Nguồn Gốc Món Phở

06 Tháng Bảy 201811:33 CH(Xem: 456)

Nguồn gốc món Phở


* Trong Tự điển tiếng Việt - Bồ đào Nha - La tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ "Phở". trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của (biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ Phở . Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa: "Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm".

* Nhà Văn Nguyễn Công Hoan từng viết : “ Năm 1913… tôi trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, được ăn phở (hàng Phở gánh rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3xu, 5 xu)”. Phở rong bắt đầu thịnh hành nên bị chính quyền đánh thuế: “…họ phải mua hai hào tem thuế mỗi ngày. như vậy có thể xem Phở xuất hiên khoảng giữa những năm 1900 đến 1913

* . Người Việt ngày xưa 99% là nông dân, họ coi Bò là loài gia súc thân thương và hữu ích (Sức Kéo) nên không ăn thit Bò! vì thế nói quê hương Phở bò ở Nam định miền Bắc là không hợp lý
ganh pho
Chuyện là :
Năm 1910, nhiều thanh niên Vietnam cả miền Bắc lẫn miền Nam đi lính cho Pháp. Họ phải sang mẫu quốc để phục vụ một thời gian, trong số đó có một người từng làm phụ bếp cho Toàn quyền Saigon tên Huỳnh. Đơn vị Ông Huỳnh đóng quân ở Marseille và Ông được giữ chức Bếp trưởng của binh đoàn toàn lính người An Nam.

Sáng nào Ông Huỳnh cũng ra lệnh đốt bếp lò thật sớm bằng cách hô to: " Feu! Feu ! "có nghĩa là nổi lửa lên! để nấu súp thịt bò cho binh sĩ ăn điểm tâm với bánh mì khô. Thấy binh sĩ người Việt bỏ ăn sáng hơi nhiều Ông Huỳnh bèn nghĩ ra một món mới, hy vọng anh em binh sĩ An Nam sẽ cảm thấy dễ nuốt hơn, Sau khi được các "Xếp Tây" cho phép, Ông bèn lấy nước Súp bò của Tây... cho hầm chung với quế, hồi, gừng,. Riêng" bánh tài phảnh" mua của người Tàu bán ở Khu Chinois rồi Ông Huỳnh nêm thêm nước mắm vào Soupe cùng với hành... ngò rí ... hành tây ... cho hợp khẩu vị Việtnam.

Tuyệt vời thay, Ở xứ lạ quê người, buổi sáng trời lạnh như cắt da, mà lại được ăn một bát súp "hù tíu bò" nóng hổi ngào ngạt đậm mùi quê hương thay vì ăn bánh mì Tây quá ư nhạt nhẽo! binh sĩ An Nam ủng hộ Chef Huỳnh hết mình ... Nấu bao nhiêu cũng hết! Các Sĩ quan Pháp thấy vậy đòi ăn thử, ai cũng tấm tắc khen ngon rồi thắc mắc "Tên món này là món gì mà sáng nào Monsieur Huỳnh cũng ra lệnh Feu Feu vậy?" Không chần chừ Ông Huỳnh trả lời : Thưa Xếp tên nó là Phở (Feu) đấy!


".. . PHỞ ra đời năm ấy - năm 1910 ... được Tây lẫn Ta yêu thích và chết tên "Feu" từ đó... Khi muốn ăn , Sĩ quan Tây chỉ cần nói "Feu Feu" là có tô phở bò hầm kiểu An Nam nóng hổi khói bốc nghi ngút.. . theo gió thơm lừng cả doanh trại
Nhiều binh lính An Nam nhà ở Hanoi sau khi giải ngũ về đã lấy Phở gánh với tiếng rao: Feu ... ớ ... làm kế sinh nhai, thực khách là lính Tây và kiều dân Pháp. Dân Hanoi cũng ăn thử và "mê tít" món Feu từ đó!

- Ở Dalat năm 1930 có phở Gare xe lửa là tiêm Phở Bò đầu tiên của Dalat do con Ông Huỳnh (Chef) làm chủ chữ Tô Xe lửa (Tô lớn) từ đây mà ra. Phở Gare Dalat sau 1960 dời vế Phú Nhuận Saigon lấy tên là Phở Bắc Huỳnh

- Ở Saigon trước năm 1940 có tiệm Phở Turc là tiêm Phở đầu tiên Chủ tiệm cũng là dân đi lính Tây giải ngũ về, Ông này nói tiếng Pháp giỏi nên có nhiều khách Tây đến ăn ...
Viết theo lời kể của Ông Võ Văn Côn Nguyên là Chef Bếp Việt của Vua Bảo Đại


Chú thích :
Kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã có nhiều tranh cãi về nguồn gốc ra đời của Phở. Tuy vẫn còn bất đồng về nơi xuất xứ thực sự hay thời điểm ra đời nhưng hầu hết cùng chung quan điểm là Phở được khai sinh trong thời Pháp thuộc, ở giai đoạn người Pháp bắt đầu đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Có thể xem Phở là một trong những ví dụ đặc trưng cho khái niệm Bricolage (lai ghép) mà các nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực dùng để chỉ món ăn thiên hướng lai ghép (kết hợp, biến tấu từ nhiều nguồn thức ăn ngoại lai) hơn là tự thân sáng tạo .

