Nghệ An Từng Vuột Mất Cơ Hội Trở Thành Kinh Đô Của Đại Việt

12 Tháng Ba 20194:14 CH(Xem: 594)

Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như:
ditich thanh co Vinh nghean(Di tích thành cổ Vinh còn sót lại (Ảnh: ST)

  • Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
  • Thời Hai Bà Trưng kinh đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).
  • Thời Ngô Quyền kinh đô lại được chọn là Cổ Loa.
  • Thời Đinh kinh đô đóng ở Hoa Lư (nay thuộc Trường Yên, Ninh Bình).
  • Các nhà Lý, Trần, hậu Lê, Mạc đều chọn Thăng Long (Hà nội ngày nay) để đóng đô.
  • Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (nay là Thanh Hóa).
  • Các đời chúa Nguyễn nhiều lần dời dinh, cuối cùng chọn Phú Xuân (Huế) làm chính dinh.
  • Nhà Tây Sơn chọn Quy Nhơn, rồi đến Phú Xuân.
  • Nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô.


Nhưng bên cạnh những vùng đất trên còn phải kể đến Nghệ An, vùng đất suýt chút nữa đã trở thành kinh đô của nước ta vào thời nhà Tây Sơn, dưới sự trị vì của vua Quang Trung.

Quyết tâm xây kinh đô mới ở Nghệ An

Từ năm 1788, Nguyễn Huệ đã muốn xây một đô thành mới ở Phù Thạch, Nghệ An thay cho kinh đô Phú Xuân. Ông chọn La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm việc này.

Đô thành mới được đặt tên là “Phượng Hoàng Trung Đô” – “phượng hoàng” là tên một loài chim đã gắn với văn hóa truyền thống, còn “trung đô” là bởi nơi đây nằm giữa hai thành chính quan trọng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ: Thăng Long và Phú Xuân. Phượng Hoàng Trung Đô cách Thăng Long 300 km, cách Phú Xuân 300 km.

Nguyễn Huệ đã gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp ngày 1 tháng 6 năm Mậu Thân (1788) với nội dung như sau:

Chiếu truyền cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được biết: Ngày trước ủy thác cho Phu tử về Nghệ An xem đất đóng đô cho kịp kỳ này ngự giá ở Bắc về trú. Sao ta về tới đây thấy chưa được việc gì? Nay ta hãy hồi giá về Phú Xuân cho sĩ tốt nghỉ ngơi. Vậy ban chiếu xuống cho Phu tử nên sớm cùng ông Trấn thủ Thận tính toán và làm việc xem đất đóng đô tại Phù Thạch

Khi biết Nguyễn Huệ muốn xây kinh đô mới ở Nghệ An trong thời gian ngắn, có lẽ lo lắng việc này sẽ làm khổ dân địa phương, nên Nguyễn Thiếp chưa thực thi. Trấn thủ Nguyễn Thận trình tấu thư cho Nguyễn Huệ báo La Sơn Phu Tử chưa chịu xem đất nên công trình chưa thể khởi công được.

Nguyễn Huệ gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp trách cứ việc để chậm trễ, Nguyễn Thiếp gửi thư đến Phú Xuân khuyên Nguyễn Huệ không nên chọn vùng Phù Thạch, vì nơi ấy kề núi kề sông, đất chật hẹp, bờ sông lại hay sạt lở, việc đóng đô nơi ấy không thuận lợi.

Nguyễn Huệ trả lời trong tờ chiếu vào ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức 11, tức năm 1788, đại ý rằng tiếp nhận lời khuyên của Nguyễn Thiếp, nhưng vẫn muốn chọn đóng ở Nghệ An:

Nếu bảo rằng những chỗ như Phượng Hoàng, Khánh Sơn không được đô hội thì sao chẳng tìm chỗ tốt khác cho thỏa ý quả cung trông mong? … Nhớ buổi hồi loan kỳ trước lúc qua Hoành Sơn, quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để  xây kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy.

