Trái Tim Tan Vỡ

12 Tháng Sáu 20181:01 SA(Xem: 514)

TRÁI TIM TAN VỠ

Em có biết, trái tim anh tan vỡ !
yeuChẳng phải do em, chẳng lẽ lại do mình ?
Chuyện đã qua rồi, sau mấy mươi năm
Tóc lạt bóng thì tình càng sống lại.

Ôi, tình yêu cái thời còn non dại 
Lấp lánh trăng sao, tưới mát tựa mưa rào 
Lòng ngơ ngẩn như ngàn vạn mũi dao
Chém vào tim cho máu trào, ngực xé.

Làn môi em ngọt thơm đến thế,
Làn môi người sinh nữ đáng yêu ơi !
Em dịu dàng thơ mộng giữa mây trời
Đã bao lần cùng anh say đắm nhụy.

Trái tim anh nay đã thành hoang phế
Mơ em về sống lại những khát khao
Cho linh hồn đang chết lại tươi màu
Anh ôm ấp cả dáng hình thưở ấy…

*

Một thời trai yêu nhiều biết mấy
Đậu lại còn đôi bóng – chính là em !
Phút cuối cùng em tha thiết đến bên
Anh rũ bỏ như một thằng điên loạn.

Không ! Một thằng ngu, khờ vì ngạo mạn
Em trẻ xinh mềm mại biết bao nhiêu
Một người vợ – với chồng,
                     sẽ rất mực thương yêu
Sao lỡ bỏ ? để suốt đời tiếc nuối.

Anh đã chết vạn lần, hồn đau nhói
Phí cả đời trai từng bão táp, phong ba
Một chữ “yêu…” thành dài dặc, lê thê
Em ơi ! Trái tim vỡ rồi,
                          làm sao còn vá lại ?

*

Nhớ buổi ấy cùng nhau đêm trăng sáng
Ánh mắt thơ xinh mà chứa bầu trời
Nụ hôn nào còn đọng trên môi
Anh xin uống cạn bầu em trắng mịn.

Đi dưới trăng hai đứa lòng bịn rịn
Em áp vào anh như hoa ép vào tim
Một vũ trụ ngát hương, 
trao cho anh đón nhận…

Hết rồi, em ơi ! Chắc sẽ làm em giận
Ngay từ lúc anh quay đi
Trước hững hờ,
                   giờ đau khổ nhường ni
Một người vợ, lẽ ra ?
                   với đời ta là tốt nhất.

Thôi, đành để quỉ sa tăng moi gan, móc mắt
Lỗi lầm này giá đắt quá, em ơi !
Ta ngửa mặt kêu lên cùng với đất trời
Bằng trái tim tan vỡ !

Phạm Ngọc Thái

Hà Nội, tháng 6.2018

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Lúc còn ở cấp tiểu học, tôi rất thích chơi đá dế. Mỗi ngày đi học được cho tiền quà bao nhiêu đều cúng cho mấy ông bán dế trước cổng trường, vì vậy nên tôi có cả một “sở thú”, năm, sáu con đủ loại dế than, dế lửa, con nhỏ, con lớn đủ cả. Ngày nào đi học về là xách hộp dế chạy chơi cáp độ với mấy thằng trong xóm. Mấy thằng bạn tôi thì cũng như tôi, dế của nó cũng cùng lò từ mấy ông bán ở trường nên chúng tôi đá với nhau lúc ăn lúc thua không có thằng nào đủ sức làm bá chủ võ lâm cả.
Từ ngày còn nhỏ, chúng ta đã được nghe biết bao câu chuyện cổ tích qua giọng kể của bà, của mẹ. Từ những lâu đài của nàng công chúa và hoàng tử, cho đến cánh rừng rậm rạp nơi mụ phù thủy cư ngụ, vẻ đẹp hiền từ của Ông Bụt, Bà Tiên…, tất cả đã trở thành một phần không không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ. Đã bao năm tháng trôi qua, những câu chuyện dân gian ấy vẫn còn nguyên sức hút, tuy giản dị, nhẹ nhàng mà gửi gắm bao lời răn dạy vô cùng trân quý của cha ông.
Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).
(Gởi người anh em bên kia giới tuyến)- Ngô Minh Hằng.- Gió thu lạnh, từng lá vàng run rẩy Cây trơ cành buồn bã hứng trời sương Tôi viết tiếp bản trường ca thứ bảy Chút lòng người vong quốc gởi quê hương!
Trong một phố nghèo có người vợ trẻ Vẫn đón con đi, về… như thường lệ Vóc em thanh cũng thể mùa xuân Đôi mắt em: đôi mắt ấy màu đen. Ngôi nhà nhỏ bên đền
Sài Gòn đêm nay trở gió Lòng tôi để ngỏ không cài Em không hẹn ngày trở lại Vui buồn biết ngỏ cùng ai.
Mấy ngày nay trời mưa dầm. Mưa không lớn, nhưng một lát tạnh, một lát mưa, mưa day dẵng từ sáng đến chiều làm trời đất âm u, làm con sông như chìm trong màn nước. Bên bờ sông, một mái nhà nhỏ nép dưới tàng cây trứng cá ướt sủng, tàng lá run rẫy sau làn gió thu bất chợt thổi qua. Ông Hai Khá ngồi trong nhà nhìn ra sông, nghe tiếng mưa rì rào mái lá, thở dài:
Dã tràng ơi Hận biển tự bao giờ Mà cay đắng Mà cả gan lấp biển! Biển ồn ào, Không chịu mình bại trận Sóng bạc đầu luôn đối đầu em.
Saigon 1964 Đa phần những người làm nghề gánh nước mướn đều là những lao động nghèo ở tứ xứ lang bạt đến Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Họ sống trong những xóm nghèo, hễ nhà nào cần nước thì chở đến. Vốn liếng của người gánh nước mướn cũng chẳng có gì ngoài sức lao động.
Bảo Trợ