Nghệ An Từng Vuột Mất Cơ Hội Trở Thành Kinh Đô Của Đại Việt

12 Tháng Ba 20194:14 CH(Xem: 518)

Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như:
ditich thanh co Vinh nghean(Di tích thành cổ Vinh còn sót lại (Ảnh: ST)

  • Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
  • Thời Hai Bà Trưng kinh đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).
  • Thời Ngô Quyền kinh đô lại được chọn là Cổ Loa.
  • Thời Đinh kinh đô đóng ở Hoa Lư (nay thuộc Trường Yên, Ninh Bình).
  • Các nhà Lý, Trần, hậu Lê, Mạc đều chọn Thăng Long (Hà nội ngày nay) để đóng đô.
  • Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (nay là Thanh Hóa).
  • Các đời chúa Nguyễn nhiều lần dời dinh, cuối cùng chọn Phú Xuân (Huế) làm chính dinh.
  • Nhà Tây Sơn chọn Quy Nhơn, rồi đến Phú Xuân.
  • Nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô.


Nhưng bên cạnh những vùng đất trên còn phải kể đến Nghệ An, vùng đất suýt chút nữa đã trở thành kinh đô của nước ta vào thời nhà Tây Sơn, dưới sự trị vì của vua Quang Trung.

Quyết tâm xây kinh đô mới ở Nghệ An

Từ năm 1788, Nguyễn Huệ đã muốn xây một đô thành mới ở Phù Thạch, Nghệ An thay cho kinh đô Phú Xuân. Ông chọn La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm việc này.

Đô thành mới được đặt tên là “Phượng Hoàng Trung Đô” – “phượng hoàng” là tên một loài chim đã gắn với văn hóa truyền thống, còn “trung đô” là bởi nơi đây nằm giữa hai thành chính quan trọng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ: Thăng Long và Phú Xuân. Phượng Hoàng Trung Đô cách Thăng Long 300 km, cách Phú Xuân 300 km.

Nguyễn Huệ đã gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp ngày 1 tháng 6 năm Mậu Thân (1788) với nội dung như sau:

Chiếu truyền cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được biết: Ngày trước ủy thác cho Phu tử về Nghệ An xem đất đóng đô cho kịp kỳ này ngự giá ở Bắc về trú. Sao ta về tới đây thấy chưa được việc gì? Nay ta hãy hồi giá về Phú Xuân cho sĩ tốt nghỉ ngơi. Vậy ban chiếu xuống cho Phu tử nên sớm cùng ông Trấn thủ Thận tính toán và làm việc xem đất đóng đô tại Phù Thạch

Khi biết Nguyễn Huệ muốn xây kinh đô mới ở Nghệ An trong thời gian ngắn, có lẽ lo lắng việc này sẽ làm khổ dân địa phương, nên Nguyễn Thiếp chưa thực thi. Trấn thủ Nguyễn Thận trình tấu thư cho Nguyễn Huệ báo La Sơn Phu Tử chưa chịu xem đất nên công trình chưa thể khởi công được.

Nguyễn Huệ gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp trách cứ việc để chậm trễ, Nguyễn Thiếp gửi thư đến Phú Xuân khuyên Nguyễn Huệ không nên chọn vùng Phù Thạch, vì nơi ấy kề núi kề sông, đất chật hẹp, bờ sông lại hay sạt lở, việc đóng đô nơi ấy không thuận lợi.

Nguyễn Huệ trả lời trong tờ chiếu vào ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức 11, tức năm 1788, đại ý rằng tiếp nhận lời khuyên của Nguyễn Thiếp, nhưng vẫn muốn chọn đóng ở Nghệ An:

Nếu bảo rằng những chỗ như Phượng Hoàng, Khánh Sơn không được đô hội thì sao chẳng tìm chỗ tốt khác cho thỏa ý quả cung trông mong? … Nhớ buổi hồi loan kỳ trước lúc qua Hoành Sơn, quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để  xây kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy.

Nguyễn Huệ cũng giải thích thêm rằng:  

Nay kinh đô ở Phú Xuân thì hình thế cách trở, ở xa trị Bắc Hà địa thế khó khăn. Theo đình thần nghị rằng chỉ đóng đô ở Nghệ An là đường vừa cân, vừa khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người  tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về.

Như vậy quyết định này được đưa ra chỉ vài tháng trước khi Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi vua. Cũng trong tờ chiếu đó, Nguyễn Huệ còn ghi nhận ở Nghệ An “hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây dựng kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy!”.

Phong thủy núi Dũng Quyết, Nghệ An – Nơi được chọn xây dựng kinh thành mới

Truyền thuyết kể rằng, thấy Nguyễn Huệ vẫn quyết xây kinh đô mới, Nguyễn Thiếp liền đi Nghệ An một chuyến. Vốn giỏi về dịch lý và phong thủy, ông đã xem kỹ hai cuốn sách của Cao Biền do Hoàng Phúc mang sang nhằm triệt phá phong thủy vùng Giao Chỉ (sau đó Hoàng Phúc bị nghĩa quân Lam Sơn bắt được và thu giữ hai cuốn sách này). Hai cuốn cách này có nói đến vùng đất quý ở núi Dũng Quyết, nên Nguyễn Thiếp quyết đến nơi đây một chuyến.

