Rét Bân Nhớ Mẹ

12 Tháng Ba 20194:57 CH(Xem: 560)

RÉT BÂN NHỚ MẸ

 

*

RÉT BÂN NHỚ MẸ

.

muadong-winterRét Bân vương má con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho, mẹ ạ

Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá? 

Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?

.

Mẹ ơi! 

Từ hồi Mẹ đi 

quanh con hơ hoác trống.

.

Mưa Bân chắt lọc

từ li ti hương xuân rất trong

Tình mẹ ấm nồng 

gom nhặt từ tháng ngày vất vả

tháng ngày ngược xuôi tất tả 

lần hồi mẹ áo nâu sờn...

.

Mưa Bân rất tròn

mỏng dầy xếp giọt

Trời thương Nàng Bân, Trời ban rét ngọt

Con xin Trời cho con nắng tươi

cho con thấy nụ cười

nhóng nhánh hạt na đen của mẹ.

.

Rét Bân rất nhẹ

Đủ lùa thông thống tháng ba.

Đủ cuốn tuổi đông con 

về Mẹ chốn bao la

Tìm hơi ấm Mẹ.

*.

Hà Nội, 08 tháng 03.2019

BÙI CỬU TRƯỜNG

LỜI BÌNH:

Sáng ngày 8 tháng 3, tôi được đọc một bài thơ tự sự, viết về MẸ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường. 

Bài thơ có tựa đề: RÉT BÂN NHỚ MẸ.

Tôi ấn tượng với bài thơ ở ngay những câu đầu:

"Rét Bân vương tay con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ

Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá? 

Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

Những câu thơ tự sự giản dị, mộc mạc, trĩu nặng nỗi niềm, từ hạt mưa vương vào tay, gợi nên nỗi lo dịu dàng thường trực: "Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ", rồi đột nhiên thay đổi tâm trạng, từ dàn trải tâm sự sang dồn nén những lo lắng: 

"Mẹ đủ ấm không/ khi trời lạnh giá?

Mẹ đủ ấm không/ khi đất buốt tê?"

Khiến người đọc sững lại, rồi trầm lặng khá lâu trước sức ám ảnh của những hình ảnh xuất hiện trong những thước phim rất ngắn. Đến đây, người đọc mới vừa thốt lên lời đồng cảm cùng tâm trạng xót thương của người con hiếu đễ với người Mẹ đã khuất, thì lại vỡ òa cảm xúc bằng những câu tự sự lắng đầy nước mắt. Sự nhớ thương trong đau xót, cút côi được dồn nén đến tận cùng bởi những câu thơ ngấn lệ, trầm buồn:

“Mẹ ơi

Từ hồi Mẹ đi 

quanh con hơ hoác trống.”

3 chữ “hơ hoác trống” đã diễn tả tất cả sự nhớ thương - mất mát - cút côi của người con khi mất Mẹ.

Tôi thích 4 câu thơ:

"Rét Bân vương tay con hạt mưa

Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ

Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá? 

Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

được viết ban đầu hơn so với 4 câu đã được nhà thơ chỉnh sửa.

Bởi theo cảm nhận của riêng tôi thì 4 câu chưa chỉnh sửa rất gợi cảm xúc với người đọc. Câu “Rét Bân vương tay con hạt mưa” gợi tâm trạng chông chênh, chới với của người con giữa trời mưa rét khi cô đơn, vắng (mất) Mẹ. Sự lặp lại cụm từ 4 chữ: "Mẹ đủ ấm không" ở 2 câu cuối khổ thơ: “Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?” - “Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?" nghe chân chất, mộc mạc, như tự nhiên bật ra trong tâm thức nhà thơ trước cái lạnh giá của tiết trời và chính sự lặp lại cụm từ 4 chữ ấy đã làm câu thơ thêm day dứt, xót xa. Câu thơ lấy nước mắt người đọc bởi sự tự nhiên, chân chất ấy. Nhưng với 2 câu thơ đã chỉnh sửa: “Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá?” - “Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?” thì sự cẩn thận về kiến thức, sự cầu toàn về ý thức tay nghề đã lấy đi nét mộc mạc, dung dị, khiến câu thơ trở nên thiếu nhựa. Sự rành mạch "rét Đài" - "rét Lộc" - “rét Bân” vì sự cầu toàn... ở 2 câu thơ trên là không cần thiết, bởi theo thiển nghĩ của người viết, sự rành rẽ câu chữ như thế khiến bạn đọc khó "phiêu" cùng bài thơ để khám phá và cảm thụ bài thơ, cũng vì thế mà làm bài thơ bớt hay.

