Chúa Nhật 4 Mùa Vọng, Năm A Các Bài Suy Niệm & Chú Giải Lời Chúa

21 Tháng Mười Hai 20193:17 SA(Xem: 182)

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, NĂM A
Các Bài Suy Niệm & Chú Giải Lời Chúa
Lời Chúa: Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24

blank

  1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
MỤC LỤC
  1. Trời can thiệp
  2. Emmanuel
  3. Chúa ở cùng chúng ta
  4. Ơn Cứu Độ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng
  5. Dòng tộc – Radio Veritas Asia
  6. Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta
  7. Trong kế hoạch của Thiên Chúa – R.St.G
  8. Giuse, người công chính
  9. Sự công chính của Thánh Giuse
  10. Đấng Emmanuel
  11. Tâm tình của Giuse với biến cố nhập thể – Anmai
  12. Hạnh phúc khi có Thiên Chúa ở cùng
  13. Vâng theo Ý Chúa – R. Veritas
  14. Hãy làm sáng danh Chúa
  15. Đừng ngại
  16. Được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ
  17. Ngài từ đâu đến? – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng
  18. Truyền tin cho ông Giuse
  19. Thánh Giuse, mẫu gương Mùa Vọng
  20. Thiên Chúa ở cùng chúng ta
  21. Emmanuel: Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta
  22. E sợ
  23. Chúa Cứu Thế giáng sinh – R. Veritas
  24. Suy niệm của ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
  25. Vâng phục trong trách nhiệm
  26. Giải quyết một vấn đề nhờ đức tin
  27. Mùa Vọng: Mùa trong veo – ĐGM Vũ Duy Thống
  28. Giuse im lặng
  29. Mộng báo
  30. Đức Trinh Nữ Maria
  31. Công chính
  32. Công chính
  33. Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emanuel
  34. Chúa bước vào đời tôi
  35. Thiên Chúa làm gì cho chúng ta?
  36. “Ông Giuse là người chính trực”
  37. Suy niệm của JKN
  38. Emmanuel
  39. Thiên Chúa là Đấng trung thành
  40. Thánh Giuse- Người cha công chính
  41. Emmanuel- Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta
  42. Đừng sợ – Lm. Nguyễn Minh Hùng
  43. Điều xảy đến bất ngờ – Lm Nguyễn Ngọc Long
  44. “Giuse, con Vua Đavit” – Lm. Nguyễn Hùng
  45. Khởi đầu mới phát xuất từ Thiên Chúa
  46. Chú giải của Noel Quesson
  47. Chú giải của Fiches Dominicales
  48. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
  49. Chú giải của William Barclay
  50. Mùa yêu thương
  51. Chúa ở cùng chúng ta – Lm Jos Tạ Duy Tuyền
  52. Emmanuel Thiên Chúa ở cùng chúng ta
  53. Truyền tin cho ông Giuse
  54. Thiên Chúa ở cùng chúng ta
  55. Tuân theo ý Chúa
  56. Sống công chính và toàn tâm phụng sự Chúa
  57. Theo gương Mẹ Maria sống tâm tình Mùa Vọng
  58. Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Mộng Thơ
  59. Rước Đức Maria về nhà – Lm Phạm Quốc Hưng
  60. Suy niệm của John Nguyễn
  61. Đức Giêsu là ai? – Lm Augustine
  62. Thánh Giuse con người của niềm tin
  63. Chúa Nhật 4 Mùa Vọng
  64. Mẹ Maria và Thánh Giuse