Đến khu vực núi Dũng Quyết, Nguyễn Thiếp tìm thấy Tổ sơn xuất phát từ khe Bò Đái nằm trong 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, khí mạch chạy xuống núi Dũng Quyết, bao bọc xung quanh rồi vòng lại Tổ sơn. Núi Dũng Quyết thành nơi tụ khí, có đủ âm dương rất đắc địa.

blank
Sông Lam – Núi Hồng Lĩnh. (Ảnh từ nghean.gov.vn)

Từ phía sông Lam quan sát sẽ thấy bên trái có Thanh Long, chính là dòng sông Lam; bên phải có Bạch Hổ chính là vùng núi Hà Tĩnh, cùng đưa khí tụ về núi Dũng Quyết. Còn ở mặt trước phía Đông núi Dũng Quyết là Chu Tước và phía sau là Huyền Vũ làm hậu phương. Nhận thấy nơi đây đắc địa hiếm có, Nguyễn Thiếp quyết định chọn làm nơi để xây “Phương Hoàng Trung Đô”.

Ông chọn vị trí xây dựng ở chỗ có ngọn núi nằm ngay giữa núi Phượng Hoàng và núi Kỳ Lân (còn gọi là núi Cánh Phượng và núi Con Mèo) vì nhận thấy nơi đây có đủ Long – Ly – Quy – Phượng. Ngày nay, địa điểm này thuộc xã Yên Trường, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Nguyễn Thiếp báo cho Nguyễn Huệ về vùng đất mới tìm được ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đồng ý nghe theo lời khuyên này.

Phượng Hoàng Trung Đô
Di tích “Phượng Hoàng Trung Đô”. (Ảnh từ ditichlichsuvanhoa.com)

Hiện nay dưới chân núi Dũng Quyết vẫn còn dấu tích của Phương Hoàng Trung Đô rộng khoảng 10 mẫu, với hai vòng thành là thành Nội và thành Ngoại hình thang. Thành ngoại cao 3 đến 4m, chu vi 2.820 m, diện tích 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3m, sâu 3m; thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, cao 2m, chu vi gần 1.680m. Ở giữa có tòa lầu 3 tầng nối với điện Thái Hòa. Xung quanh thành có các đồn.

Vì sao “Phượng Hoàng Trung Đô” cuối cùng không được chọn?

Theo các nguồn sử liệu thì Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng trong thời gian 4 năm, từ năm 1788 đến 1792, trùng với thời điểm Nghệ An bị mất mùa, dân tình đói kém. Tuy nhiên Nguyễn Huệ vẫn ban chiếu yêu cầu xây dựng: “Những công việc to, tạm thời hoãn lại. Nhưng Sở Ngũ Hành thì không thể lưỡng lự được, cần phải hoàn thành sớm”. Theo sử liệu nước ngoài thì người dân đói khổ nên phản đối, mạnh ai nấy trốn khiến việc xây dựng gặp khó khăn, việc cưỡng ép xây dựng trong thời điểm mất mùa khiến người dân oán thán.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Phượng Hoàng Trung Đô nhìn từ trên cao. (Tranh vẽ tay qua Wikimapia)

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cũng từng đi thị sát việc xây dựng kinh đô mới vào các năm 1789, 1791, 1792. Thế nhưng khi việc xây dựng “Phượng Hoàng Trung Đô” đang gấp rút thì vua Quang Trung bị bệnh nặng rồi mất. Về nguyên nhân vua Quang Trung bị bệnh thì cũng có những ghi chép khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, bởi vì vua Quang Trung khi giành được Phú Xuân đã phá lăng tẩm 8 đời chúa Nguyễn, ném thi thể xuống sông, mạo phạm những vị chúa đã có công mở mang bờ cõi, nên sau này mới sinh bệnh (Đây cũng là nguyên nhân vua Gia Long đối xử tàn tệ với hài cốt của vua Quang Trung sau này). (Xem loạt bài Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ Đại Việt như thế nào?)


Sách  “Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện” ghi rằng:

Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm đến lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc, áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm. Nói vừa dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bệnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An.

Sách “Ngụy Tây liệt truyện” chép:

Từ đó bệnh của Vua không chữa khỏi được và trở nên nguy kịch. Trước khi mất vua Quang Trung căn dặn các cận thần rằng: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không khỏi được. Thái tử (Quang Toản) tư chất hơn cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Phúc Ánh) là quốc thù, mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lảo thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân.

Thế nhưng khi vua Quang Trung mất, việc xây dựng kinh đô mới bị gác lại, Quang Toản lên ngôi đã không thực hiện việc dời đô theo ý vua cha.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Điện thờ vua Quang Trung. (Ảnh qua Wikimapia)

Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đưa quân tiến đánh Phú Xuân, vua Quang Toản chạy ra Thăng Long. Lúc này lầu rồng 3 tầng ngay chính giữa “Phượng Hoàng Trung Đô” ở Nghệ An đột nhiên sụp đổ.

