Tam Nhật Vượt Qua Các Bài Suy Niệm & Chú Giải Lời Chúa

18 Tháng Tư 201912:18 SA(Xem: 471)

TAM NHẬT VƯỢT QUA
Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa

jesus ruachan


LINH MỤC SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Người ta nói rằng: chim Yến là loài chim không thích cạnh tranh với muôn loài, nên đã chọn nơi thâm sơn cùng cốc, hải đảo xa xôi để xây tổ ấm. Chim yến luôn bay theo hướng mặt trời và không hề đậu lại để nghỉ ngơi. Chim Yến ăn những loài côn

THỨ NĂM TUẦN THÁNH
  1. Tình yêu trọn hảo – ĐGM Jos. Vũ Văn Thiên
  2. Bữa tiệc Vượt qua – Lm. Calôrô Hồ Bặc Xái
  3. Bữa tiệc huynh đệ thánh thiêng – Lm. Jude Siciliano, OP
  4. Linh mục sống cho người nghèo – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
  5. Người đã yêu thương họ – Giuse Đỗ Huy Hoàng, OP
  6. Hãy canh thức với Thầy – Lm. Jos. Vũ An Tôn, OP
  7. Yêu cho đến cùng – Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
  8. Đỉnh cao của mầu nhiệm cứu độ là tình yêu – Lm Jos. Vinc Ngọc Biển
  9. Nỗi buồn Giuđa – Lm. Giuse Hoàng Kim Toan
  10. Yêu thương đến cùng – Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
  11. Lòng thương xót tỏa sáng – Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
  12. Cái chêt cứu chuộc – Lm. An tôn Nguyễn Văn Độ
  13. Tiệc ly, bữa tiệc cứu độ – Lm. Giuse Nguyễn Thành Long
  14. Yêu thương đến cùng – Trích Logos B

trùng sống và đang bay trong không gian. Chim Yến cũng không bao giờ uống nước sông suối ao hồ mà uống hơi sương của sáng sớm và chiều tà. Điều đặc biệt của chim Yến là chúng làm tổ bằng cách tiết nước bọt đặc biệt của mình- đôi khi trộn với cả máu, tạo thành sợi, kết làm tổ để chuẩn bị sẵn sàng cho những Yến con sắp ra đời. Với cách làm tổ bằng chất liệu từ ruột gan rút ra, phải có một tình yêu con mãnh liệt lắm, Yến mới không ngại hy sinh cho con sự sống.

Vâng, chim Yến đã rút ruột cho con. Chim Yến dùng mạng sống mình để bảo vệ, che chở và nuôi sống đàn con. Đây quả thực là một mẫu mực cho tình yêu. Một tình yêu không nói bằng lời nhưng diễn tả bằng hành động. Một tình yêu không so đo tính toán, không toan tính thiệt hơn nhưng chỉ biết yêu là yêu cho đến cùng. Đây quả thực là một tình yêu cao quý mà trong muôn loài mới có một loài dám chết cho người mình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu dám thí mạng mình vì người mình yêu”. Đây quả thực là một tình yêu cao thượng cho đi mà không lấy lại, trao ban mà không bao giờ mong đền đáp.

THỨ SÁU TUẦN THÁNH
  1. Tôn kính Thánh giá – Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
  2. Thông điệp từ Thập giá – Lm. Thiện Duy
  3. Thập giá, sứ điệp của Tình yêu – Văn Tịnh, OP
  4. Suy tôn Thánh giá Chúa – Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
  5. Suy niệm cuộc khổ nạn Chúa Giêsu – Lm. Dom. Đinh Viết Tiên, OP
  6. Buổi chiều thinh lặng thánh – Jos. Vinc Ngọc Biển
  7. Thập giá, ô nhục và vinh quang – Trích Logos B
  8. Tình yêu Thập giá – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Hôm nay, thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta lại được chiêm ngắm một tình yêu cao sâu như thế nhưng được thể hiện nơi con người là Đức Giê-su thành Nagiaret. Một tình yêu sáng tạo đến mức độ tận hiến chính thân mình làm của ăn của uống cho người mình yêu. Một tình yêu rút ruột để làm nên bí tích nhiệm màu là Thánh Thể yêu thương. Một tình yêu không nói bằng lời mà bằng chính hành vi trao ban máu thịt mình nên của ăn nuôi dưỡng đàn chiên.

