Về Nỗi Niềm Cay Đắng Của Nàng Kiều

07 Tháng Hai 20184:45 CH(Xem: 259)

Về nỗi niềm cay đắng của nàng Kiều

Về nỗi niềm cay đắng của nàng Kiều

GD&TĐ - Có thể nói sau khi bị mắc lừa Sở Khanh, Kiều phải chấp nhận cuộc sống chính thức nơi lầu xanh, đó là hai mặt của chuỗi ngày cay đắng. Ngoại cảnh trở thành lễ hội của chốn ăn chơi, tâm cảnh trở thành bi kịch của nỗi niềm đau tê tái:

 “Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm 
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”.

Cái không khí ấy náo nhiệt bao nhiêu thì nó lại tương phản với nỗi lòng đau khổ của Kiều bấy nhiêu. Đối với nàng, ngày tháng chỉ là nỗi đau chồng chất, là sự thống khổ kéo dài. Trong khoảng lặng ít ỏi của mình, Kiều luôn đối diện với nỗi bi ai thường trực ấy. Đó là nỗi đau thương xót cho chính bản thân mình: 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Mặc người mưa Sở mây Tần
Riêng mình nào biết có xuân là gì?”.

Nguyễn Du đã sử dụng hai chữ “giật mình” rất đắt giá, nó chính là cái phần hồn cốt của con người khi đối diện với chính mình trong dâu bể đổi thay quá lớn. Ba chữ “mình” làm nổi bật tâm trạng nhân vật trên đỉnh của chất ngất cô đơn. Tất cả những con người xung quanh hầu như chỉ biết lợi dụng và ích kỷ, có ai thấu hiểu cho nàng với một hồn đau tan nát? Đó là một chân giá trị của cái đẹp bị đem ra giày xéo, chà đạp đến mức tàn nhẫn. Chẳng qua vì đồng tiền!

Bên cạnh nỗi xót mình là sự ghê tởm chính mình. Một thiếu nữ khuê các “Tường đông ong bướm đi về mặc ai” nhưng giờ lại “Dày gió dạn sương, bướm chán ong chường”. Nàng tự thấy xấu hổ với chính mình, nàng có cảm giác như mình chỉ còn là giá trị của một món hàng, một thứ đồ chơi giải trí, không còn mang giá trị của một con người đích thực nữa. Đó là nỗi đau của sự phủ nhận chính mình.

Bên cạnh hai nỗi đau trên là nỗi đau của sự bẽ bàng, chơi vơi không biết phải bám bíu vào đâu.

Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa

Đó chẳng qua là cảnh vui gượng, nó không mang một ý nghĩa nào trong giá trị cuộc sống. Kiều như một con người bị ném vào cái không gian của nửa vời địa ngục.

Cuối cùng là nỗi đau khổ riêng mình. Tất cả những điều đó – thương xót thân phận, chán chường, khổ sở cô đơn và vui gượng – đã cho thấy Kiều hoàn toàn không phải là một con người phó mặc số phận mà luôn níu giữ cái phẩm giá dù cực độ mong manh. Cái điều dâm tà của chốn lầu xanh không thể xâm nhập vào “chút lòng trinh bạch” của nàng.

Nhưng điểm đặc biệt của tâm hồn Kiều là không phải chỉ đau cho mình mà còn đau cho cả những người thân là cha mẹ mình: “Dặm nghìn nước thẳm non xa/ Nghĩ đâu thân phận con ra thế này”. Ngày nàng ra đi, cha mẹ nàng vẫn hi vọng cho con hạnh phúc, nhưng có ai ngờ nàng lại rơi vào chốn ô nhục! Thử hỏi cha mẹ nào không đau lòng nếu biết được sự tình như thế!

Sau đó là chàng Kim và Thúy Vân “Nhớ lời nguyện ước ba sinh/ Xa xôi ai có thấu tình chăng ai”. Sau rốt là đối với hình bóng quê nhà “Mối tình đòi đoạn vò tơ/ Giấc hương quan luống lần mơ canh dài/ Song sa vò võ phương trời/ Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”. Sự đòi đoạn của nỗi đau tan nát này nổi lên trong lòng Kiều hòa lẫn với cái vị bi đát tha hương. Thời gian như thêm nặng nề, kéo dài trong vô nghĩa.