THIÊN SỨ BÁO TIN CHO GIUSE

CÂU HỎI GỢI Ý

  1. Ai là nhân vật chính của trình thuật: Chúa Giêsu? Đức Maria? Thánh Giuse? Ai là chủ từ các câu xét về văn phạm? Tại sao nơi câu 18, tác giả lại dùng kiểu nói thụ động (“bà đã chịu thai”)?
  2. Bí ẩn của trình thuật: thánh Giuse tỏ ra công chính ở chỗ nào? phải chăng là công chính theo luật? Như vậy thì tại sao ngài hành động cách bí mật? Phải chăng là lòng từ tâm? Vậy thì tại sao ngài định ly dị Đức Maria nếu nghĩ rằng bà vô tội? Muốn trả lời, phải giải quyết bí ẩn khác sau đây: thánh Giuse cho rằng Maria có tội hay vô tội? hay ngài tôn kính bà như hòm bia Thiên Chúa? Có nền tảng văn chương nào cho những lập trường ấy không? hay chỉ có những khó khăn không vượt qua được?
  3. Việc hiện ra cho Giuse được tường thuật với thể văn của các cuộc truyền tin, loại biến cố trong đó luôn có vấn đề một dấu chỉ được mặc khải và một sứ mệnh được trao phó: so sánh với St 16,11; 17, 19; Tl 13, 3- 5; Is 7, 14; Lc 1, 26- 28. Trong trình thuật Mt, ta có gặp lại những yếu tố của lược đồ chung ấy không?
  4. Trong các lần hiện ra của thiên sứ sau đó, Giuse có còn được gọi là “con Đavít” nữa không? Nơi Mt 1,1 phải chăng Chúa Giêsu đã không được gọi là Con Đavít? Đối chiếu hai trường hợp.
  5. So sánh câu trích dẫn Is 7,14 trong Mt và trong nguyên bản: đâu là chi giết thay đổi chính? Chi tiết này có ám chỉ điều gì về ý nghĩa của trình thuật không?
  6. Phải chăng không có đồng nhất cơ cấu giữa sứ điệp (cc.20- 21), câu trích dẫn sấm ngôn (c. 23) và trình thuật (c.25)? Hãy nhấn mạnh đến những hạn từ được lấy lại trong mỗi phần cửa ba phần câu chuyện.
  7. So sánh viễn tượng của Mt và của Lc trong các trình thuật thời thơ ấu. Lc muốn dạy về việc thụ thai đồng trinh và cho thấy Thiên Chúa làm được mọi sự. Mt có mục đích khác không? (x. 1, 1- 17).
  8. Hãy thử tái lập lại cách dịch cc.20- 21: chữ “vì” mở đầu câu nói đến việc thụ thai đồng trinh có ý nghĩa gì?
  9. Nên gán cho đoạn văn tiêu đề nào: “Việc thụ thai Chúa Giêsu cách đồng trinh” hay “Giuse đứng trước mầu nhiệm”? Có thể tìm được một tiêu đề hay hơn không? Hãy tra cứu các ấn bản sách Tin Mừng.
  10. Có thể so sánh Giuse với Gioan tiền hô theo nghĩa nào? Đâu là vai trò của Giuse trong nhiệm cục cứu rỗi?

*******

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Qua tiêu đề bản văn (c.18a), Mt muốn ngỏ lời với các tín hữu để xác định hoặc sửa sai quan niệm của họ về việc Chúa Giêsu Kitô sinh ra. Mt không đưa ra một chỉ dẫn nào về Maria và Giuse; ông nói đến các ngài như những người mà độc giả đều biết rõ. Chủ ý của ông chẳng phải là trưng tài liệu song là dạy giáo lý.

Câu 18b gợi ý (song không minh nhiên quả quyết) rằng Giuse đã biết việc thụ thai con trẻ là do Chúa Thánh Thần.

Động từ sunelthein, theo tự nghĩa là “đến với, phối hợp với một người nào đó”, có thể chỉ việc giao hợp hoặc việc sống chung. Văn mạch gần phù hợp với nghĩa đầu hơn. Cô thiếu nữ Do thái, được đính hôn vào khoảng tuổi 12, thoát khỏi quyền giám hộ của người cha để ở dưới quyền giám hộ của người chồng vào lúc 13-14 tuổi (việc chuyển tiếp này, khai mạc việc sống chung, làm nên lễ hôn phối).

“Do tự Thánh Thần”: giới từ “ek” ở đây nói đến một nguyên nhân lịch sử: do một hành động độc nhất của Thánh Thần. Lc 1,35 thì loan báo một hoạt động tích cực hơn: Thánh Thần “sẽ đến trên” Đức Maria. Từ ngữ của Mt, vì chỉ ghi nhận sự kiện, nên có vẻ dè dặt hơn. Vả lại, Mt mỗi lần nói đến Thánh Thần, là để công bố hoạt động cao siêu của Thiên Chúa, nhưng không giải nghĩa hoặc phân tích gì thêm (3,11; 4,1; 10,20; 12,18; 12,28.31).