Là kẻ lười đọc thơ nhưng tôi lại thích đọc thơ Bùi Cửu Trường, có lẽ vì cách dùng từ ngữ của bà khá độc đáo, sáng tạo nhưng vẫn giữ được chất dân dã, chân quê. Những câu: “Từ ngày mẹ đi/ quanh con hơ hoắc trống”, "lần hồi mẹ áo nâu sờn .."/ "Nhóng nhánh hạt na đen của Mẹ." hay: "Rét Bân rất nhẹ/ đủ lùa thông thống tháng ba/ đủ cuốn tuổi Đông con" trong RÉT BÂN NHỚ MẸ, tuy chưa phải là những câu thơ thật hay, những câu thơ tài hoa nhưng những câu thơ đậm dấu ấn rất riêng của Bùi Cửu Trường như thế thì không phải dễ làm, không phải cứ muốn là viết được.

*.

Hà Nội, chiều 08 tháng 03.2019

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
Anh cầu nguyện tâm mình luôn thanh tịnh Niệm Phật sát na, hy vọng mỗi ngày Giữa thế giới còn quá nhiều bất định Mặt trời lên mặt trời lặn bến này Nghe tiếng khóc của vầng trăng trốn chạy Nụ tầm xuân vừa hé đã vội tàn
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Tôi không ở Hà Nội, chỉ là thực đơn của quán cà phê này viết bằng giấy xi măng, thô ráp nhưng rất dịu dàng. Tôi không ở Hà Nội, chỉ là trên bàn có lọ hoa khô tím nhạt, bám bụi và cũ kĩ. Anh không hề ở đây, anh đang lọt thỏm giữa bình yên Hà Nội…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Chiều Tuyết Ven Rừng Rừng đầy tuyết này của ai tôi biết Ông ấy tuy chỉ ở miệt làng đây Sẽ chẳng nghi chiều lạnh tối nhất này Tôi lại ngắm ngàn cây nằm phủ trắng Con ngựa nhỏ nghe tôi ghìm cương thắng Chắc ngỡ ngàng nên hắn lắc lư đầu Sao lại dừng tại một chỗ đâu đâu Nơi mà phải còn lâu tới nông trại Rồi con vật như tỏ lòng ái ngại Khẻ động chuông như hỏi lại cùng tôi Chủ tớ mình sao cảnh vắng đơn côi Lại tìm đứng ven đồi bên hồ lạnh Nơi đây thật tĩnh yên và cô quạnh Cõi lòng ta thoáng chạnh nghĩ vô cùng Gió dịu dàng làm bông tuyết nhẹ rung Rừng thẳm đẹp kêu người chung tâm tưởng... Tuy tân khổ ngọt bùi đà nếm hưởng Nhưng còn đây ngất ngưởng việc phải làm Đời nhẹ nhàng hay mệt nhọc cũng kham. Lời tạm biệt để chiều lam gió cuốn... Thái Huy Long Trong bài thơ Stopping by Woods on a Snowy Evening, câu “ The woods are lovely, dark and deep.” cho ta thấy Frost nhìn thiên nhiên là một nơi đẹp yên lặng trong lành nhưng cũng là nơi bí hiểm sâu thẳm đó
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, trước giây phút từ trần, cụ Tú Lãm thì thầm dặn dò hai con của mình là Mai và Huy: “Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha.
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
LAIA SAN JOSÉ - Tác giả, giảng viên sử học tại đại học tư lập Madrid (Tây Ban Nha), đã mô tả vắn tắt lịch sử của phong trào nữ quyền (PTNQ: feminismo) dưới những hình dạng khác nhau, đặc biệt trong vòng ba thế kỷ gần đây tại Âu châu và Mỹ châu. Nguồn: https://historiadospuntocero.com/historia-las-mujeres-i-repaso-la-historia-del-feminismo (Trích Thời sự Thần học, số 79 (tháng 2/2018), tr. 121-137.) 1. Khái niệm : phong trào nữ quyền là gì? 2. Những giai đoạn của PTNQ 2.1 PTNQ tiền cận đại 2.2 Đợt một: PTNQ của chủ nghĩa Ánh sáng (từ cách mạng Pháp đến giữa thế kỷ XIX) 2.3 Đợt hai: PTNQ đòi phổ thông đầu phiếu (từ giữa thế kỷ XIX đến khi kết thúc thế chiến thứ hai) 2.3.1 PTNQ theo chủ nghĩa tự do 2.3.2 PTNQ theo chủ nghĩa xã hội 2.3.3 PTNQ vô chính phủ 2.4 Đợt ba: PTNQ đương đại (từ những cuộc cách mạng thập niên 60 đến nay) 2.4.1 PTNQ tự do 2.4.2 P
Bảo Trợ