Về Nỗi Niềm Cay Đắng Của Nàng Kiều

07 Tháng Hai 20184:45 CH(Xem: 114)

Về nỗi niềm cay đắng của nàng Kiều

Về nỗi niềm cay đắng của nàng Kiều

GD&TĐ - Có thể nói sau khi bị mắc lừa Sở Khanh, Kiều phải chấp nhận cuộc sống chính thức nơi lầu xanh, đó là hai mặt của chuỗi ngày cay đắng. Ngoại cảnh trở thành lễ hội của chốn ăn chơi, tâm cảnh trở thành bi kịch của nỗi niềm đau tê tái:

 “Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm 
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”.

Cái không khí ấy náo nhiệt bao nhiêu thì nó lại tương phản với nỗi lòng đau khổ của Kiều bấy nhiêu. Đối với nàng, ngày tháng chỉ là nỗi đau chồng chất, là sự thống khổ kéo dài. Trong khoảng lặng ít ỏi của mình, Kiều luôn đối diện với nỗi bi ai thường trực ấy. Đó là nỗi đau thương xót cho chính bản thân mình: 

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Mặc người mưa Sở mây Tần
Riêng mình nào biết có xuân là gì?”.

Nguyễn Du đã sử dụng hai chữ “giật mình” rất đắt giá, nó chính là cái phần hồn cốt của con người khi đối diện với chính mình trong dâu bể đổi thay quá lớn. Ba chữ “mình” làm nổi bật tâm trạng nhân vật trên đỉnh của chất ngất cô đơn. Tất cả những con người xung quanh hầu như chỉ biết lợi dụng và ích kỷ, có ai thấu hiểu cho nàng với một hồn đau tan nát? Đó là một chân giá trị của cái đẹp bị đem ra giày xéo, chà đạp đến mức tàn nhẫn. Chẳng qua vì đồng tiền!

Bên cạnh nỗi xót mình là sự ghê tởm chính mình. Một thiếu nữ khuê các “Tường đông ong bướm đi về mặc ai” nhưng giờ lại “Dày gió dạn sương, bướm chán ong chường”. Nàng tự thấy xấu hổ với chính mình, nàng có cảm giác như mình chỉ còn là giá trị của một món hàng, một thứ đồ chơi giải trí, không còn mang giá trị của một con người đích thực nữa. Đó là nỗi đau của sự phủ nhận chính mình.

Bên cạnh hai nỗi đau trên là nỗi đau của sự bẽ bàng, chơi vơi không biết phải bám bíu vào đâu.

Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa

Đó chẳng qua là cảnh vui gượng, nó không mang một ý nghĩa nào trong giá trị cuộc sống. Kiều như một con người bị ném vào cái không gian của nửa vời địa ngục.

Cuối cùng là nỗi đau khổ riêng mình. Tất cả những điều đó – thương xót thân phận, chán chường, khổ sở cô đơn và vui gượng – đã cho thấy Kiều hoàn toàn không phải là một con người phó mặc số phận mà luôn níu giữ cái phẩm giá dù cực độ mong manh. Cái điều dâm tà của chốn lầu xanh không thể xâm nhập vào “chút lòng trinh bạch” của nàng.

Nhưng điểm đặc biệt của tâm hồn Kiều là không phải chỉ đau cho mình mà còn đau cho cả những người thân là cha mẹ mình: “Dặm nghìn nước thẳm non xa/ Nghĩ đâu thân phận con ra thế này”. Ngày nàng ra đi, cha mẹ nàng vẫn hi vọng cho con hạnh phúc, nhưng có ai ngờ nàng lại rơi vào chốn ô nhục! Thử hỏi cha mẹ nào không đau lòng nếu biết được sự tình như thế!

Sau đó là chàng Kim và Thúy Vân “Nhớ lời nguyện ước ba sinh/ Xa xôi ai có thấu tình chăng ai”. Sau rốt là đối với hình bóng quê nhà “Mối tình đòi đoạn vò tơ/ Giấc hương quan luống lần mơ canh dài/ Song sa vò võ phương trời/ Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”. Sự đòi đoạn của nỗi đau tan nát này nổi lên trong lòng Kiều hòa lẫn với cái vị bi đát tha hương. Thời gian như thêm nặng nề, kéo dài trong vô nghĩa.

Kết thúc cho bi cảnh này không phải gì khác mà là một sự đay nghiến. Đó là vẻ cam chịu bề ngoài và sự lên án bên trong: “Đã cho lấy chữ hồng nhan/ Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân/ Đã đày vào kiếp phong trần/ Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”. Chữ “cân” ở đây nghe thật lạ! Con người tài hoa vẹn toàn kia sao lại phải chịu một lần sỉ nhục? Đó chẳng phải là lời lên án sự bất công của tạo hóa hay sao?