Nguyễn Huệ cũng giải thích thêm rằng:  

Nay kinh đô ở Phú Xuân thì hình thế cách trở, ở xa trị Bắc Hà địa thế khó khăn. Theo đình thần nghị rằng chỉ đóng đô ở Nghệ An là đường vừa cân, vừa khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người  tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về.

Như vậy quyết định này được đưa ra chỉ vài tháng trước khi Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi vua. Cũng trong tờ chiếu đó, Nguyễn Huệ còn ghi nhận ở Nghệ An “hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây dựng kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy!”.

Phong thủy núi Dũng Quyết, Nghệ An – Nơi được chọn xây dựng kinh thành mới

Truyền thuyết kể rằng, thấy Nguyễn Huệ vẫn quyết xây kinh đô mới, Nguyễn Thiếp liền đi Nghệ An một chuyến. Vốn giỏi về dịch lý và phong thủy, ông đã xem kỹ hai cuốn sách của Cao Biền do Hoàng Phúc mang sang nhằm triệt phá phong thủy vùng Giao Chỉ (sau đó Hoàng Phúc bị nghĩa quân Lam Sơn bắt được và thu giữ hai cuốn sách này). Hai cuốn cách này có nói đến vùng đất quý ở núi Dũng Quyết, nên Nguyễn Thiếp quyết đến nơi đây một chuyến.

Đến khu vực núi Dũng Quyết, Nguyễn Thiếp tìm thấy Tổ sơn xuất phát từ khe Bò Đái nằm trong 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, khí mạch chạy xuống núi Dũng Quyết, bao bọc xung quanh rồi vòng lại Tổ sơn. Núi Dũng Quyết thành nơi tụ khí, có đủ âm dương rất đắc địa.

blank
Sông Lam – Núi Hồng Lĩnh. (Ảnh từ nghean.gov.vn)

Từ phía sông Lam quan sát sẽ thấy bên trái có Thanh Long, chính là dòng sông Lam; bên phải có Bạch Hổ chính là vùng núi Hà Tĩnh, cùng đưa khí tụ về núi Dũng Quyết. Còn ở mặt trước phía Đông núi Dũng Quyết là Chu Tước và phía sau là Huyền Vũ làm hậu phương. Nhận thấy nơi đây đắc địa hiếm có, Nguyễn Thiếp quyết định chọn làm nơi để xây “Phương Hoàng Trung Đô”.

Ông chọn vị trí xây dựng ở chỗ có ngọn núi nằm ngay giữa núi Phượng Hoàng và núi Kỳ Lân (còn gọi là núi Cánh Phượng và núi Con Mèo) vì nhận thấy nơi đây có đủ Long – Ly – Quy – Phượng. Ngày nay, địa điểm này thuộc xã Yên Trường, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Nguyễn Thiếp báo cho Nguyễn Huệ về vùng đất mới tìm được ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đồng ý nghe theo lời khuyên này.

Phượng Hoàng Trung Đô
Di tích “Phượng Hoàng Trung Đô”. (Ảnh từ ditichlichsuvanhoa.com)

Hiện nay dưới chân núi Dũng Quyết vẫn còn dấu tích của Phương Hoàng Trung Đô rộng khoảng 10 mẫu, với hai vòng thành là thành Nội và thành Ngoại hình thang. Thành ngoại cao 3 đến 4m, chu vi 2.820 m, diện tích 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3m, sâu 3m; thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, cao 2m, chu vi gần 1.680m. Ở giữa có tòa lầu 3 tầng nối với điện Thái Hòa. Xung quanh thành có các đồn.

Vì sao “Phượng Hoàng Trung Đô” cuối cùng không được chọn?