“Giuse, chồng bà, vì là người công chính và không muốn tố giác bà”: sự công chính của Giuse hệ tại chỗ nào? Giai thoại ta đang nghiên cứu đã làm các nhà chú giải bối rối không ít. Phần lớn cho rằng sự công chính đó chính là việc mặc khải cho Giuse biết Maria đã thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần, hầu chấm dứt mối băn khoăn nghi ngờ nơi ngài. Nhưng lập trường này đẩy ta vào những vấn đề tâm lý giả tạo và khó giải quyết, những vấn đề hoàn toàn xa lạ với tinh thần của tác giả và độc giả Tin Mừng. Đúng hơn là hình như Giuse băn khoăn không phải về tiết hạnh của bạn mình, song là về mối liên hệ giữa ngài và đứa trẻ, về nhiệm vụ ngài phải gánh vác đối với đứa bé đó. Giuse không công chính theo nghĩa là ngài vâng lời Lề luật vì chả có luật nào buộc phải ly dị vị hôn thê mới bị coi như là ngoại tình cả (Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì chứng thư ly dị chỉ có giá trị pháp lý khi mang tính cách chính thức công khai (Đệ nhị luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). (Vẫn biết pháp chế của các tiến sĩ luật có cho phép tổ chức việc ly dị riêng tư trước hai nhân chứng – x.Mishnah, Sotah 1, 5- song hình như pháp chế ấy nằm sau thời Chúa Giêsu; hơn nữa, kiểu ly dị như vậy không thể là điều Giuse nghĩ tới, vì bản văn Mt rõ ràng nói đến một việc ly dị “âm thầm, bí mật” – từ ngừ hy lạp lathra, theo Zorelle, Bauer…, chỉ có ý nghĩa ấy – với lại ly dị mà có hai nhân chứng thì sức mấy giữ được bí mật lâu trong một ngôi làng nhỏ như Nadarét…). Sau cùng, mọi lối giải thích sự công chính của Giuse như là “công chính chiếu luật” sẽ đẩy ta vào chỗ tiến thoái lưỡng nan. Thật vậy nếu theo con mắt của Giuse, Maria phạm tội ngoại tình, thì ta hiểu ngay là ngài đã nghĩ tới chuyện ly dị, song ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến việc ly dị âm thầm, vì bấy giờ việc ly dị sẽ chẳng có hiệu lực pháp lý và lại không thể giữ bí mật được lâu. Đàng khác, nếu Giuse coi Maria vô tội, thì ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến chuyện ly dị bà, vì pháp luật đâu cho phép và vì, xét như là hôn phu, người có bổn phận bảo vệ vị hôn thê vô tội chống lại mọi nghi ngờ vô bằng cứ của kẻ khác. Thành ra không thể cắt nghĩa sự công chính của Giuse như là “công chính theo luật” được.

Vấn đề ở đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động thần linh: Giuse nghĩ rằng mình không được quyền đem về nhà một kẻ mà Giavê đã dành riêng cho Ngài. Trước mầu nhiệm ấy, Giuse muốn rút lui, và vì tế nhị đối với Thiên Chúa. Ngài cẩn thận không muốn “tiết lộ” mầu nhiệm thần linh nơi Maria (tiếng deigmatisai, theo Origène và Eusèbe, không bao hàm ý nghĩa xấu tố giác? bêu nhục) như tiếng paradeigmatisai; Jouon cũng dịch là tiết lộ, bày tỏ “). Ngài phản ứng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Thánh Kinh trước việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ: như Môisen cởi giày trước bụi gai rực cháy, như Isaia khiếp đảm truởc sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh, như Elidabét tự hỏi tại sao mình được mẹ Chúa viếng thăm, như viên bách quản trong Tin Mừng, như Phêrô cúi mình tâu: “Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con là kẻ tội lỗi “… Như “Abel người công chính”, Giuse đã tỏ mình ra là kẻ hết dạ tôn thờ Thiên Chúa tabel là người “công chính” duy nhất được Mt gọi tên trong Tin Mừng của ông, 23, 36, công chính không phải vì tuân hành Lề luật, vì Lề luật chỉ được công bố với Môisen!).