Chúa Giê-su khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài đã làm cử chỉ thật cảm động khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Điều này như muốn nói Thánh Thể là đỉnh cao của tận hiến hy sinh, của phục vụ quên mình. Việc rửa chân là nhịp cầu không thể thiếu để dẫn tới việc cử hành Thánh Thể. Trước khi cử hành Thánh Thể cần phải thể hiện tinh thân phục vụ hy sinh qua hành vi khiêm tốn như một người tôi tớ phục vụ chủ mình. Vì Thánh Thể là tình yêu tự hiến quên mình cũng cần được thể hiện cụ thể rõ nét trong đời sống đời thường khi hết mình phục vụ tha nhân. Cũng vậy, việc sống đạo, giữ đạo không chỉ dừng lại ở nhà thờ quanh bàn tiệc thánh mà còn phải thể hiện qua việc dấn thân xây dựng xã hội công bằng, bác ái, hiệp nhất, yêu thương.

                 THỨ BẢY TUẦN THÁNH
  1. Đã thấy và đã tin – Chú giải của Noel Quession
  2. Ngôi mộ mở tung và trống rộng – Chú giải của Fiches Dominicales
  3. Đêm thánh – Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
  4. Tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại – Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc
  5. Niềm vui và bình an của Đức Kitô Phục sinh – ĐGM Giuse Nguyễn Năng
  6. Ánh sáng Chúa Kitô – Lm Nguyễn Ngọc Long
  7. Vui lên toàn trái đất – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  8. Gặp gỡ Đấng Phục Sinh – Trích Logo B

 

Khi ĐHY Jorge Mario Bergoglio được bầu chọn làm giáo hoàng, Ngài đã lấy tên gọi là Phanxicô . Chúng ta biết thánh Phanxicô Assisi của thế kỷ 13 là một con người sống cho người nghèo và dấn thân vì người nghèo. Thánh nhân đã muốn “xây dựng lại Giáo Hội Công Giáo với những viên đã sống động là những người nghèo”. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô cũng đã từng sống như vậy và với những gì Ngài đã thể hiện, có lẽ Ngài sẽ tiếp tục dấn thân cho người nghèo trong cương vị chủ chăn hoàn vũ. Ngài cũng đã từng “sống trong một căn nhà nhỏ, chứ không phải tại nơi cư trú nguy nga của giám mục.

Dù là Hồng Y, ngài thường sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, và tự mình nấu ăn cho mình.”

Hôm nay, cũng là ngày cầu cho các linh mục, chúng ta cầu xin Chúa cho Giáo hội có nhiều linh mục như lòng Chúa mong ước. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết đến để phục vụ chứ không để người khác phục vụ. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục sống cho người nghèo và vì người nghèo chứ không sống trong nhung lụa mà gạt bỏ người nghèo. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết cử hành việc phục vụ Chúa nơi các đền thờ tâm hồn con người chứ không dừng lại nơi bàn thờ hiến lễ trong nhà thờ. Cầu xin cho có nhiều linh mục biết cúi mình phục vụ chứ không cao ngạo kiêu căng. Chớ gì các linh mục luôn là hiện thân của tình mục tử sẵn sàng hiến thân vì đàn chiên.

Nguyện xin Chúa là Đấng đã cúi mình phục vụ xin giúp chúng con biết sống khiêm tốn để phục vụ nhau. Amen 

SUY NIỆM CUỘC KHỔ NẠN CHÚA GIÊSU- Lm. Dom. Đinh Viết Tiên, OP

Lạy Chúa Giêsu,jesus cross 3

Nếu có lúc con mỏi mệt và xao xuyến,

xin nhắc nhở con rằng

trong vườn Cây Dầu

Chúa buồn muốn chết được.