Có thể nói nỗi bi cảnh cay đắng của Kiều là tuyệt đỉnh nghệ thuật miêu tả nội tâm của tác giả. Ở đây nhà nghệ sĩ không chỉ làm cái việc đơn thuần là kể hay tả, chất tài hoa của Nguyễn Du thể hiện ở chỗ gợi. Cái gợi mới chính là mạch nguồn tạo rung động thẩm mỹ cho người thưởng thức. Thưởng thức và đồng cảm. Đồng cảm cảnh ngộ, nỗi lòng của con người bạc phận. Đó không những là cái đau của chủ nghĩa nhân văn mà còn lớn hơn nhiều – cái đau chia sẻ của vũ trụ hòa đồng.

ĐÀO THÁI SƠN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Viết theo lời kể của nghĩa quân Nguyễn Văn Đề, sau khi được CS tha về. *** Tôi Nguyễn Văn Đề sinh ra là một ngôi sao xấu trong những ngôi sao xấu nhất của bầu trời đất Việt. Cha mẹ tôi nghèo lại phải sinh sống trong một miền quê hẻo lánh gần một vùng núi rừng heo hút, xa xôi, đất cày lên sỏi đá. Tôi chưa bao giờ được cắp sách đến trường. Do đó, từ lúc mới lên bảy, tôi được một nhà phú hộ mướn chăn dê.
Trần Trung Sáng- Buổi sáng, đang ngồi một mình ở quán cà phê đợi người quen, bỗng dưng từ bàn bên cạnh, một phụ nữ lớn tuổi, sang trọng bước đến niềm nở chào tôi: “ Chào anh, anh còn nhớ tôi không?”. Thoáng bất ngờ trong chốc lát, rồi tôi lập tức nhớ ra: đó là bà Hoàng Ngọ, chủ một doanh ngiệp kinh doanh khách sạn khá tầm cở trong thành phố, mà tôi từng giao tiếp vài lần trong nhiều năm trước.
Một đời xuôi ngược long đong Một đời vai lệch lưng còng vì ai? Một đời mưa nắng sần chai Một đời củ sắn củ khoai, một đời! Môt đời khản tiếng ru hời Một đời không rứt những lời bảo răn
Lê Thanh Hùng - Vệt nắng trôi qua lời hẹn cũ Dập dờn trong nắng chảy mùa thu Rơi đâu đó, một thời hoa nụ Bên nhánh sông, sương khói mịt mù * Tiếng cháu gọi bi bô bên cửa Vội vàng la con gái vụng về Giữ con trẻ, lơ ngơ, lần lựa Ngóng trông chiều, nắng quái rủ rê * Bổng xao động điều gì khỏa lấp Dằng dặc chìm trôi bốn mươi năm Tiếng cười vỡ, niềm vui giả lập Lóng lánh tình, say đắm xa xăm ...
Lúc này Hà Nội đang vào hè, đã mấy đêm rồi mưa to tràn về cố để làm dịu cái nóng cái oi đầu mùa. Nếu một mình đứng trong mưa bạn sẽ cảm được cái mùi vị mưa rất riêng không sao tả được thành lời. Mỗi người ở vào mỗi lúc khác nhau lại có những cảm xúc riêng khác hẳn lần trước. Bởi vây ta chỉ có thể ghi lại những khoảnh khắc ấy chứ không có thể vẽ ra thế nào là mọt trận mưa đêm hè Hà Nội. Chí xin các bạn một điều, đọc chậm và… chậm, thế thôi….
Thiệt tình là tiếng Má lâu lắm rồi tôi không gọi, nhắc tới tự nhiên nước mắt trào ra, bởi Má ruột tôi thì khuất bóng đã lâu, mà Má chồng thì cũng gần chục năm rồi. Buồn nữa là tiếng Má hình như cứ vắng dần, vắng dần ở xung quanh. Mà chính tui, hồi sinh con, cũng bắt chước kêu Mẹ, rồi con quen mất, giờ tiếc!
Anh được chấm thời em còn mười bảy Ô Môi này thầm cháy một tình ai Anh thì yêu chỉ có mỗi chị hai Nhờ em chuyện làm mối mai ...tàn nhẫn ! Vu quy chị ngày em buồn luẩn quẩn Khóc mùi vô vọng vẩn đục hồn em
Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa). Con người nhỏ bé, ốm yếu, đứng trong đám đông nào cũng lọt thỏm hầu như mất tích, lại là một trong những con người lớn lao nhất thế giới. Sự lớn lao tạo thành bởi những điều nhỏ bé của mẹ: chăm sóc những người nghiện ngập ma túy, người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi. Toàn những loại người bị người đời lánh xa, khinh rẻ, không muốn động tới.
Vợ buồn mà nói: ''Anh không Làm thơ cho vợ má hồng đã phai! Chỉ tìm thi hứng nơi ai Cho nên làm được những bài thơ hay...!'' Chồng cười, nói với vợ ngay: Bên em, anh thấy mỗi ngày là thơ!
HÈ VỀ NHỚ MÁI TRƯỜNG XƯA, VẪN CÒN IN BÓNG NGƯỜI TRÔNG MỘT NGƯỜI… ...Hôm nay chớm nắng đầu hè. Mà sao lại vắng tiếng ve sân trường!!! Bâng khuâng chiếc lá nhẹ vương Hàng cây gió động con đường lao xao.
Bảo Trợ