Lối giải thích này được văn mạch chung của chương 1 Mt xác nhận. Thật vậy, trong đoạn văn đầu tiên, Mt kể lại gia phả của Chúa Giêsu bắt đầu từ Abraham và Đavít, đi ngang qua Giuse. Nhưng chính gia phả ấy lại gặp một vấn đề hóc búa nơi Giuse. Hóc búa là vì Chúa Giêsu chẳng phải là con Giuse theo xác thịt. Thành ra bản văn chúng ta đây có mục đích giải thích làm sao Chúa Giêsu thuộc về dòng dõi Đavít, mặc dù Người chẳng phải là con Giuse. Và lời giải thích nằm ngay trong việc Giuse thừa nhận Chúa Giêsu trước mặt pháp lý. Do đó ta thấy rõ trình thuật không có mục đích bênh vực việc thụ thai đồng trinh cho bằng là chứng minh làm sao Chúa Giêsu đã trở nên con cháu Đavít và là Đấng Thiên sai dòng dõi Đavít, mặc dầu Người được mang thai đồng trinh, một yếu tố đã gây nên vấn nạn lớn lao. Hai phần của chương đầu Mt như thế làm nên hai vế của cùng một chứng minh vậy.

Một luận cứ xác nhận khác là chính lời của thiên sứ (cc 20-21), nếu được hiểu đúng. Cách dịch hay nhất có lẽ như thế này: “Hỡi Giuse, con Đavít, chớ sợ đem Maria về nhà làm vợ vì quả thật (Hy ngữ: gar; pháp ngữ: can certes) thai sinh nơi bà là công thành của Thánh Thần, nhưng (Hy ngữ: dé) bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu; vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi “. Đúng vậy, lối dịch chữ gar ra vì quả thật thường được thấy trong Tân ước (1 Cr 9, 19; 2 Tx 2, 20; Mt 18, 7; 22,14; 24,6…). Thành ra qua lời mình, thiên sứ giả thiết là Giuse đã biết Maria mang thai đồng trinh rồi và chính việc thụ thai này đã thúc đẩy ngài rút lui trước sự can thiệp của Thiên Chúa; tuy nhiên thiên sứ ra lệnh cho ông dù sao (“nhưng”) cũng phải chấp nhận đặt tên cho đứa trẻ và đưa nó vào dòng dõi Đavít.

“Giêsu”: tên chỉ định con người và, đặc biệt trong Kinh Thánh, chỉ định chức vụ mà Thiên Chúa đặt định cho trong lịch sử cứu rỗi. Iêsous là phiên âm hy lạp của tiếng hy bá Yehôshua (Xh 24, 1 3) hoặc Yéthua (Nhm 7, 7), “Giavê là sự cứu độ”, một tên riêng khá phổ thông trong Cựu ước và Tân ước.

“Vì (từ ngữ mở đầu câu nói về ơn gọi, cái ơn gọi được diễn tả qua danh tánh mà Thiên Chúa truyền phải đặt cho đứa trẻ) chính Người sẽ cứu” (động từ “cứu” cũng tái xuất hiện trong ba Tin Mừng Nhất Lãm: 15- 15- 17 là n trong Mt-Mc-Lc, trong khi chỉ mình Lc gán cho Chúa Giêsu tước hiệu “Đấng Cứu Thế” nơi chương 2, 11 và dùng chữ “ơn cứu độ “) dân mình tức Giáo Hội, Israel đích thực; lao, “dân”, là một từ ngữ riêng của Mt (14 lần, trong lúc Mc chỉ dùng hai lần) dùng để chỉ dân Thiên Chúa) khỏi tội lỗi (x.Tv 130, 8; ta không được bảo toàn thể Do thái giáo đương thời Tân ước đều mong chờ một Đấng Thiên sai thuần túy có tính cách quốc gia và chính trị; Thánh vịnh Salomon 17 vẫn hy vọng rằng Con Đavít sẽ quy tụ dân Người, thanh tẩy và thánh hóa họ).

“Mọi sự này xảy ra…” (cc.22-23). Công thức quen thuộc này của Mt không muốn quả quyết rằng giữa các bản văn Cựu ước và thực tai của Tân ước có một cái gì bình đẳng. Mt cho rằng bao giờ cũng vẫn là chính Thiên Chúa điều khiển lịch sử thánh, nhưng các thực tại Tân ước mới là đích điểm và là sự viên mãn của Cựu ước.

“Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai”: Mt trích Is 7,14 (x.2V 16, 5- 9) theo bản 70 với chữ parthenos, “tính nữ”, trong lúc nguyên bản dùng chữ almâ, là tiếng vừa chỉ một thiếu nữ, vừa chỉ một người vợ trẻ. Vì thế, dựa vào Is 7,14, Do thái giáo miền Palestine không mong chờ một Đấng Thiên sai sinh hạ đồng trinh, nhưng dù vậy Đấng Thiên sai cũng sẽ là một người con đầu lòng (Lc 2,7). Trong hoàn cảnh lịch sử của Is 7,14, vị ngôn sứ chỉ loan báo một biến cố sắp gây chưng hửng cho vua Achaz cũng lòng tin.

“Emmanuel”: Mt chẳng cố ý nêu ra một tên mới của Đấng Thiên sai, song chỉ muốn nói lên ý nghĩa của con người và của công cuộc Người thực hiện. Chính Is 7,14, bản văn ông trích dẫn, và 8,8 cũng đã không nhấn mạnh đến sự hiện diện đơn thuần của Thiên Chúa, điều mà cả Kinh Thánh đều giả thiết, nhưng đến sự hiện diện tích cực, hằng cứu giúp của Ngài. Như vậy, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ hiện diện giữa dân Ngài để cứu vớt họ. Lời hứa long trọng của Chúa Kitô vinh hiển “Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, 28,20) đánh dấu việc thể hiện hoàn toàn lời loan -báo trên. Như thế, Tin Mừng Mt mở đầu và kết thúc với ý tưởng này là: Thiên Chúa đã hiện diện tích cực với nhân loại trong con người Chúa Giêsu.

Nơi câu 24-25, Mt ghi nhận: sau khi được Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa; ngài “tỉnh giấc” hay “chỗi dậy” tuân hành răm rắp lệnh truyền. Chi tiết các câu 24- 25 tương ứng sít sao với lời dạy của thiên sứ (cc.20-21) và với lời giải thích cùng trích dẫn sấm ngôn (cc.22-23). Như câu 23, câu 25 nhận xét rằng Maria còn đồng trinh lúc hài thi sinh ra; thành ra kiểu nói “ông đã không biết bà cho tới ngày bà sinh con” không phủ nhận cũng chẳng ám chỉ sự đồng trinh sau đó. Vả lại ta nên nhớ mẫu tính đồng trinh của Đức Maria không có ý nghĩa sinh vật học (mặc dầu sự kiện có thật) song là Kitô học, nghĩa là diễn tả đức tin của Giáo Hội vào thần tính và nhân tính của Chúa Giêsu.