Kết thúc cho bi cảnh này không phải gì khác mà là một sự đay nghiến. Đó là vẻ cam chịu bề ngoài và sự lên án bên trong: “Đã cho lấy chữ hồng nhan/ Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân/ Đã đày vào kiếp phong trần/ Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”. Chữ “cân” ở đây nghe thật lạ! Con người tài hoa vẹn toàn kia sao lại phải chịu một lần sỉ nhục? Đó chẳng phải là lời lên án sự bất công của tạo hóa hay sao?

Có thể nói nỗi bi cảnh cay đắng của Kiều là tuyệt đỉnh nghệ thuật miêu tả nội tâm của tác giả. Ở đây nhà nghệ sĩ không chỉ làm cái việc đơn thuần là kể hay tả, chất tài hoa của Nguyễn Du thể hiện ở chỗ gợi. Cái gợi mới chính là mạch nguồn tạo rung động thẩm mỹ cho người thưởng thức. Thưởng thức và đồng cảm. Đồng cảm cảnh ngộ, nỗi lòng của con người bạc phận. Đó không những là cái đau của chủ nghĩa nhân văn mà còn lớn hơn nhiều – cái đau chia sẻ của vũ trụ hòa đồng.

ĐÀO THÁI SƠN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
* Với thế giới Bạn chỉ có thể là một người, Nhưng với một người Bạn có thể là cả thế giới. *Những lúc thơm nồng bên ta là Bạn Đắng. Nhưng lúc cay đắng vẫn bên ta đó là Bạn Đời.
Ngày lễ thánh Valentine là Ngày Tình Nhân, như chúng ta thấy ngày nay, gồm các vết tích của cả truyền thống Kitô giáo và truyền thống La Mã. Do đó, thánh Valentine là ai và được kết hợp với nghi lễ cổ này thế nào? Ngày nay, Công giáo nhận thấy ít nhất có 3 vị thánh có tên là Valentine hoặc Valentinus, 3 vị này đều tử đạo.
Để chuẩn bị đón Tết cho thật “đàng hoàng,” mẹ tôi cũng như những người phụ nữ lãnh đạo gia đình khác đều phải đi chợ Tết. Đi chợ Tết như là một thủ tục đầu tiên để đón ông bà, đưa ông Táo nghinh Xuân cho thật chu đáo.
Hôm nay, ngày 17 tháng 2 Tôi sẽ thành một kẻ mù lòa, điên rồ và phản bội Nếu đưa một bài thơ tình lên facebook của mình
Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về thời kỳ chúa Nguyễn rằng, "từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa - dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau. Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng..."
Một năm bốn mùa Tạo Hoá tặng ban cho nhân loại, mùa nào cũng có những dấu ấn riêng và đặc trưng của nó. Đông có cái lạnh và xơ xác khiến con tim ta ngậm ngùi. Thu có cơn gió êm đềm nhẹ nhàng giỡn chơi cùng mặt hồ lăn tăn cùng chiếc lá. Hạ có bầu trời xanh trong vắt thanh cao. Còn xuân thì luôn gợi lên trong ta cái gì đó vừa nhẹ nhàng, vừa tươi vui, vừa ấm cúng.
Trời đã lập xuân, vậy mà gió bấc vẫn như những ngọn roi quất vào mặt người. Màn đêm đổ xuống thật nhanh. Bãi ven sông làng Trà Hương, Khúc Giang ánh đuốc bừng lên. Tiếng va chạm binh khí, tiếng reo hò của các binh sĩ vang cả một khúc sông. Từ trong bóng tối, tiếng vó ngựa dồn dập, thấp thoáng lao nhanh về phía trung quân. Nhận ra Mạc Hiển, anh em Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng chống đao, hét binh sĩ ngừng tập.
Sắc màu rực rỡ muôn ngàn hoa tươi Gặp nhau vui vẻ cùng cười Chúc nhau năm mới mọi lời đẹp hay Em đang dạo buổi xuân nay Lòng mang vương vấn nhớ ngày xuân xưa
Đến năm mười ba, tôi mới biết dành dụm những đồng tiền mừng tuổi cho một hy vọng mà, hôm nay, hy vọng đó, tôi gọi là một hạnh phúc. Hạnh phúc của tôi thường được tôi nhìn lại. Nhìn lại từ đoạn đầu đời tăm tối nhất, hồn nhiên nhất. Tôi không tin, không bao giờ tin nữa, thứ hạnh phúc người ta tưởng rằng tôi đang nắm chặt hay thứ hạnh phúc tôi còn mơ ước khi tôi bị đẩy xuống vực thẳm của phiền muộn.
Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.
Bảo Trợ