Vì sao Nguyễn Trãi dạy con: ‘Áo mặc miễn là cho cật ấm; Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon’?

10 Tháng Tám 201812:25 SA(Xem: 188)

Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó.
vanhoa-ngayxua

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).

Bên cạnh các tác phẩm văn chương chính luận như “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mệnh tập”, hay các trước tác về lịch sử, địa lý, thơ chữ Hán…, ít ai biết rằng Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà.

Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà.
Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà. (Ảnh: amefird.com)

Trong bài thơ “Huấn nam tử” (Dạy con trai), Nguyễn Trãi căn dặn con phải sống cần kiệm, đạm bạc, không biếng nhác xa hoa:

“Nhắn bảo phô bay đạo cái con

Nghe lượm lấy lọ chi đòn

Xa hoa lơ lắng nhiều hay hết

Hà tiện đâu đương ít hãy còn

Áo mặc miễn là cho cật ấm

Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon

Xưa đã có câu truyền bảo

Làm biếng hay ăn lở non”.

Cơm ăn và áo mặc trong quan niệm của người xưa chỉ là để cho no bụng ấm thân mà thôi, no bụng và ấm thân là để có sức lực mà tu tâm dưỡng tính, khổ luyện thành tài, tạo phúc cho dân chúng. Chỉ có những người ích kỷ, vô đức mới truy cầu ăn ngon mặc đẹp để hưởng thụ và phô trương.

“Áo mặc miễn là cho cật ấm
Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon”

Hai câu thơ giản dị, hàm súc chứa đựng cốt cách thanh bạch của một nhà Nho quân tử. Trong lịch sử, những bậc hiền nhân đều lấy chữ “Kiệm” để răn dạy cháu con. Gia Cát Lượng viết thư cho con là Gia Cát Kiều, nói về cách rèn luyện tu dưỡng nhân cách và học vấn, mở đầu bằng hai câu:

“Phu quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức. Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”.

Tạm dịch:

“Hành động của người quân tử là lấy tĩnh lặng để tu thân, lấy cần kiệm để dưỡng đức. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không suy nghĩ được xa”.

“Chu Tử gia huấn”, bản gia huấn kinh điển quản lý gia đình giáo dục con cái cuối đời nhà Minh cũng có mấy câu như sau:

“Cuộc sống cần phải tiết kiệm, làm tân khách chớ liên miên.

Đồ dùng bền lại sạch, gốm sứ hơn bạc vàng.

Ăn uống kiệm lại tinh, rau vườn hơn yến tiệc”.

Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực
Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực. (Ảnh: teachvn.com)

Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực. Trong “Quốc Âm thi tập” có rất nhiều bài thơ miêu tả cuộc sống thanh bạch chốn quê mùa của vị khai quốc công thần triều Lê – Nguyễn Trãi:

“Tả lòng thanh, vị núc nác,

Vun đất ải, luống mồng tơi.

Liêm cần tiết cả, tua hằng nắm,

Trung hiếu niềm xưa, mựa nỡ dời”.

(“Ngôn chí kỳ 09”, hay “Sang cùng khó”)

hay:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yên hà nặng vạy then”.

(“Thuật hứng bài 24”)

Người quân tử lập chí ở cao xa, nên giữa cảnh đồng quê thôn dã với những núc nác, mồng tơi vẫn không quên tiết thanh liêm, niềm trung hiếu; khi vớt bèo cấy muống, phát cỏ ương sen mà tâm hồn khoáng đạt chứa được cả phong nguyệt yên hà.

Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn.

Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn.
Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn. (Ảnh: cryptorich.mobi)

Bài thơ “Huấn nam tử” trọng điểm xoay quanh đức tính cần kiệm, thực ra cũng là một phương diện chủ yếu của Đức. Những bậc cha mẹ thông thái đều hiểu rằng Đức kia mới là cội gốc làm người, bao nhiêu phúc phận của đời người cũng đều từ Đức mà ra cả. Người ăn ở không có Đức thì về sau sẽ phải hứng chịu đủ thứ tai ương, nhân quả báo ứng vốn không sai bao giờ. Cho nên, Nguyễn Trãi còn có một bài thơ “Dạy con ở cho có Đức”, xin chép ra để quý độc giả cùng chiêm nghiệm.

“Lấy điều ăn ở dạy con,

Dẫu mà gặp tiết nước non chuyền vần.

Ở cho có đức có nhân,

Mới mong đời trị được ăn lộc trời.

Thương người tất tả ngược xuôi,

Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.

Thương người ôm dắt trẻ thơ,

Thương người tuổi tác già nua bần hàn.

Thương người quan quả, cô đơn,

Thương người lỡ bước lầm than kêu đường.

Thấy ai đói rách thì thương,

Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Thương người như thể thương thân,

Người ta phải bước khó khăn đến nhà.

Đồng tiền bát gạo mang ra,

Rằng đây “cần kiệm” gọi là làm duyên.

May ra ở chốn bình yên,

Còn người tàn phá chẳng nên cầm lòng.

Tiếng rằng: ngày đói tháng đông,

Ở phải có nhân có nghì,

Thơm danh vả lại làm bia miệng người.

Hiền lành lấy tiếng với đời,

Lòng người yêu dấu, là trời hộ ta.

Tai ương hoạn nạn đều qua,

Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.

Vàng trời tuy chẳng trao tay,

Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.

Mai sau bạc chín tài mười,

Sống lâu ăn mãi của đời về sau.

