Gửi Gắm Mùa Thu

05 Tháng Mười 20181:12 SA(Xem: 398)

Gửi Gắm Mùa Thu
(Từ bài To Autumn của John Keats)


fall leaves - la thuSương về tiết dịu ươm màu quả
Ấp ủ Mùa Thu với nắng lành
Chung sức làm nho đầy trái mọng
Dây bò phủ kín máng nhà tranh

Vườn táo cong oằn với trái thơm
Chín ngon vào giữa ruột thêm hườm
Căng phồng bầu bí dòn nâu dẻ
Nhụy mật nuôi ong cứ vẫn tươm

Ong lượn tìm hoa chẳng chút lo
Tưởng rằng thời tiết ấm trời cho
Mãi là quí báu kho vô tận
Tổ chứa tràn đầy mật ắp no

Ai chẳng thấy Thu giữa cửa hàng
Hay ngoài thoáng rộng lúc mùa sang
Thu ngồi lơ đễnh nền phơi hạt
Tóc xoã gió hiu đến quạt sàng

Trên cày nửa luống Thu buồn ngủ
Ngây ngất mùi hăng của túc hoa
Quên bẵng là mình tay bận hái
Nên chùm hoa dại bỏ sót qua


Thu cũng nhiều khi bộ láo liên
Như người đi mót ở trong miền
Hay là đau đáu nhìn chằm chặp
Táo bọt phập phều đã dậy men

Luyến nhớ làm chi khúc nhạc Xuân
Tiếng Thu cũng đậm sắc xa gần
Những đám mây tầng đâu vướng trãi
Nhạt nhòa ngày thở phút phù vân

Bất giác chiều ươm nắng rạ đồng
Côn trùng than vãn khúc chờ trông
Bờ sông liễu tỉ tê trầm bỗng
Theo gió nhẹ đưa tĩnh lặng dòng

Bên đồi trừu tới lứa be he
Hợp tấu dế lên khúc nhạc bè
Cổ đỏ chim vườn ca lảnh lót
Sang mùa én rạng hót về quê

Thái Huy Long

Bài thơ To Autumn được xem là một trong nhũng bài phổ biến nhất trong thế giới Anh Ngữ và là bài thơ được cho là hay nhất của John Keats.(Owlcation)
John Keats (October 31, 1795 – February 23, 1821) tốt nghiệp y sĩ giải phẩu nhưng chỉ thích văn thơ. Ông chết sớm vào tuổi 25 vì bị lao phổi như mẹ và anh trong gia đình.

Trong bài thơ này ông xem mùa Thu như một bà tiên đã cùng với Trời làm cho vụ mùa sung mãn nhưng cũng có nét tàn nhẫn. Thu dùng lưỡi hái cắt hoa màu, làm ong mật cứ lầm tưởng là hoa nở nhụy sẽ không khi nào dứt, trừu sinh đẻ mùa Xuân nay đã tới lứa (làm thịt), giun dế than vãn mùa Thu, chim thiên di …. Có lẽ những ý nghĩ buồn thảm xen lẫn trong cảnh vật nên thơ đã biểu lộ tâm trạng của người biết mình sẽ chẳng còn sống bao lâu (dùng chữ conspiring để nói bà Thu và Trời đã “mưu toan” cho vụ mùa sung mãn, hook và swat khô khan và độc ác !).

Thiện và ác ngàn đời vẫn là chu kỳ bất biến của Tạo Hoá mà vạn vật phải chấp nhận sự chuyển mùa thôi. Hãy quên đi khúc nhạc Xuân vì Thu cũng có những nhịp điệu đầy sắc màu trữ tình cá biệt. Côn trùng rỉ rả rồi cũng tìm phương cách trường tồn giống nòi và chim chuẩn bị thiên di ….

To Autumn
Season of mists and mellow fruitfulness,
Close bosom-friend of the maturing sun;
Conspiring with him how to load and bless
With fruit the vines that round the thatch-eaves run;
To bend with apples the mossed cottage-trees,
And fill all fruit with ripeness to the core;
To swell the gourd, and plump the hazel shells
With a sweet kernel; to set budding more,
And still more, later flowers for the bees,
Until they think warm days will never cease,
For Summer has o'er-brimmed their clammy cell.

Who hath not seen thee oft amid thy store?
Sometimes whoever seeks abroad may find
Thee sitting careless on a granary floor,
Thy hair soft-lifted by the winnowing wind;
Or on a half-reaped furrow sound asleep,
Drowsed with the fume of poppies, while thy hook
Spares the next swath and all its twined flowers;
And sometimes like a gleaner thou dost keep
Steady thy laden head across a brook;
Or by a cider-press, with patient look,
Thou watchest the last oozings, hours by hours.

