của mình vang lên to quá, vội chạy ngay ra cổng.
Image result for old man in small village china 1890

Đường phố vắng tanh, nhưng xa xa hãy còn nghe văng vẳng tiếng la hét của đám đông.

Sau một phút do dự, Vương quay trở lại, đi nhanh về nhà.

Những người lính chết hãy còn nằm trên đường. Ruồi nhặng bắt đầu bu các xác đó dưới bóng mặt trời nắng như nung.

Nhiều người dân làng hấp tấp ra tỉnh. Họ hỏi Vương, nhưng anh chỉ lắc đầu. Anh mệt và chán hết tất cả. Trên đời không còn thứ gì có thể làm anh ham muốn.

Khi về tới nhà, anh đặt gói lên bàn, nói vội vã:

- Đây là phần của tôi trong cuộc cách mạng.

Rồi anh đi vào phòng ở phía sau, leo lên giường nằm. Anh chỉ nhớ một kỷ niệm rõ ràng duy nhứt. Đó là cái nhìn ngạc nhiên và trong sáng của những người ngoại quốc. Vương lẩm bẩm: “Họ không có vẻ sợ hãi” và sau khi quay trở lại, Vương lại lải nhải. “Mình không tin là họ giàu”.

Vương nghe vợ kêu lên ở phòng bên:

- Mấy quyển sách này chỉ có thể dùng làm đế giày, nhưng đồng mỹ kim có thể giúp mình mua cái ăn trong khi chờ đợi lứa cải củ lớn lên. (Hính ảnh từ Google)
Pearl S. Buck

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có những phận người như thế, lặng lẽ sống, lặng lẽ giấu kín lòng mình, chỉ giao tiếp với xã hội một cách lạnh lùng thông qua công việc hàng ngày. Họ luôn là những ẩn đố cho người xung quanh. Phải chăng họ đã hoàn toàn mất niềm tin nơi cuộc sống, mất niềm tin vào con người, nên đã tự đóng băng mình? Hay đơn giản là họ chọn cho mình một cách sống thờ ơ với tất cả mọi điều. Nhân vật chính là bà cụ chủ quán dường như đã để cho niềm lạc quan đi khỏi tâm hồn bà từ một thời điểm nào đó đã rất lâu, rất xa rồi trong quá khứ.
“Thật đáng tiếc, chúng tôi không in được hóa đơn thanh toán cho tình người! . - Một câu chuyện có thật. Tại một thành phố ở Ấn Độ, vị thương gia mất cả ngày trời thương thảo với đối tác. Mệt mỏi, ông vào một nhà hàng sang trọng, tự thưởng cho mình bữa tối thịnh soạn.
Quán tên Cổ Lũy quê người Gọi don bánh tráng ai cười mặc ai Hến thì xơi tạm anh hai Khá ngon gợi nhớ chuyện dài tình xưa Tháng ngày niên kỷ đẩy đưa Tuổi đời nay tóc đã vừa muối tiêu
Những năm gần đây, tôi ít thấy thơ lục bát xuất hiện trên báo chí hoặc các trang mạng văn chương. Thi thoảng, một hai bài nhen nhúm như ngọn đèn dầu leo lắt nhưng rồi lại tắt ngúm, chìm lịm dưới lượng thơ tự do ào ạt đổ vào thị trường thơ -12-5-2012
Con nhìn trắng tinh khôi Màu hoa lòng cao thượng Suốt một đời con thương Sâu nặng tình mẹ cha Con vui vẻ hát ca Dâng hoa thơm cho đời Xin nhớ mãi muôn đời Bông hoa ngày Vu Lan Trần Ngọc Vinh 01:39' Trăng 15/7
Nhân mùa Vu Lan năm Tân Mão (2011), Nguyễn Xuân Diện - Blog trân trọng giới thiệu chùm thơ về mẹ của nhà thơ Trần Vũ Long Mẹ tập đi Một đời tần tảo âu lo Giờ mẹ ốm yếu lò dò tập đi Nghẹn lòng con lệ tràn mi Con đau từng bước mẹ đi nhọc nhằn Trong nhà nào phải xa gần Mà chia từng đoạn nghỉ chân cho đều Bàn tay gầy guộc nhăn nheo Nuôi con bồng bế chống chèo tháng năm
BÊN NẤM MỒ CON . Phạm Ngọc Bảo ( 7.3.1992 - 22.7.2019 ) Ngủ đi con ngoan ! Ngủ đi con ! Chuyện đời coi đã trả nợ xong Hãy yên giấc mộng ngàn năm nhé Cha còn bận bịu chút trần gian Cha ôm nắm đất rắc lên mồ Đất này đất mẹ. Đất ông cha. Ấp ủ cho con vào sông núi Hồn con mai mốt nở đầy hoa
Mỗi năm hè về nhìn hoa phượng Rơi ngập trên đường nhớ người xưa Nơi đâu chân trời hay góc bể Hay ở cạnh tôi nhưng chẳng thưa? Bao năm tin mất lạc trời xa Nhớ người tôi nhớ phượng nở hoa Nhìn hoa những tưởng người đâu lạ “Mỗi sáng một hoa trước sân nhà” Trang Nguyễn – Mối tình hoa phượng
Đó là bài học về dân trí, dân khí, về cái đạo làm người cơ bản, mà xem ra người Nhật vẫn là bậc thầy dạy người Việt sau hơn một thế kỷ… Trong cuốn Phan Bội Châu Niên Biểu – Tự Phê Phán có đoạn kể rằng lúc mới đến Nhật (1905), Phan Bội Châu đã gặp một người phu xe Nhật Bản tốt bụng. Lúc đó Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm lộ phí để lên phố thị Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, có tên Ân Thừa Hiến.
Anh nhớ lắm em ơi Hà Nội phố́ Nhớ hàng cây nghiêng nắng đổ bên đường Nhớ hồ Gươm lăn tăn con sóng nhẹ Quyến rủ mơ màng ẩn hiện chiều sương Nhớ người em đang mỏi mắt mong chờ Một người đi vắng xa Hà Nội phố Chưa về cùng nhau nghe thu lá đổ
Bảo Trợ