Kìa người ăn ở cơ cầu,

Ở thì chẳng biết về sau phòng mình,

Thấy ai đói rách thì khinh,

Cách nào là cách ích mình thì khen.

Hứng tay dưới với tay trên,

Lọc lừa từng tí, bon chen từng đồng!

Ở thì phất giấy đan lồng,

Nói thì mở miệng như rồng như tiên.

Gan thì quá ngỡ sắt đèn,

Miệng thơn thớt nghĩ rơi tiền bạc ra.

Mặt lành khéo nói thực thà,

Tưởng như xẻ cửa xẻ nhà cho nhau.

Ở nào mùi mẽ chi đâu,

Như tuồng cuội đất giấu đầu hở đuôi.

Nói lời lại nuốt lấy lời,

Một lưng bát xáo mười voi chưa đầy.

Cho nên mới phải lúc này:

Cửa nhà tàn phá phút rày sạch trơn.

Kẻ thì mắc phải vận nàn,

Cửa nhà một khắc lại tàn như tro.

Kẻ thì phải lính, phải phu,

Đem mình vào chốn quân gia trận tiền.

Kẻ thì mắc phải dịch ôn,

Kẻ thì thủy hỏa gian nan kia là!

Thấy người mà phải lo ta,

Sờ sờ trước mắt thực là thương thay,

Khuyên ai chớ bắt chước rày,

Ở lòng nhân nghĩa cho đầy mới khôn.

Lời cha dạy bảo nỉ non,

Trước sau ghi chép khuyên con nghe lời.

Nghe thì mới phải là người,

Chẳng nghe thì cũng là đời bỏ đi”.

Thanh Ngọc ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Alexander Đại đế là một trong những vị tướng vĩ đại của lịch sử. Trước khi ra đi, ông đã cho gọi các sỹ quan và truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Mọi người xung quanh đều rất tò mò và ngạc nhiên về những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander was a great king. On his way home from conquering many countries, he came down with an illness. At that moment, his captured territories, powerful army, sharp swords, and wealth all had no meaning to him. He realized that death would soon arrive and he would be unable to return to his homeland. He told his officers: “I will soon leave this world. I have three final wishes. You need to carry out what I tell you”. His generals, in tears, agreed. be (un)able to V: (không) có khả năng làm gì need to: cần làm gì Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ôn
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh) - Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
NHỮNG BỨC THƯ ĐỂ ĐỜI (KỲ 5): LÊ THÁI TỔ LÊ LỢI ‘THÀ NGƯỜI PHỤ TA, TA CHỚ PHỤ NGƯỜI’ - Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Trên Trái đất có vô số loài cây, mỗi cây một dáng vẻ, một mùi hương. Trong đó có một loại cây khá lạ, hễ cứ chạm vào hoặc rung lắc là các lá khép lại. Có rất nhiều sự tích về cây xấu hổ, chúng ta cùng tìm hiểu một câu chuyện dưới đây lí giải về nguồn gốc
Nếu không có tiếng súng bên ngoài làm tôi thức giấc, thì có lẽ đêm vẫn còn là một nỗi buồn chảy quanh như một khúc sông lạc nguồn. Cơn mưa chiều đã tạnh từ bao giờ. Tiếng gió rung qua liếp cửa từng hồi đã làm gẫy đổ giấc mơ của tôi, trong đó nụ hôn của Ngải Hương trở thành đậm đặc trên môi, rã rời và xao xuyến làm sao. Trong giấc mơ tôi thấy tôi trở lại Hà Nội. Những cây sấu vừa ra hoa. Con đường có những viên gạch sần sùi dán kín một thơ ấu của tôi bây giờ cũng ngại ngùng và mơ hồ không kém. Trong giấc mơ tôi cũng thấy tôi lùi lại những ngày tháng buồn rầu khi rách nát rơi xuống đời như phấn hoa.
Con người ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và lúc ra đi cũng vậy. Tiền bạc, danh vọng dù nhiều và cao sang đến đâu cũng chẳng thể mang theo. Vậy đâu mới là quan trọng nhất trong đời người? Thirty years ago in Washington, D.C., a businessman’s wife carelessly dropped her purse in a hospital on a winter night. The businessman was extremely worried and went out to look for it that night, because the purse contained not only $100,000 but also a confidential marketing document. As soon as the businessman hurried to the hospital, he saw right away a thin girl who was squatting down next to the wall in the hallway, trembling with cold, and in her arms was exactly the purse his wife had lost.
- Ủa, gì mà họ chạy rầm rầm trên thang gác thế? Tất cả nhân viên trẻ tuổi của phòng "Việc Bản xứ" dưới kia ùa vào. Phán Kính đi đầu nói: - Hôm nay ông Phó đi vắng. Mắc bầu cử chánh tổng Bảo Nham. Phán Hòa tiếp: - Lên đây phá một bữa cho vui. Những người vừa vào lần lượt tới bắt tay Đồng, ông Phán mới đổi về Tòa Sứ tỉnh đây được đâu ba ngày.
Câu chuyện Cây tre trăm đốt vẫn theo một mô típ quen thuộc: Chàng trai nghèo đi làm thuê cho phú ông giàu có. Để lấy được cô con gái nết na của phú ông, anh bị thách cưới bằng một cây tre trăm đốt. Nhưng trên đời làm gì có cây tre như vậy?
Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏ Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin). Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi "Baixos de Chapar ou de Pulls Scir", tức là Bãi cát Chămpa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.
Bảo Trợ