Theo các nguồn sử liệu thì Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng trong thời gian 4 năm, từ năm 1788 đến 1792, trùng với thời điểm Nghệ An bị mất mùa, dân tình đói kém. Tuy nhiên Nguyễn Huệ vẫn ban chiếu yêu cầu xây dựng: “Những công việc to, tạm thời hoãn lại. Nhưng Sở Ngũ Hành thì không thể lưỡng lự được, cần phải hoàn thành sớm”. Theo sử liệu nước ngoài thì người dân đói khổ nên phản đối, mạnh ai nấy trốn khiến việc xây dựng gặp khó khăn, việc cưỡng ép xây dựng trong thời điểm mất mùa khiến người dân oán thán.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Phượng Hoàng Trung Đô nhìn từ trên cao. (Tranh vẽ tay qua Wikimapia)

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cũng từng đi thị sát việc xây dựng kinh đô mới vào các năm 1789, 1791, 1792. Thế nhưng khi việc xây dựng “Phượng Hoàng Trung Đô” đang gấp rút thì vua Quang Trung bị bệnh nặng rồi mất. Về nguyên nhân vua Quang Trung bị bệnh thì cũng có những ghi chép khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, bởi vì vua Quang Trung khi giành được Phú Xuân đã phá lăng tẩm 8 đời chúa Nguyễn, ném thi thể xuống sông, mạo phạm những vị chúa đã có công mở mang bờ cõi, nên sau này mới sinh bệnh (Đây cũng là nguyên nhân vua Gia Long đối xử tàn tệ với hài cốt của vua Quang Trung sau này). (Xem loạt bài Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ Đại Việt như thế nào?)


Sách  “Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện” ghi rằng:

Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm đến lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc, áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm. Nói vừa dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bệnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An.

Sách “Ngụy Tây liệt truyện” chép:

Từ đó bệnh của Vua không chữa khỏi được và trở nên nguy kịch. Trước khi mất vua Quang Trung căn dặn các cận thần rằng: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không khỏi được. Thái tử (Quang Toản) tư chất hơn cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Phúc Ánh) là quốc thù, mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lảo thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân.

Thế nhưng khi vua Quang Trung mất, việc xây dựng kinh đô mới bị gác lại, Quang Toản lên ngôi đã không thực hiện việc dời đô theo ý vua cha.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Điện thờ vua Quang Trung. (Ảnh qua Wikimapia)

Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đưa quân tiến đánh Phú Xuân, vua Quang Toản chạy ra Thăng Long. Lúc này lầu rồng 3 tầng ngay chính giữa “Phượng Hoàng Trung Đô” ở Nghệ An đột nhiên sụp đổ.

Sách Hoang Lê nhất thống chí mô tả: 

Tháng 6 mùa hè năm ấy (tức 1801), thình lình viên trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Thận sai người báo tin là Lầu Rồng ba tầng ở đấy tự dưng đổ sụp, những người nghe tin đều cho là điềm chẳng lành.

Quả nhiên sang năm (1802) thì nhà Tây Sơn mất.

Ngày nay, qua thời gian và sự tàn phá trong loạn lạc, “Phượng Hoàng Trung Đô” chỉ còn lại những dấu tích mờ nhạt ở phía Nam của thành phố Vinh.