Where are the songs of Spring? Ay, where are they?
Think not of them, thou hast thy music too,---
While barred clouds bloom the soft-dying day,
And touch the stubble-plains with rosy hue;
Then in a wailful choir, the small gnats mourn
Among the river sallows, borne aloft
Or sinking as the light wind lives or dies;
And full-grown lambs loud bleat from hilly bourn;
Hedge-crickets sing; and now with treble soft
The redbreast whistles from a garden-croft,
And gathering swallows twitter in the skies.
John Keats

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Alexander Đại đế là một trong những vị tướng vĩ đại của lịch sử. Trước khi ra đi, ông đã cho gọi các sỹ quan và truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Mọi người xung quanh đều rất tò mò và ngạc nhiên về những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander was a great king. On his way home from conquering many countries, he came down with an illness. At that moment, his captured territories, powerful army, sharp swords, and wealth all had no meaning to him. He realized that death would soon arrive and he would be unable to return to his homeland. He told his officers: “I will soon leave this world. I have three final wishes. You need to carry out what I tell you”. His generals, in tears, agreed. be (un)able to V: (không) có khả năng làm gì need to: cần làm gì Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ôn
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh) - Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
NHỮNG BỨC THƯ ĐỂ ĐỜI (KỲ 5): LÊ THÁI TỔ LÊ LỢI ‘THÀ NGƯỜI PHỤ TA, TA CHỚ PHỤ NGƯỜI’ - Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Trên Trái đất có vô số loài cây, mỗi cây một dáng vẻ, một mùi hương. Trong đó có một loại cây khá lạ, hễ cứ chạm vào hoặc rung lắc là các lá khép lại. Có rất nhiều sự tích về cây xấu hổ, chúng ta cùng tìm hiểu một câu chuyện dưới đây lí giải về nguồn gốc
Nếu không có tiếng súng bên ngoài làm tôi thức giấc, thì có lẽ đêm vẫn còn là một nỗi buồn chảy quanh như một khúc sông lạc nguồn. Cơn mưa chiều đã tạnh từ bao giờ. Tiếng gió rung qua liếp cửa từng hồi đã làm gẫy đổ giấc mơ của tôi, trong đó nụ hôn của Ngải Hương trở thành đậm đặc trên môi, rã rời và xao xuyến làm sao. Trong giấc mơ tôi thấy tôi trở lại Hà Nội. Những cây sấu vừa ra hoa. Con đường có những viên gạch sần sùi dán kín một thơ ấu của tôi bây giờ cũng ngại ngùng và mơ hồ không kém. Trong giấc mơ tôi cũng thấy tôi lùi lại những ngày tháng buồn rầu khi rách nát rơi xuống đời như phấn hoa.
Con người ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và lúc ra đi cũng vậy. Tiền bạc, danh vọng dù nhiều và cao sang đến đâu cũng chẳng thể mang theo. Vậy đâu mới là quan trọng nhất trong đời người? Thirty years ago in Washington, D.C., a businessman’s wife carelessly dropped her purse in a hospital on a winter night. The businessman was extremely worried and went out to look for it that night, because the purse contained not only $100,000 but also a confidential marketing document. As soon as the businessman hurried to the hospital, he saw right away a thin girl who was squatting down next to the wall in the hallway, trembling with cold, and in her arms was exactly the purse his wife had lost.
- Ủa, gì mà họ chạy rầm rầm trên thang gác thế? Tất cả nhân viên trẻ tuổi của phòng "Việc Bản xứ" dưới kia ùa vào. Phán Kính đi đầu nói: - Hôm nay ông Phó đi vắng. Mắc bầu cử chánh tổng Bảo Nham. Phán Hòa tiếp: - Lên đây phá một bữa cho vui. Những người vừa vào lần lượt tới bắt tay Đồng, ông Phán mới đổi về Tòa Sứ tỉnh đây được đâu ba ngày.
Câu chuyện Cây tre trăm đốt vẫn theo một mô típ quen thuộc: Chàng trai nghèo đi làm thuê cho phú ông giàu có. Để lấy được cô con gái nết na của phú ông, anh bị thách cưới bằng một cây tre trăm đốt. Nhưng trên đời làm gì có cây tre như vậy?
Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏ Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin). Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi "Baixos de Chapar ou de Pulls Scir", tức là Bãi cát Chămpa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.
Bảo Trợ