Chiếc bẫy thời kháng Pháp

06 Tháng Chín 20212:00 CH(Xem: 4726)
Ông Chiếng trầm ngâm bên cái chuồng gà trống không, tối hôm qua không biết thằng ăn trộm vô lương tâm nào đã tới nẫng nguyên bầy gà của ông. Đâu ít gì, cả thảy cũng gần hai chục con gà lớn nhỏ. (ảnh minh họa internet)

lang que

Ông cảm thấy buồn trong lòng vô cùng, mới mấy ngày trước đây, thằng cháu nội mà ông cưng nhất, nó xin ông một con gà trống con, ông đã hứa cho nó, mà nó chỉ dám xin con nhỏ. Ông đã định bụng đến ngày lễ Chầu lượt, gia đình nó xuống chơi, ông sẽ nói bà Chiếng làm thịt một con gà lớn nấu cháo để cho tụi nó ăn. Còn thằng cháu ông sẽ dành cho nó một bất ngờ là ông bắt con gà trống choai cho nó, con gà này đang trổ mã tiếng gáy đã ra vẻ đem đi chọi được, ông nghĩ thằng cu Tũn sẽ mừng như thế nào.

-Bà ơi! Ra coi chuồng gà này, không còn mống nào nữa cả! Ông buồn bã gọi bà.

Bà Chiếng chạy ra đứng bên ông há mồm ra nhìn, chẳng nói được lời nào. Cái chuồng gà ông Chiếng làm bằng tre tương đối chắc chắn, bây giờ chẳng còn con gà nào cả. Mỗi chiều ông hay bà đều vãi bắp cho gà ăn, nhìn bầy gà thân thương cục cục giành nhau ăn, ông bà thấy rất vui trong lòng. Bầy gà là lợi tức của ông bà, vừa có tiền tiêu vừa có thịt ăn trong những bữa cơm gia đình.

-Con cái nhà ai ba trợn ba trạo vậy không biết! Gà người ta nuôi cũng mồ hôi nước mắt, đến ăn trộm không trừ lại một con nhỏ nữa. Bà Chiếng than thở.

-Thời buổi bây giờ con người ta ăn trộm ăn cắp như rươi! Chẳng bù mấy mươi năm về trước, đi đâu chẳng bao giờ phải khóa cửa mà vẫn an tâm.

Xóm quê này là xóm đạo, dân chúng di cư từ ngòai Bắc vào đã gần Năm mươi năm, làng xóm thân tình sống bên nhau, đùm bọc nhau như bà con ruột thịt. Ruộng vườn là công việc chính yếu từ bao năm qua, năm nào trời thương mùa màng cũng tương đối, gạo lúa ngô khoai đủ ăn, có khi còn dư đem bán kiếm chút tiền sửa sang nhà cửa.

Cuộc sống ổn định được vài chục năm thì lại thêm một lần di cư nữa, lần này thì người di cư không phải là bà con trong xóm đạo này, mà là người tứ xứ đến đây, từ Bắc vào cũng có, từ Trung vào cũng có, từ thành phố về cũng có. Do cuộc sống khó khăn, Dân chúng tìm đủ đường kiếm miếng ăn cho cuộc sống. Và miền quê với ruộng vườn mặc dù cuộc sống lam lũ, thiếu phương tiện nhưng lại có thể trồng trọt ngô khoai sống qua ngày. Thế nên xóm đạo của mấy mươi năm về trước cũng thay đổi, cái thay đổi do thời cuộc nhiễu nhương, tranh tối tranh sáng…

Ông Chiếng nằm buồn gác tay lên trán suốt cả ngày, là người có đạo, ông tin Chúa sẽ phù trợ giúp đỡ khi mình làm điều lành, kinh hạt ông vẫn siêng năng, chẳng bao giờ ông có chuyện với hàng xóm cả, thế nhưng cái điều lành ông trông mong cuối cùng cũng chẳng đến với ông, tuy vậy ông cũng chẳng thất vọng, vì cái lý do mà ông nghĩ là rất chính đáng, chẳng qua cũng vì thời cuộc mà con người sinh tệ hại, đói thì đầu gối phải bò!

Ngày Lễ Chầu lượt của xứ đạo ông, mấy đứa cháu xuống nhà chơi, ông bảo bà mua con vịt đánh tiết canh và nấu cháo, còn thằng cháu, ông đưa nó ra chuồng gà bảo nó:

-Ông nội để dành cho cháu một con gà trống choai, chứ không phải con nhỏ mà cháu xin trước đây đâu. Nhưng tuần rồi ăn trộm nó bắt hết cháu ạ.

Thằng cu Tũn thất vọng đến tội nghiệp, nhưng chợt mắt nó sáng lên:

-Thế ông Nội có nuôi nữa không? Lần trước ông nói ông sẽ nuôi gà nòi nữa mà!

-Ừ, ông sẽ mua cặp gà nòi cho nó đẻ trứng ấp con, lứa đầu tiên ông sẽ cho con một cặp

chịu không?