KẾT LUẬN

Ở hai đầu của lịch sử Lời hứa, có hai ơn gọi làm âm vang cho nhau và bổ túc nhau: ơn gọi Abraham, cha của Lời hứa, và ơn gọi Giuse, kẻ mà lòng vâng phục mệnh lệnh thần linh đã giúp thực hiện lời Thiên Chúa hứa là cho Đấng Emmanuel tới. Và nhờ được Giuse đưa vào dòng dõi Đavít, kẻ thụ thác Lời hứa, Chúa Kitô từ nay liên hệ trực tiếp với mỗi người con cháu Abraham, đón con cháu đông như sao trên trời chẳng ai đếm nổi (St 15, 5).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. Sự công chính của thánh Giuse không nằm ở chỗ ngài muốn bí mật ly dị Đức Maria. Thật ra nó nằm ở chỗ thánh nhân từ chối coi mình là cha đứa trẻ mà ngài biết là Con Thiên Chúa. Ngài sợ mang tiếng chiếm đoạt vai trò mà Chúa không ủy thác. Sở dĩ ngài muốn ly dị Đức Maria đó là vì tế nhị, vì vâng theo thánh ý Chúa, Đấng không giao cho ngài sứ mạng gì đối với Đức Maria và Hài nhi cả. Đối với Giuse, Thiên Chúa có mặt trong công chuyện này. Thiên Chúa đã sử dụng vị hôn thê của ngài, và vì thế ngài muốn rút êm để khỏi làm cản trở việc thực hiện một chương trình ngài không hiểu thấu. Nói cho đúng, sự “công chính” của thánh Giuse chính là ý thức của ngài về Thiên Chúa, là sự tôn trọng của ngài đối với mầu nhiệm và thánh ý Thiên Chúa. Người Kitô hữu cũng phải có lòng kính trọng sâu xa như vậy đối với các dự tính của Thiên Chúa về mình, phải có ý thức về sự siêu việt của Thiên Chúa mỗi khi Ngài cho ta cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong đời sống thường ngày: qua niềm vui, qua Thánh Thể, qua thử thách, qua lời kêu van giúp đỡ của tha nhân v.v…
  2. Thánh Giuse đã đón nhận Chúa Giêsu Kitô hằng sống. Chúng ta cũng phải đón nhận Người như thế, vì Chúa đang thực sự sống động trong Giáo Hội; nhờ Giáo Hội mà Người tự thông ban cho ta qua Thánh Kinh và Thánh Thể. Ngày nay, tin vào sự hiện diện sống động của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh Thể không khó hơn việc thánh Giuse tin rằng con trẻ mà vị hôn thê của ngày chờ đợi thật là Con Đấng Tối Cao..
  3. Thánh Giuse im lặng: Thánh Kinh không ghi lại một lời nào của ngài, một kẻ dù sao vẫn là con cháu Đavít và đã cho Chúa Giêsu được nên con Đavít.
  4. Emmanuel: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Giêsu: Thiên-Chúa-cứu. Sở dĩ Thiên Chúa ở với chúng ta, đó là để luôn luôn cứu chúng ta. Sự hiện diện của Người trong đời ta là nguồn bình an và hoan lạc lớn lao nhất. Ngày nay, Chúa Giêsu là Emmanuel đối với chúng ta hơn bao giờ hết, vì sau khi sống lại, người đã hứa ớ với chúng ta cho đến tận thế.
Giaophanvinh.org