Nếu có lúc thấy bóng tối bủa vây,

Xin nhắc nhớ con rằng trên thập giá,

Chúa đã thốt lên : sao Cha bỏ con !

Trong Vườn Cây Dầu

Cùng với các Tông đồ theo Chúa vào vườn Cây Dầu

Đây là ba tông đồ được Đức Giêsu ưu đãi và được Người chọn để chứng kiến một vài biến cố quan trọng. Ví dụ : vụ Đức Giêsu cho đứa bé con ông Gia-ia sống lại (Mc 5,21-43), hoặc vụ Người đổi hình dạng trên núi (Mt 17,1-9).

Thường thường, Đức Giêsu đi xa dân chúng và môn đệ mà cầu nguyện. Nhưng hôm nay, khi đi cầu nguyện, Người lại đem các môn đệ theo, vì hoàn cảnh hôm nay rất là đặc biệt. Người muốn các môn đệ ấy chứng kiến cuộc giao tranh ác liệt cuối cùng của mình, chia sẻ và chấp nhận Thập giá với mình. Nếu không tất cả, thì ít ra là ba môn đệ đã hai lần được đặc ân chứng kiến quyền năng của Người, vì đã được chia ngọt sớt bùi, thì cũng phải chia cay sẻ đắng.

Trong tâm trạng buồn sầu

Đức Giêsu cảm thấy buồn rầu, xao xuyến, vì bỗng nhiên Người thấy mình phải đương đầu với cái chết đã đến nơi. Người mới để ba môn đệ ở lại, đi xa hơn một chút, sấp mình cầu nguyện.

Cử chỉ sấp mình, thoạt nghe, cũng hơi lạ, vì dân Do-thái đứng mà cầu nguyện, chứ không sấp mình. Thánh Luca lại nói : “Đức Giêsu qùy gối cầu nguyện”. Nhưng dân Do-thái cũng không quỳ. Ở đây, Đức Giêsu không đứng cầu nguyện, cũng không sấp mình, nhưng phải nói như thánh Mác-cô, là : Người ngã xuống đất và cầu nguyện.

Khỏi uống chén đắng này

Thánh Mác-cô viết : “Đức Giêsu ngã xuống đất và cầu xin cho mình khỏi phải qua giờ ấy”. Người nói : “Xin cho con khỏi uống chén (đắng) này”. Nhưng từ “giờ” nghĩa là gì ? Từ “giờ” có một nội dung đặc biệt trong Thánh Kinh, nhất là trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan. Trong sách Tin Mừng thứ tư này, từ “giờ” có nghĩa là lúc Đức Giêsu phải chết trên Thập giá để cứu độ chúng ta. Đứng trước cái chết kinh khiếp sắp đến nơi, Đức Giêsu cảm thấy hãi hùng, xao xuyến, nên xin Chúa Cha cho mình khỏi phải qua giờ ấy.

Mt 26,39

Nói lên tư tưởng ấy bằng công thức trực tiếp : “Lạy Cha, xin cho con khỏi uống chén (đắng) này”. Chỉ có điểm phải nói, là : thay vì nói : “khỏi phải qua GIƠ này”, thì Đức Giêsu trong sách Mát-thêu nói : “khỏi uống chén này”. Trong Thánh Kinh, từ “chén” cũng là một từ có nội dung đặc biệt, và có nghĩa là : mật đắng phải uống, đau khổ phải chịu, số phận đau thương. Đức Giêsu xin cho khỏi uống chén “đắng”, tức là Người xin cho khỏi cái chết trên Thập Giá mà Chúa Cha đã định.