Thằng Tũn vỗ tay cười vui vẻ nghĩ đến cặp gà nòi, bằng tuổi nó chẳng ai cho nó rớ đến chứ đừng nói là có trong tay nguyên một cặp. Nó biết là mơ ước của nó sẽ thành sự thật vì ông Nội của nó nuôi gà đã nhiều năm, ông chịu khó chăm sóc nên gà mau lớn khỏe mạnh. Nó nghe ông kể là trước đây ông cũng đã nuôi gà nòi đi chọi, đá gà, nhưng thời trẻ trung đó đã qua, bây giờ lớn tuổi ông chỉ nuôi gà thịt mà thôi.

Ông Chiếng lại bắt đầu gầy dựng bầy gà từ số không. Chuồng thì sẵn, chỉ phải mua cặp gà khỏe mạnh để nuôi mau đẻ trứng ấp con.

Lần này thì chuồng gà ông Chiếng làm thêm cửa đóng then cài, đề phòng ăn trộm lần nữa. Ông dự định nuôi thêm một con chó xích nó phía nhà sau, để có động tĩnh gì nó sủa lên báo động.

Ông bà Chiếng cứ chiều chiều lại ra sân sau, vãi bắp lúa lép cho bầy gà ăn, hai con gà nòi mới đó mà đã cao lêu khêu nổi bật giữa đám gà đẻ. Ông nghĩ đến thằng Tũn, cháu cưng của ông, nhất định phải cho nó một cặp để nó mừng.

Buổi chiều trời mát, ông đang sửa lại cửa chuồng cho chắc chắn thêm, ông gắn ổ khóa vào cái cửa nẹp sắt, các then chắn đứng bằng tre rất chắc, nhưng nếu lấy búa nạy cũng sẽ bật ra, ông bọc phía ngòai một lớp lưới sắt. Chú Tiếng bên nhà qua chơi thấy vậy nói:

-Bác Chiếng ơi! Thời buổi bây giờ, bác có làm chắc mấy ăn trộm nó cũng bắt được thôi! Rãy tiêu của anh Chiếu gần bên rãy cháu, hồi tối ăn trộm vào cắt nguyên bụi tiêu kéo xuống để hái. Thật hết nói, vườn tiêu bị cắt chắc cũng vài chục bụi sây trái nhất. Ăn trộm bây giờ chẳng những lấy trộm còn phá họai nữa. Bụi tiêu trồng cả mấy năm bị cắt ngang, chẳng biết là người hay quỉ nữa!

Ông Chiếng thở dài:

-Anh cũng biết đó, ông bà già tui làm ăn được chi, chỉ có bầy gà nuôi mà tụi nó cũng cạy chuồng bắt sạch. Sát bên nhà mà tụi nó còn làm vậy thì ngòai rãy chắc còn trồng trọt được gì nữa.

-Hồi xưa đây có vậy hả bác? Cháu còn cột cả hai con bò ở lại trong rãy, vì về đường sình lầy quá. Bây giờ chẳng ai dám làm vậy.

-Cũng tại cái thời thế cháu ạ!

-Thời thế gì bác! Tụi nó cờ bạc rượu chè rồi sinh ra ăn trộm chứ thời thế gì!

-Đành là thế, nhưng ngày xưa khi bác còn thanh niên, cũng thiếu gì đám ăn chơi, nhưng đâu đến nỗi này. Cái xã hội nó sinh ra vậy mà!

Ông Chiếng nghĩ đến thằng Tũn, đến tiếng thở dài của vợ ông mà buồn trong lòng, chẳng lẽ bó tay trong cái chuyện này sao. Ăn trộm không có lương tâm, mà mình cứ nhịn hòai chắc cuối cùng nhịn đói. Ông nhớ lại hồi thanh niên tham gia kháng Pháp, tổ của ông đã làm những cái bẫy rất tinh vi, bọn Pháp cứ bị dính bẫy hòai, sau này không dám làm thêm, chỉ vì tụi Pháp khi bị thương vì bẫy, nhà nào gần đó nó tới kéo cổ chủ nhà ra tra hỏi. Dân quê biết gì đâu, mà tội nghiệp biết họ cũng không nói cuối cùng nó đem đi giam có khi biệt xứ luôn.

Bây giờ đã già, nhưng ông vẫn nhớ những cái bẫy đó,ông muốn làm vài cái bẫy thông thường quanh chuồng gà, thằng ăn trộm nào mò tới dính bẫy cho biết. Ông Chiếng nói với bà:

-Tui dự định bẫy ăn trộm bà ạ. Tui làm bẫy tối tối giăng ra bên chuồng gà, phải làm một lần cho tụi nó tởn, chứ không thì nuôi công không cho tụi nó ăn.

-Không được đâu ông ơi! Con nhà Công giáo mình ai lại làm thế, rủi nó bị thương lại còn phải tốn tiền thuốc thang cho nó. Rồi thì bà con lại lời ra tiếng vô chuyện ác đức đó nữa.

-Thế còn chuyện trộm cắp phá họai của bọn ăn trộm thì sao?

-Đành chịu vậy! Ông rán làm chuồng cho kỹ, coi ngó đêm hôm chứ biết làm sao bây giờ. Ông cũng thường nói là tại cái thời thế nó sinh ra mà!