Sách Hoang Lê nhất thống chí mô tả: 

Tháng 6 mùa hè năm ấy (tức 1801), thình lình viên trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Thận sai người báo tin là Lầu Rồng ba tầng ở đấy tự dưng đổ sụp, những người nghe tin đều cho là điềm chẳng lành.

Quả nhiên sang năm (1802) thì nhà Tây Sơn mất.

Ngày nay, qua thời gian và sự tàn phá trong loạn lạc, “Phượng Hoàng Trung Đô” chỉ còn lại những dấu tích mờ nhạt ở phía Nam của thành phố Vinh.

Trần Hưng
Theo Tri Thuc VN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
Anh cầu nguyện tâm mình luôn thanh tịnh Niệm Phật sát na, hy vọng mỗi ngày Giữa thế giới còn quá nhiều bất định Mặt trời lên mặt trời lặn bến này Nghe tiếng khóc của vầng trăng trốn chạy Nụ tầm xuân vừa hé đã vội tàn
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Tôi không ở Hà Nội, chỉ là thực đơn của quán cà phê này viết bằng giấy xi măng, thô ráp nhưng rất dịu dàng. Tôi không ở Hà Nội, chỉ là trên bàn có lọ hoa khô tím nhạt, bám bụi và cũ kĩ. Anh không hề ở đây, anh đang lọt thỏm giữa bình yên Hà Nội…
RÉT BÂN NHỚ MẸ - NGÀY 8 THÁNG 3 * RÉT BÂN NHỚ MẸ . Rét Bân vương má con hạt mưa Kiểu mưa Bân này dễ ho, mẹ ạ Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá? Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê? . Mẹ ơi! Từ hồi Mẹ đi quanh con hơ hoác trống. .
Chiều Tuyết Ven Rừng Rừng đầy tuyết này của ai tôi biết Ông ấy tuy chỉ ở miệt làng đây Sẽ chẳng nghi chiều lạnh tối nhất này Tôi lại ngắm ngàn cây nằm phủ trắng Con ngựa nhỏ nghe tôi ghìm cương thắng Chắc ngỡ ngàng nên hắn lắc lư đầu Sao lại dừng tại một chỗ đâu đâu Nơi mà phải còn lâu tới nông trại Rồi con vật như tỏ lòng ái ngại Khẻ động chuông như hỏi lại cùng tôi Chủ tớ mình sao cảnh vắng đơn côi Lại tìm đứng ven đồi bên hồ lạnh Nơi đây thật tĩnh yên và cô quạnh Cõi lòng ta thoáng chạnh nghĩ vô cùng Gió dịu dàng làm bông tuyết nhẹ rung Rừng thẳm đẹp kêu người chung tâm tưởng... Tuy tân khổ ngọt bùi đà nếm hưởng Nhưng còn đây ngất ngưởng việc phải làm Đời nhẹ nhàng hay mệt nhọc cũng kham. Lời tạm biệt để chiều lam gió cuốn... Thái Huy Long Trong bài thơ Stopping by Woods on a Snowy Evening, câu “ The woods are lovely, dark and deep.” cho ta thấy Frost nhìn thiên nhiên là một nơi đẹp yên lặng trong lành nhưng cũng là nơi bí hiểm sâu thẳm đó
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, trước giây phút từ trần, cụ Tú Lãm thì thầm dặn dò hai con của mình là Mai và Huy: “Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha.
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
LAIA SAN JOSÉ - Tác giả, giảng viên sử học tại đại học tư lập Madrid (Tây Ban Nha), đã mô tả vắn tắt lịch sử của phong trào nữ quyền (PTNQ: feminismo) dưới những hình dạng khác nhau, đặc biệt trong vòng ba thế kỷ gần đây tại Âu châu và Mỹ châu. Nguồn: https://historiadospuntocero.com/historia-las-mujeres-i-repaso-la-historia-del-feminismo (Trích Thời sự Thần học, số 79 (tháng 2/2018), tr. 121-137.) 1. Khái niệm : phong trào nữ quyền là gì? 2. Những giai đoạn của PTNQ 2.1 PTNQ tiền cận đại 2.2 Đợt một: PTNQ của chủ nghĩa Ánh sáng (từ cách mạng Pháp đến giữa thế kỷ XIX) 2.3 Đợt hai: PTNQ đòi phổ thông đầu phiếu (từ giữa thế kỷ XIX đến khi kết thúc thế chiến thứ hai) 2.3.1 PTNQ theo chủ nghĩa tự do 2.3.2 PTNQ theo chủ nghĩa xã hội 2.3.3 PTNQ vô chính phủ 2.4 Đợt ba: PTNQ đương đại (từ những cuộc cách mạng thập niên 60 đến nay) 2.4.1 PTNQ tự do 2.4.2 P
Bảo Trợ