Ở đây, chúng ta thấy rõ ràng nhân tính của Đức Giêsu. Làm người, ai cũng sợ chết; hơn nữa, cái chết càng gần và càng thảm khốc, thì con người càng hãi hùng (Mc), buồn rầu (Mt), xao xuyến. Mà đó là trường hợp của Đức Giêsu. Người nói với môn đệ : “Tâm hồn Thầy buồn đến nỗi chết được”. Rồi Người xin Chúa Cha cho khỏi phải qua giờ đau khổ, khỏi uống chén đắng. Tuy nhiên, dầu sợ chết, Người cũng sẵn sàng chết, nếu đó là Thánh Ý Chúa Cha : “Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”.

Canh thức và cầu nguyện

Không thấy Chúa Cha đáp lời, Đức Giêsu mới trở lại với ba môn đệ. Nhưng ba ông lại ngủ mất, nên Người đã buồn rầu lại càng thấy mình cô đơn. Người mới kêu ông Phê-rô mà than trách. Theo thánh Mác-cô, thì Đức Giêsu kêu ông Phê-rô mà than trách chính ông : “Si-mon, anh không thức nổi một giờ sao ?”.

Sau khi than trách, Đức Giêsu bảo các môn đệ : “Phải canh thức và cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn”. Mỗi người đều có kinh nghiệm bản thân về hiện tượng giằng co giữa tinh thần và thể xác, và cũng phải thú nhận rằng tinh thần không dễ gì chế ngự thể xác luôn đâu. Vì sự việc là thế đó, nên chỉ có một cách là đề phòng và cầu nguyện, nhất lại khi đó là cơn thử thách cánh chung mà Đức Giêsu muốn nói ở đây, một cơn thử thách, một cơn cám dỗ làm cho con người khiếp hãi, bỏ cuộc và sa ngã trong giờ chung kết mà không chu toàn sứ mệnh cứu độ.

Mồ hôi máu nhỏ từng giọt (Lc 22,44)

Theo thánh Luca thì Đức Giêsu cũng đi cầu nguyện và trở lại với các môn đệ, nhưng chỉ một lần mà thôi. Thế là tác giả không nhấn mạnh đủ. Tuy nhiên, thay vì nói đi nói lại ba lần việc Đức Giêsu cầu nguyện và trở lại với các môn đệ, thánh Luca nói rõ rằng Người khẩn thiết cầu xin, và hơn nữa, ngài còn nói thêm : Đức Giêsu khẩn thiết cầu xin như thế, là vì lòng Người hãi hùng xao xuyến như lâm cơn hấp hối, đến nỗi mồ hôi Người như máu nhỏ giọt xuống đất.

Thánh Luca còn ghi thêm một chi tiết khác, là sau khi Đức Giêsu cầu xin, liền có thiên thần xuất hiện an ủi. Là môn đệ của thánh Phao-lô, thánh Luca được thấm nhiễm tư tưởng của thầy, để ý hơn ai hết mối tương quan giữa sự yếu đuối của loài người và sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Thánh Phao-lô nói : “Lúc tôi yếu, là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10). Mà, ở đây, nhân tính của Đức Giêsu cũng phải đau khổ, chết chóc. Nên, chính vào lúc đó, Chúa Cha đã sai phái thiên thần đến, tiếp sức cho Đức Giêsu. Ngày xưa, sau khi thắng cơn cám dỗ trong hoang địa, Chúa Cha đã sai thiên thần đến “hầu bàn”, thì hôm nay, cũng thế.

Xin cho con can đảm ,

Đối diện với những thách đố,

Vì biết rằng cuối cùng ,

chiến thắng thuộc về người có niềm hy vọng lớn lao.

Trên Thập Giá

Đứng gần Thập giá (Ga 19,25) :

Tại đồi Gôn-gô-tha, trong các bà con thân hữu có mặt, phải kể một số phụ nữ, tuy thánh Mát-thêu chỉ nói đến khi tường thuật những việc sau khi Đức Giêsu đã qua đời. Các bà này đã theo Người từ miền Ga-li-lê, họ theo để giúp đỡ.

Nhưng, trong các bà ấy, người đáng nói hơn hết, chính là Đức Maria, vì Người là Mẹ Đức Giêsu, và nhất là vì Đức Giêsu, trên cây thập giá, trước khi tắt thở, đã trối cho Người này lời di chúc quan trọng.