Ông Chiếng ngẫm nghĩ lời bà nói có lý, chẳng lẽ mình con nhà có đạo lại gây ra chuyện như thế mang tiếng. Cái bẫy thời kháng Pháp ông đã có cách làm, nhưng lại không thể đem ra áp dụng được. Ông chắt lưỡi:

-Thôi, đành phải trông trước ngó sau vậy! Chỉ mong là tụi ăn trộm biết đường ngay nẻo chính mà theo, chứ cái thời thế nó sinh ra thì đành chịu!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Con tàu cứu hoạ!  Sau khi Cain hãm hại em mình, rồi rời khỏi gia đình đi đến một miền đất xa.  Chẳng bao lâu, loài người càng ngày càng sinh sôi nảy nở đông đảo trên mặt đất, và khi sống chung trong một cộng đồng bao gồm cả những người hiền kẻ dữ, đã nảy sinh ra rất nhiều tệ đoan xấu. Nạn cướp bóc, dùng sức mạnh bạo lực để trấn áp người khác tràn lan. Con người mặc dù Trời sinh tự nhiên đã có những cảm nhận lẽ phải từ trong tâm trí, nhưng trước những cám dỗ, những lôi cuốn của dục vọng ham muốn bất chính, đã để lòng ngã theo điều xấu. Thiên Chúa, Đấng Thượng Đế đã tạo dựng lên vũ trụ và tất cả những gì hiện hữu trên mặt đất, Ngài lấy làm buồn lòng! Chính quyền năng của Ngài đã tạo dựng nên họ, nhưng cũng chính lòng nhân lành bao dung của Ngài đã để họ được tự do.
Hong hanh nắng đổ tràn trên khắp nẻo Bình minh trong, rộn rã tiếng chim ca Một sớm mai hoa nở trước hiên nhà/19 Tháng Bảy 2016 (Xem: 1951) / Lòng mát rượi: ngọn gió lành lùa qua khung cửa sổ Âm thanh ngày mới hoà vào lòng thành phố Những chuyến tàu lại hối hả đi xa
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Kính nhớ Linh Mục Hiệu Trưởng Phêrô Trần Đình Trong và Thầy Giám học Augustin Nguyễn Nghĩa Khôi - Trung Học Hồng Lĩnh + Thắp nén hương lòng nhớ trường xưa - Còn ai còn nhớ tận bây giờ - Vật đổi sao dời, lòng không đổi - Hồng Lĩnh trường xưa vẫn trong thơ
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Theo các công trình nghiên cứu thì cư dân Hòa Bình đã định cư thành từng xóm làng, trồng rau, củ như khoai mỡ ở thung lũng đồi và chế tạo đồ gốm. Đó là thời kỳ văn hóa nương rẫy của cư dân Hòa Bình. Di tích hang Tham Fi là hang ma (spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại khoảng từ 8 đến 10 ngàn năm. Tại đây, nhà khảo cổ Mỹ Chester Gorman đã tìm thấy nhiều hóa thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắng chùa Hương nửa hoang dại nửa trồng trọt. Thời kỳ này, cư dân đã chuyển hẳn sang chăn nuôi trồng trọt nhỏ tuy vẫn còn hái lượm và săn bắt cá và nghề trồng lúa nước đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển lên vùng cao.
Dù bao năm xa cách, cảnh cũ quê xưa vẫn thao thức trong tim. Gửi bạn nỗi niềm xứ sở. Quê Nhà (Tặng anh Đặng Xuân Hường). Gieo câu thơ cánh đồng quê Hai mùa mưa nắng đi về ghé thăm Bàn tay lao nhọc tháng năm Ruộng nương, đồng bãi, bón chăm ngóng chờ. Mướt xanh sóng lúa đôi bờ Cánh cò bay lả vu vơ giữa đồng Vàng tươi ruộng bí đơm bông Chiền chiện vút tiếng mênh mông đất trời. Ngọn cau, ngõ trúc, giếng khơi Liếp cà bên dậu mồng tơi mỡ màng Mồ hôi thấm cánh đồng làng Tiếng cười mùa gặt rộn ràng bước chân. Rào rào quạt lúa ngoài sân Trời lên cao vút trong ngần mắt em Cánh chim nương cánh gió mềm Hồn quê nương nhẹ êm êm mây ngàn. Lời kinh chiều hôm miên man Tình Ngài ghi dấu yên hàn sớm hôm. Tháng 8-2014 Phạm Toàn
(Sự tích vui câu chuyện về thời học sinh xưa) - Ngày xửa ngày xưa, khi con người vừa phát minh ra chữ viết để tiện việc học hành thì cũng chính lúc đó, Ngọc hoàng Thượng Đế vừa để mắt tới đám... học trò dưới thế gian! Ngài ra lệnh cứ mỗi một trăm năm thì vị Thần Giáo Dục phải thân chinh xuống trần gian tìm hiểu xét đoán về việc học hành của con người phát triển như thế nào, vì như ngài nói:/18 Tháng Mười Một 2018(Xem: 3472)/
Bảo Trợ