Trần Hưng
Theo Tri Thuc VN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là "Lấy vợ miền quê" của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia. Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây tức 19 tuổi ta mà tôi đã... "muốn vợ"! Con trai mà “muốn" chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy mà chỉ hàng “thiếu gia”... ở tỉnh như tôi mới có.
Khuôn viên trường trong những giờ học yên vắng đến lạ, hôm nay tôi ở lại trường vì có giờ học ngoại khóa vào buổi chiều. Cái cảm giác này, đã bao lần tôi bắt gặp mình thơ thẫn trong dòng cảm xúc miên man của những buổi trưa vắng lặng như thế này. Sau giờ ăn trưa, tôi mang theo trên mình chiếc ba lô con cốc dùng để đựng tập sách của mình lững thững đi về khoảng đất trống sau trường. Đây là nơi mà theo tôi đó là nơi đẹp nhất của ngôi trường không quá lớn này.
Ngụ Ngôn Mẹ - (Irene Temple Bailey) Người mẹ trẻ đặt chân trên con đường đời.“Đường còn xa lắm không?” Bà hỏi. Người dẫn đường trả lời: “Còn xa lắm, và đầy chông gai nữa . Bà sẽ già cỗi trước khi đi đến cuối con đường. Tuy vậy, cái cuối cùng bao giờ cũng tốt đẹp hơn lúc khởi đầu”. Nhưng người mẹ trẻ tỏ ra sung sướng. Bà không tin rằng lại có điều gì tốt đẹp hơn những năm tháng bà được làm người mẹ. Vì vậy, bà thản nhiên vui đùa với các con, bẻ cho chúng những bông hoa tươi thắm bên đường, tắm chúng trong những dòng suối trong mát. Nhìn những tia nắng mặt trời nhẩy múa xung quanh con mình, bà mẹ trẻ cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời, bà kêu lên: “Liệu còn có điều gì đáng yêu hơn cuộc sống này nữa không?”
Bồng bồng con nín con ơi Dưới sông cá lội, trên trời chim bay Ước gì mẹ có mười tay Tay kia bắt cá, tay này bắn chim Một tay chuốt chỉ luồn kim Một tay làm ruộng, tay tìm hái rau Một tay ôm ấp con đau Một tay vay gạo, tay cầu cúng ma Một tay khung cửi guồng xa Một tay bếp nước, lo nhà nắng mưa Một tay đi củi muối dưa Còn tay van lạy, bẩm thưa, đỡ đòn Tay nào để giữ lấy con Tay lau nước mắt, mẹ còn thiếu tay Bồng bồng con ngủ cho say
Khi nào thấy, trên đường dài mệt mỏi Cần nghỉ ngơi đôi chút cạnh dòng sông, Em hãy đến tìm tôi nơi bến đợi: Tán đa tôi bóng mát vốn quen dừng. Khi nào thấy, đời buồn gặm nhấm,
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi Trong khóm vi vu rào rạt mãi Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
không có em, anh vẫn yêu tha thiết Chỉ trời xanh là biết mối tình ta Vì đường đời đã phải chia xa Dẫu trái tim hai đứa cùng đau nhói. Trời Tây Hồ nắng vờn trong gió mới Như anh-em ngày ấy, quấn bên nhau Bóng trúc xinh soi dòng nước xanh màu Cứ tưởng sẽ đời đời và mãn kiếp. Em vật vã đêm ngày, anh vẫn biết Những thương em, chỉ biết ngóng trời xa Ca lên em ! Cõi trần có phong ba Tình yêu sẽ dẫn ta vào bất tử ! Em xinh đẹp, đất trời còn quyến rũ Gái má hồng... tạo hóa phải ghen Anh bôn ba nửa trái đất cũng yếu mềm Nặng lời thề với em ghi tấc dạ. Miền sông nước: Ôi, mênh mang trắng xóa Có em tôi ở đó, đứng chờ mong Ta chia tay bởi duyên phận không thành Anh ra đi ngày đêm thường trăn trở.
Mẹ là cơn gió mùa thu Cho con mát mẻ lời ru năm nào Mẹ là đêm sáng trăng sao Soi đường chỉ lối con vào bến mơ Mẹ luôn mong mỏi đợi chờ Cho con thành tựu được nhờ tấm thân Mẹ thường âu yếm ân cần Bảo ban chỉ dạy những lần con sai Mẹ là tia nắng ban mai Sưởi con ấm lại đêm dài giá băng Lòng con vui sướng nào bằng Mẹ luôn bênh cạnh …nhọc nhằn trôi đi Mẹ ơi con chẳng ước gì Chỉ mong có Mẹ chuyện gì cũng qua Vui nào bằng có Mẹ Cha Tình thâm máu mủ ruột rà yêu thương Cho con dòng sữa ngọt đường Mẹ là ánh sáng vầng dương dịu kỳ
Tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ lại về, làm tôi nhớ đến Mẹ tôi và liên tưởng đến một kỷ niệm đẹp thời niên thiếu. Hồi đó, mỗi năm đến tháng Hoa, đối với tôi là cả một tháng tìm tòi sáng kiến để trang trí bàn thờ Đức Mẹ. Mẹ tôi giao “công tác” trong tháng Năm cho tôi là trang trí bàn thờ, chưng hoa đèn nến cho bốn lần đọc kinh dâng kính Đức Mẹ tại nhà tôi. (Post 4/5/2013)
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa… - Ngày của mẹ – con dâng lời, công ơn của mẹ trọn đời con ghi -
Bảo Trợ