Thưa Bà, đây là con của Bà (Ga 19,26) :

Thánh Gioan viết : “Thấy thân mẫu và môn đệ mình yêu quý (tức là thánh Gioan) đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là Mẹ của anh””. Lời văn đơn sơ, dễ hiểu, đồng thời lại cho chúng ta thấy một vấn đề rất quan trọng là Đức Maria không còn người con nào khác, ngoài Đức Giêsu. Anh em Thệ phản cho rằng : Đức Maria còn có nhiều người con khác, ngoài Đức Giêsu. Nhưng bản văn nói trên cho chúng ta thấy ngược lại.

Quả vậy, Đức Giêsu chết, thì những người con ruột khác của Đức Maria phải chăm lo, săn sóc, nếu có. Nhưng Đức Giêsu đã phải nhờ thánh Gioan chăm lo, săn sóc. Thì phải hiểu ngầm rằng : ngoài Đức Giêsu ra, Đức Maria không còn người con ruột nào khác nữa. Đó là nghĩa đen của bản văn

Người trao cho Đức Maria một sứ mệnh, là làm Mẹ thánh Gioan và làm Mẹ chúng ta, mà thánh Gioan là người đại diện dưới cây thập giá. Và, như thế, các nhà Thánh Kinh Công giáo thấy rằng Đức Giêsu đã đặt Đức Maria làm Mẹ chúng ta, và bản văn Ga 19,26 này là bản văn nền tảng cho tín điều ấy.

Muốn thấy rõ hơn, chúng ta phải đọc bản văn Ga 19,26 cùng với bản văn Ga 2,1-12 (tiệc cưới tại Ca-na), vì hai bản văn ấy như là hai bản văn xướng đáp, mở đóng.

Hôm ấy, tại tiệc cưới Ca-na, Đức Giêsu nói với Đức Maria và cũng gọi Người là “Bà”, theo nghĩa “đàn bà”, người làm mẹ. Khi Đức Maria xin Người cứu giúp gia đình tân hôn khỏi nhục nhã vì hết rượu giữa đám, Đức Giêsu đáp : “Thưa Bà, giờ tôi chưa đến” (Ga 2,4). Nói thế, Đức Giêsu có vẻ như hẹn với Đức Maria một giờ nào đó hãy xin.

Hôm nay, Giờ Đức Giêsu đã đến, nghĩa là Giờ Đức Giêsu được tôn vinh vì Người đã vâng ý Chúa Cha mà chịu chết, Giờ ấy đã đến trên thập giá, Người trao cho Đức Maria chẳng những gia đình tân hôn hôm ấy phải chăm lo, mà còn tất cả các môn đệ của Người, tất cả những ai tin vào Người trong quá khứ cũng như ở tương lai. Đó là ý nghĩa của câu : “Thưa Bà, đây là con của Bà”.

Lạy Cha, sao Cha bỏ con

Vào độ 3 giờ, Đức Giêsu kêu lớn tiếng. Đây không phải là tiếng kêu la của con người khi bị đau đớn tột độ.

Đức Giêsu kêu lớn tiếng rằng : “Ê-li, Ê-li, lê-ma sa-bác-tha-ni”, nghĩa là : “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?”.

Thánh vịnh 22 mở đầu bằng đau khổ, nhưng kết thúc trong hy vọng. Nên, khi đọc Tv 22,2, Đức Giêsu muốn nói lên nỗi khốn khổ của mình trên thập giá, nhưng đồng thời cũng khẳng định niềm hy vọng vững chắc rằng, Chúa Cha sẽ cứu mình.

Kêu một tiếng lớn :

Có kẻ cho rằng la như thế là dấu chỉ Người thất vọng, hoặc là dấu Người còn sức mạnh. Tuy nhiên, đây chỉ là một công thức thường gặp trong Thánh Kinh (Cv 14,10 ; 26,24 ; Lc 17,15 ; 19,37), và thường dùng để lưu ý đến lời nói tiếp sau. Lời nói ấy là lời nói nào ? Thánh Mát-thêu không nói, nhưng thánh Luca và thánh Gioan có nói (Lc 23,46 ; Ga 19,30).

