Từ tính trẻ thơ tới cổ tích trong tranh Nguyễn Đình Thuần

10 Tháng Bảy 201812:29 SA(Xem: 211)

Từ tính trẻ thơ tới cổ tích trong tranh Nguyễn Đình Thuần

Du Tử Lê/Người Việt

1.
Tôi không biết có phải linh hồn họa sĩ Đinh Cường, sinh thời, rất thương mến người em văn nghệ của ông là Nguyễn Đình Thuần; hay vì sự thôi thúc của một số bằng hữu, đã dắt tay Nguyễn, trở lại, đứng trước giá vẽ, sau một thời gian dài lâu chia tay khung vải?
duoianhtrang-Tranh-Nguyen-Dinh-Thuan- yeujpgDưới Ánh Trăng 45"x40", sơn dầu trên bố, 2018, tranh Nguyễn Đình Thuần.

Tôi không biết! Và cũng không bận tâm bởi, với tôi, sự trở lại với hình tượng và, màu sắc của Nguyễn, là điều đáng nói, hơn bất cứ một điều gì khác.

Theo tôi, bất cứ một trở lại, quay về nào, sau một thời gian chia tay dài lâu, đều mang đến cho kẻ trở lại, một trong hai trạng huống: Lúng túng, ngỡ ngàng nơi những giây phút ban đầu. Hoặc mừng rỡ, hân hoan như gặp được, sống lại với tình yêu thứ nhất.

Ở Nguyễn Đình Thuần, tôi cho là trường hợp thứ hai.

Xem những bức tranh mới nhất của Nguyễn, tôi cảm được niềm hân hoan, tiếng chuông reo vui, ngân nga trong từng đường cọ, từng nhát dao. Tôi cũng nghe được những trở mình trên cưu mang đằm đằm của những lượng màu sắc vươn vai, tỏa, ngát trên những nẻo đường lắng, sâu nghệ thuật.

Không cần ghé sát khung vải, tôi cũng ngửi được mùi thơm của sơn dầu tuồng đã ngưng đọng trong từng phân vuông hạnh phúc, có lại.

Tôi cho, đó là sự tái sinh hay nụ cười đằm thắm, hiếm hoi, một lần nữa của định nghiệp Nguyễn Đình Thuần.

2.
Tôi không biết ký ức ngàn năm của những vầng trăng mang tên chinh phụ, hay tấm lòng thủy chung vàng mười của những thiếu phụ Nam Sương, của những người mẹ bồng con chờ chồng chinh chiến phương xa, những tượng-đài-tinh-thần của những phụ nữ Việt Nam tiêu biểu,… đã linh ứng trong những tranh thiếu nữ hôm nay, của Nguyễn? Hay đó là linh giác của họa sĩ gặp được tố nữ, bước ra từ trong tranh hoặc, đó là một thứ công chúa ngủ trong rừng, do nợ duyên chưa dứt, thức dạy giữa biếc xanh thương yêu, vàng ươm kỷ niệm, đáp đền tình tri kỷ với họa sĩ?

Tôi không biết. Tôi chỉ thấy, hình tượng thiếu nữ quen thuộc của quảng trường hội họa Nguyễn Đình Thuần, một lần nữa, lại trở về với trái tim mẫn cảm nắng, gió, sương mù của Nguyễn.

Tôi không biết. Tôi chỉ cảm nhận, mỗi chân dung thiếu nữ của Nguyễn Đình Thuần là một khắc-họa hoan lạc (hay phiền muộn chân trời?).

Nhưng dù trạng thái nào, tính tinh khiết vẫn là ngọn hải đăng soi sáng cho những tìm thấy bến, bờ nghệ thuật của Nguyễn.

Tùy vị trí, góc độ, tâm cảnh mỗi người mà, chúng ta sẽ có được cho riêng mình một nhan-sắc-vũ-trụ (trừu tượng) hay, một chân dung thiếu nữ (cụ thể)…

3.
Để có được cho riêng mình, dòng chảy nằm ngoài biên độ khung vải, điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta, theo tôi là: Hãy trực tiếp đối diện (đắm mình) vào hình tượng và, sắc màu của Nguyễn. Một trở lại, như tin vui, sau dài lâu, bằn bặt. Một trở lại hạnh phúc, mưng, mưng trên nơi từng thớ thịt, da mang tên hội họa của Nguyễn.

Tôi nhấn mạnh “…điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta là, hãy trực tiếp đối diện (đắm mình) vào hình tượng và, sắc màu của Nguyễn…” Vì mọi trích dẫn, phát biểu của những bậc thầy hội hoa thế giới, theo tôi không hề là đường dẫn, là khuôn vàng, thước ngọc vĩnh viễn sau hàng trăm năm dòng sông nghệ thuật này, không ngừng chảy tới.

Tôi muốn nói, những trưng dẫn đó, chẳng giúp ích bao nhiêu cho giới thưởng ngoạn trình độ trung bình mà, đôi khi còn khiến họ ngơ ngác, rối rắm…

Tôi muốn hỏi, liệu đã tới lúc chưa, ta nên chiết, giảm hoặc ngưng lại thói quen dùng một trừu tượng này (đoạn văn chữ viết), để giải thích một trừu tượng khác (sắc màu, hình tượng)?

Tôi muốn hỏi, có phải phương Tây cho chúng ta kỹ thuật, nhưng không ai có thể cho chúng ta linh hồn, hơi thở của tác phẩm, ngoài thổ ngơi của đất nước?