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong Tông Thư dưới dạng Tự Sắc “Aperuit illis” - Chúa mở tâm trí cho họ (Lc 24:45), Đức Thánh Cha Phanxicô đã ấn định Chúa Nhật thứ III mùa Thường niên là “Chúa Nhật cử hành, suy tư và phổ biến Lời Chúa”. Tông Thư này được công bố hôm 30 tháng 9 năm ngoái, 2019, nhân lễ thánh Giêrônimô, vào đầu năm kỷ niệm 1600 năm thánh nhân qua đời. Thánh Giêrônimô là dịch giả Kinh Thánh nổi tiếng, đã dịch Kinh Thánh từ nguyên ngữ ra tiếng Latinh. Thánh nhân cũng đã từng khẳng định rằng “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô”.
Kính gởi quý linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, và toàn thể anh chị em tín hữu thân mến, Nhân dịp Đức Thánh Cha Phan-xi-cô thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa, và Hiệp Hội Thánh Kinh Công Giáo đề nghị cử hành Năm Lời Chúa, tôi có hai điều muốn trình bày với quý linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể anh chị em tín hữu như sau:
Chúa nhật Ngày 26 Tháng 1 năm 2020 - Chúa Nhật 3 Quanh Năm - Năm A ....Quốc Khánh Của Úc Châu! Hôm nay 26 tháng 01 là ngày quốc khánh của người Australia. Ngày 26/01/1788, lá cờ của nước Anh lần đầu tiên được cắm trên lãnh thổ của Australia, đánh dấu đợt định cư đầu tiên của 730 ngườị 730 cựu tù nhân này đã được coi như - Bài Đọc I: Is 9, 1-4 (Hr 8, 23b - 9, 3) "Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại".
15 Tháng Hai 2013(Xem: 1854) Đầu năm dâng Mẹ lời kinh,- Mừng xuân mới đến tâm tình Mẹ con.- Bao năm an mạnh xác hồn,- Mẹ Hằng Cứu Giúp muôn vàn tri ân.- Nguyện xin Ân thánh đổ tràn,- Trên đoàn con Mẹ gian trần tha phương
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, NĂM A Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa.....Biến cố Chúa chịu phép rửa được cả ba sách Tin mừng nhất lãm kể lại. Sự kiện này đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai của Đức Giêsu. Trình thuật cũng tiên báo về bí tích rửa tội mà Chúa Giêsu sẽ thiết lập qua cái chết và sự Phục sinh của Ngài.
J.B. Đặng Minh An dịch - Lúc 5g chiều ngày 31 tháng 12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi hát kinh chiều tạ ơn Te Deum bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô cùng với tất cả các vị trong giáo triều Rôma trong đó có 36 Hồng Y, đặc biệt là Đức Tổng Giám Mục Angelo De Donatis, Giám Quản Rôma, 7 Giám Mục Phụ Tá và 40 Giám Mục khác, 150 linh mục và khoảng 8 ngàn tín hữu. Hiện diện trong buổi lễ cũng có đông đảo các vị trong Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh.
ĐTC nói: “Hôm nay, chúng ta mừng lễ Thánh gia Nazareth. Thuật ngữ ‘thánh’ đặt gia đình này trong bối cảnh thánh thiện. Đây là một hồng ân của Thiên Chúa, nhưng đồng thời, là tự do và trách nhiệm trong việc thực thi kế hoạch của Ngài. Như vậy, đặc tính của gia đình Nazareth: hoàn toàn sẵn sàng trước Thiên ý”. ĐTC lần lượt giải thích về sự vâng phục của các thành viên trong Gia đình Thánh này.
GIỚI THIỆU Trong một bài trước (http://www.vietcatholic.net/News/Home/Article/253442), chúng tôi đã đưa tin, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Ủy Ban Thần học Quốc tế, trực thuộc Bộ Giáo Lý Đức tin, đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tiếp kiến. Ngỏ lời với họ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ca ngợi thành quả họ đạt được xưa nay trong việc làm cầu nối giữa Thần học và Huấn quyền. Đức Thánh Cha đặc biệt nhắc đến 2 công trình trong 5 năm qua của họ đó là Văn Kiện Tính Đồng Nghị trong Đời Sống và Sứ Mệnh Giáo Hội và Văn kiện Tự do Tôn giáo vì Thiện ích của Mọi người. Văn kiện đầu đã được chúng tôi chuyển sang tiếng Việt (http://www.vietcatholic.net/News/Home/Article/247935). Nay xin chuyển sang tiếng Việt Văn kiện thứ hai, căn cứ vào bản tiếng Pháp do Tòa Thánh Công bố.
Việt Nam là dân tộc có cảm thức tôn giáo rất mạnh. Chính vì vậy, những biểu tượng vật thể lẫn phi vật thể của các tôn giáo thường mang vai trò quan trọng, hoặc để lại dấu ấn rất đậm trong đời sống tinh thần của người dân. Cùng với tiếng chuông chùa, tiếng chuông giáo đường là một trong các đại diện đặc trưng của những biểu tượng đó; nó góp phần định hình nên những nét đẹp và giá trị, không chỉ trong đời sống thiêng liêng, mà còn trong đời sống văn hoá hay tinh thần nói chung của cộng đồng, đặc biệt trong nếp sống ngày xưa của các xóm đạo.
THẦN HỌC VỀ NIỀM VUI[1] Phan Tấn Thành Trước tiên, chúng ta hãy khảo sát xem Kinh thánh nói gì về sự vui mừng (I). Kế đến, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu đề tài này nơi các tác giả nổi tiếng trong lịch sử Kitô giáo; đặc biệt, chúng ta cố gắng tìm hiểu hai điểm: vui mừng là gì? làm thế nào được vui? (II) Sau cùng, để kết luận, chúng tôi sẽ nói tơi phong trào làm tông đồ qua sự gieo rắc niềm vui: người Kitô hữu không những có thể tìm thấy niềm vui ở đời này, nhưng họ còn có bổn phận phải giúp cho thiên hạ được sống vui (III). Kitô giáo là đạo của sự vui tươi chứ không phải của ưu sầu ảm đạm! Những ai năng suy gẫm kinh Mân côi có thể nhận ra rằng có tới 5 sự vui và 5 sự mừng, trong khi chỉ có 5 sự thương: như vậy là vui mừng thắng với tỉ số 2/1. \
Bảo Trợ