Hiện nay Phở đã theo chân cộng đồng người Việt có mặt ở nhiều nước trên thế giới.


DÂN VIỆT HẦU NHƯ AI CŨNG GHIỀN PHỞ: NGUỒN GỐC CHỮ PHỞ!
NTS st
(Đây là 1 trong những "câu chuyện truyền khẩu" về nguồn gốc món PHỞ của Việt Nam!)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đến với Kiều như một mối duyên nợ học hành, chẳng ngờ bao nhiêu năm sau đó những tiếng lục bát gây thương nhớ vẫn ngấm ngầm theo chân tôi trên suốt những chặng đường đời. Ở đây, tôi chỉ muốn kể lại đôi ba câu chuyện vụn vặt, gọi là: “Mua vui cũng được một vài trống canh”…
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Tô cháo huyết Tiểu tử Xe cháo huyết của bà xẩm đó nằm trên vỉa hè phía đối diện với rạp hát Casino Đakao, gần trụ đèn xanh đèn đỏ. Thành ra khi đi về hướng Gia Định, gặp đèn đỏ, ngừng xe lại là thấy nó ngay ở bên tay mặt. Hồi mới “giải phóng”, còn chút đỉnh tiền, chiều đi làm về tôi hay tấp vô đó “làm” một tô cháo huyết có kèm theo một dĩa giò-cháo-quẩy cắt khoanh. Không biết có phải tại vì buổi trưa ăn không đủ no thành ra chiều nghe đói sớm hay sao, mà lúc nào tôi cũng thấy cháo huyết của bà xẩm đó thật là ngon ! Cháo nấu nhừ, huyết cắt vuông thành từng miếng vừa vặn nhỏ để được nằm gọn trong lòng cái muỗng sành. Múc một muỗng vừa có cháo vừa có huyết đưa lên môi thổi cho bớt nóng trước khi cho vào miệng, mà nghe thơm phức làm chảy nước miếng. Còn giò-cháo-quẩy cho vào cháo, dù đã được cắt khoanh, nhưng vẫn giử nguyên cái giòn của nó. Cái “béo” của giò-cháo-quẩy làm cho cái “bùi”
Cù Trọng Danh là con trai duy nhất của ông Cù Trọng Lợi, dáng người củ mỉ cù mì, nhưng mới 30 tuổi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành Khoa học máy tính. Vợ chồng ông Lợi vô cùng phấn khởi, cho con trai về từ đường dòng họ để bái lạy gia tiên, còn tổ chức một buổi liên hoan họp mặt gia đình. Trong buổi liên hoan, ông Lợi đứng lên, run run xúc động nói: “Cụ tổ 22 đời của cháu Trọng Danh xưa kia đỗ tiến sĩ, vinh quy bái tổ. Dòng họ Cù chúng ta hôm nay lại mở mày mở mặt”. Gia tộc họ Cù từ già đến trẻ đều gật đầu tấm tắc, khen cậu Danh tuổi trẻ tài cao. Vợ ông Lợi tiếp lời:
Mười giờ tối, như thường lệ, Nguyệt lấy một quyển sách lên giường đọc trước khi ngủ. Bỗng điện thọai reo, Nguyệt thắc mắc ai lại gọi vào giờ này, nhấc máy lên, nghe tiếng của Thụy Hà, đứa con gái lớn nhất: - Mẹ ơi, con… có một… tin buồn. Rồi con òa khóc. Nguyệt nói giả lả: -Chắc vợ chồng có chuyện không vừa ý chứ gì, các cô cậu bây giờ ... Con gái lại tiếp tục vừa nói vừa khóc:
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Người đàn ông giơ cao chiếc đèn bão, quờ quật men bước trên con đường làng dày đen bóng tối. Ánh sáng bị bưng kín dưới hai hàng tre chụp xuống như ánh ma trơi. Một loạt súng rời rạc nổ đâu phía bờ đê Bến Nhì. Tận đầu xóm ngã Ruộng Hoang, một con chó nào thật tốt giọng sũa gầu gầu inh vang.
Trong gia đình truyền thống Việt Nam, bữa cơm không chỉ là nơi mọi người dùng bữa mà còn là nơi để các thành viên thể hiện sự quan tâm, yêu thương và gắn kết với nhau. Tình cảm gia đình, họ hàng, xóm làng trong văn hoá truyền thống Việt Nam được thể hiện trọn vẹn qua mâm cơm tròn.
PHẠM NGỌC THÁI VÀ MỘT KIỆT TÁC THƠ TÌNH - Nguyễn Thị Xuân - ANH VẪN VỀ THEO DÒNG LỆ EM TIẾC NUỐI Em nói với tôi rằng... "muốn có một đứa con" Dù xa cách nhớ nhau trong hoài niệm Năm tháng dáng hình em hiển hiện Phía chân trời thắp sáng lửa tim tôi !
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bảo Trợ