Thực tế, hôm nay, theo tôi, chưa có một phát biểu (coi như) có tính chân lý vĩnh cửu nào, tồn tại mãi với thời gian.

Chưa kể, phương tây từng có một nhắc nhở rất đáng cho chúng ta lưu ý rằng: Chân lý bên này dãy núi Pyrénées không là chân lý ở bên kia dãy núi.

4.
Để chấm dứt bài viết ngắn này, từ kinh nghiệm của một người-ngoại-đạo, từng nhiều lần đứng trước tranh Nguyễn Đình Thuần, tôi thấy, dù ở vị trí nào, nếu tôi có được cho mình tâm-thái trẻ thơ, tôi đều nhận được nhiều thú vị bất ngờ, như những ngày ấu thơ được nghe chuyện cổ tích vậy.

Vì, dù trừu tượng hay, hình tượng cụ thể thì, tranh của Nguyễn, dường như vẫn đi ra, từ trầm tích gấm hoa quá khứ.

Có phải? 
Du Tử Lê - NV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đến với Kiều như một mối duyên nợ học hành, chẳng ngờ bao nhiêu năm sau đó những tiếng lục bát gây thương nhớ vẫn ngấm ngầm theo chân tôi trên suốt những chặng đường đời. Ở đây, tôi chỉ muốn kể lại đôi ba câu chuyện vụn vặt, gọi là: “Mua vui cũng được một vài trống canh”…
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Tô cháo huyết Tiểu tử Xe cháo huyết của bà xẩm đó nằm trên vỉa hè phía đối diện với rạp hát Casino Đakao, gần trụ đèn xanh đèn đỏ. Thành ra khi đi về hướng Gia Định, gặp đèn đỏ, ngừng xe lại là thấy nó ngay ở bên tay mặt. Hồi mới “giải phóng”, còn chút đỉnh tiền, chiều đi làm về tôi hay tấp vô đó “làm” một tô cháo huyết có kèm theo một dĩa giò-cháo-quẩy cắt khoanh. Không biết có phải tại vì buổi trưa ăn không đủ no thành ra chiều nghe đói sớm hay sao, mà lúc nào tôi cũng thấy cháo huyết của bà xẩm đó thật là ngon ! Cháo nấu nhừ, huyết cắt vuông thành từng miếng vừa vặn nhỏ để được nằm gọn trong lòng cái muỗng sành. Múc một muỗng vừa có cháo vừa có huyết đưa lên môi thổi cho bớt nóng trước khi cho vào miệng, mà nghe thơm phức làm chảy nước miếng. Còn giò-cháo-quẩy cho vào cháo, dù đã được cắt khoanh, nhưng vẫn giử nguyên cái giòn của nó. Cái “béo” của giò-cháo-quẩy làm cho cái “bùi”
Cù Trọng Danh là con trai duy nhất của ông Cù Trọng Lợi, dáng người củ mỉ cù mì, nhưng mới 30 tuổi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành Khoa học máy tính. Vợ chồng ông Lợi vô cùng phấn khởi, cho con trai về từ đường dòng họ để bái lạy gia tiên, còn tổ chức một buổi liên hoan họp mặt gia đình. Trong buổi liên hoan, ông Lợi đứng lên, run run xúc động nói: “Cụ tổ 22 đời của cháu Trọng Danh xưa kia đỗ tiến sĩ, vinh quy bái tổ. Dòng họ Cù chúng ta hôm nay lại mở mày mở mặt”. Gia tộc họ Cù từ già đến trẻ đều gật đầu tấm tắc, khen cậu Danh tuổi trẻ tài cao. Vợ ông Lợi tiếp lời:
Mười giờ tối, như thường lệ, Nguyệt lấy một quyển sách lên giường đọc trước khi ngủ. Bỗng điện thọai reo, Nguyệt thắc mắc ai lại gọi vào giờ này, nhấc máy lên, nghe tiếng của Thụy Hà, đứa con gái lớn nhất: - Mẹ ơi, con… có một… tin buồn. Rồi con òa khóc. Nguyệt nói giả lả: -Chắc vợ chồng có chuyện không vừa ý chứ gì, các cô cậu bây giờ ... Con gái lại tiếp tục vừa nói vừa khóc:
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Người đàn ông giơ cao chiếc đèn bão, quờ quật men bước trên con đường làng dày đen bóng tối. Ánh sáng bị bưng kín dưới hai hàng tre chụp xuống như ánh ma trơi. Một loạt súng rời rạc nổ đâu phía bờ đê Bến Nhì. Tận đầu xóm ngã Ruộng Hoang, một con chó nào thật tốt giọng sũa gầu gầu inh vang.
Trong gia đình truyền thống Việt Nam, bữa cơm không chỉ là nơi mọi người dùng bữa mà còn là nơi để các thành viên thể hiện sự quan tâm, yêu thương và gắn kết với nhau. Tình cảm gia đình, họ hàng, xóm làng trong văn hoá truyền thống Việt Nam được thể hiện trọn vẹn qua mâm cơm tròn.
PHẠM NGỌC THÁI VÀ MỘT KIỆT TÁC THƠ TÌNH - Nguyễn Thị Xuân - ANH VẪN VỀ THEO DÒNG LỆ EM TIẾC NUỐI Em nói với tôi rằng... "muốn có một đứa con" Dù xa cách nhớ nhau trong hoài niệm Năm tháng dáng hình em hiển hiện Phía chân trời thắp sáng lửa tim tôi !
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bảo Trợ