Bài Thơ Cho Vợ

14 Tháng Năm 20181:44 CH(Xem: 231)

BÀI THƠ CHO VỢ

Happy-Mothers-DayVợ buồn mà nói: ''Anh không

Làm thơ cho vợ má hồng đã phai!

Chỉ tìm thi hứng nơi ai

Cho nên làm được những bài thơ hay...!''

Chồng cười, nói với vợ ngay:

Bên em, anh thấy mỗi ngày là thơ!

Tình mình vẫn đẹp như mơ:

Vợ chồng hòa thuận, con ''thơ'' ngoan hiền!

Qua rồi mấy thuở hoa niên!

Nhưng anh vẫn thấy ''thi viên'' đời mình!

Thơ là em sống chung tình

Là anh cũng vậy, hết mình chăm lo

Khi em cảm cúm, lạnh, ho...

Sợ em sụt kí, gầy gò, xanh xao...

Nhìn em da mặt hồng hào

Là anh cảm thấy thơ vào hồn anh!

Thơ là vo gạo, nấu canh...

Cho em yên giấc, mộng lành..., cưng ơi!

Thơ anh không nói trọn lời

Vì tình yêu vợ như hơi thở mình!

Ngày nào em cũng đọc kinh

Là thơ dâng Chúa cho mình bên nhau!

Thơ là yêu đến mai sau

Đến khi nhắm mắt, theo nhau về Trời!

Tình thơ từ Chúa là Lời

Yêu thương trần thế cho đời nên thơ!

Em đừng nghĩ ngợi vu vơ!

Yêu trong tình Chúa vô bờ là thơ!

Gia đình như một Đền Thờ

Mời Thiên Chúa ngự: Hồn thơ dạt dào!

Nguồn thơ là Đấng Tối Cao!

Đôi ta chung thủy là vào Cõi Thơ!

Đồng lòng kết tóc, xe tơ:

Vâng Lời Chúa Dạy là Thơ Vững Bền!

Yêu em như thế cho nên

Trong mơ, anh cũng gọi tên vợ hiền!

Nghe lòng hạnh phúc vô biên!

Đó là một Khoảng Thi-Thiên Trữ Tình!!!''

...

Đức Quốc, 2009

Cảm tác khi biết vợ buồn, ''giận thơ''.

Vợ nói: ''Anh mà đăng bài ấy lên báo thì vợ anh mắc cỡ lắm.''

Phan văn Phước

Kính mời Việt Bào xem:

Con Gái 18+ - Lấy chồng ít ra phải vậy Cre: #Mutex - Facebook

https://www.facebook.com/luongngocphuc.vn/videos/336544143521735/

 

 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Lúc còn ở cấp tiểu học, tôi rất thích chơi đá dế. Mỗi ngày đi học được cho tiền quà bao nhiêu đều cúng cho mấy ông bán dế trước cổng trường, vì vậy nên tôi có cả một “sở thú”, năm, sáu con đủ loại dế than, dế lửa, con nhỏ, con lớn đủ cả. Ngày nào đi học về là xách hộp dế chạy chơi cáp độ với mấy thằng trong xóm. Mấy thằng bạn tôi thì cũng như tôi, dế của nó cũng cùng lò từ mấy ông bán ở trường nên chúng tôi đá với nhau lúc ăn lúc thua không có thằng nào đủ sức làm bá chủ võ lâm cả.
Từ ngày còn nhỏ, chúng ta đã được nghe biết bao câu chuyện cổ tích qua giọng kể của bà, của mẹ. Từ những lâu đài của nàng công chúa và hoàng tử, cho đến cánh rừng rậm rạp nơi mụ phù thủy cư ngụ, vẻ đẹp hiền từ của Ông Bụt, Bà Tiên…, tất cả đã trở thành một phần không không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ. Đã bao năm tháng trôi qua, những câu chuyện dân gian ấy vẫn còn nguyên sức hút, tuy giản dị, nhẹ nhàng mà gửi gắm bao lời răn dạy vô cùng trân quý của cha ông.
Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).
(Gởi người anh em bên kia giới tuyến)- Ngô Minh Hằng.- Gió thu lạnh, từng lá vàng run rẩy Cây trơ cành buồn bã hứng trời sương Tôi viết tiếp bản trường ca thứ bảy Chút lòng người vong quốc gởi quê hương!
Trong một phố nghèo có người vợ trẻ Vẫn đón con đi, về… như thường lệ Vóc em thanh cũng thể mùa xuân Đôi mắt em: đôi mắt ấy màu đen. Ngôi nhà nhỏ bên đền
Sài Gòn đêm nay trở gió Lòng tôi để ngỏ không cài Em không hẹn ngày trở lại Vui buồn biết ngỏ cùng ai.
Mấy ngày nay trời mưa dầm. Mưa không lớn, nhưng một lát tạnh, một lát mưa, mưa day dẵng từ sáng đến chiều làm trời đất âm u, làm con sông như chìm trong màn nước. Bên bờ sông, một mái nhà nhỏ nép dưới tàng cây trứng cá ướt sủng, tàng lá run rẫy sau làn gió thu bất chợt thổi qua. Ông Hai Khá ngồi trong nhà nhìn ra sông, nghe tiếng mưa rì rào mái lá, thở dài:
Dã tràng ơi Hận biển tự bao giờ Mà cay đắng Mà cả gan lấp biển! Biển ồn ào, Không chịu mình bại trận Sóng bạc đầu luôn đối đầu em.
Saigon 1964 Đa phần những người làm nghề gánh nước mướn đều là những lao động nghèo ở tứ xứ lang bạt đến Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Họ sống trong những xóm nghèo, hễ nhà nào cần nước thì chở đến. Vốn liếng của người gánh nước mướn cũng chẳng có gì ngoài sức lao động.
Bảo Trợ