Hoàn tất (Ga 19,30) – Phó thác (Lc 23,46) :

Theo thánh Gioan thì, trước khi tắt thở, Đức Giêsu nói : “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). Lời ấy cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu suốt đời những muốn chu toàn Thánh Ý Chúa Cha được ghi chép trong Thánh Kinh (Ga 4,34 ; 6,38 ; 17,4 ; 13,1), và, hôm nay, Người đã chu toàn tất cả Thánh Ý Chúa Cha : từ việc nhập thể trong lòng Đức Maria cho đến chuyện uống giấm vừa xong, tất cả đều được thực thi đúng mức. Thật là tốt đẹp, một sứ mệnh cao cả được chu toàn.

Theo thánh Luca thì trước khi tắt thở, Đức Giêsu kêu lớn tiếng : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Câu này, Người mượn ở Tv 31 (30),6. Mà Thánh vịnh này là lời của người sầu khổ kêu xin, phó thác. Nên, khi dùng Thánh vịnh này kết thúc cuộc đời, Đức Giêsu cho thấy Người phải khốn cùng, nhưng sống chết vẫn cầu xin, phó thác vào bàn tay Thiên Chúa.

Trút hơi thở :

Sau đó, các sách Tin Mừng nói : “Người tắt thở” (Mc, Lc), “Người trút hơi thở” (Mt), “Người trao hơi thở” (Ga). Chúa chết, sự việc thật là to tát, nhưng được diễn tả bằng vài chữ ngắn gọn. Mà cũng phải, vì sự việc như thế, không nên mô tả bằng lời văn lãng mạn, và cũng không thể mô tả bằng ngôn ngữ loài người. Tốt hơn hết là nói ít hoặc làm thinh.

Sứ mệnh chu toàn, Người phó thác linh hồn rồi ra đi. Và, theo thánh Gioan, thì cả việc ra đi này, Đức Giêsu cũng chủ động chứ không phải vì kiệt sức, hết hơi.

Đức Giêsu bị treo trên thập giá và, lúc ba giờ chiều, Người tắt thở. Trước mắt người phàm, thì Đức Giêsu thất bại hoàn toàn, lại còn phải ô nhục. Người đau khổ đến nỗi phải kêu lên.

Người kêu, nhưng Chúa Cha vẫn làm thinh. Loài người lại còn chế giễu. Người kêu lên như thế, có phải là vì thất vọng không ? Thưa không.

Đức Giêsu đã dùng lời Thánh vịnh 22 (21) mà kêu. Mà Thánh vịnh này kết thúc với tâm hồn trông cậy. Mà cũng phải. Thực thì Đức Giêsu đã chết ; và tất cả những gì là đặc biệt của cái chết của người phàm, đều thấy có trên thập giá chiều hôm ấy.

Tuy nhiên, cái chết của Đức Giêsu chỉ là một cuộc vượt qua, vì Người sẽ sống lại vinh hiển. Hơn nữa, nó đổi thay số phận loài người, mang lại cho loài người sự sống vĩnh cửu. Những biến cố xảy ra chiều hôm ấy cũng đủ để minh chứng điều ấy : Đền thờ, cảnh vật, những người lành của Cựu ước và nhất là người dân ngoại (Mt 27,54).

Lạy Chúa,

Chúa đã chết để cứu sống con

Chúa đã chấp nhận nhục nhã tủi hổ

Để con sống trong sự tự do hào hùng

của người con cái Chúa
chuaphucsinh

NIỀM VUI VÀ BÌNH AN CỦA ĐỨC KITÔ PHỤC SINH (*)- ĐGM Giuse Nguyễn Năng

Anh chị em thân mến!

Đêm Chúa Phục Sinh, chúng ta ca hát Halleluia! Và Hội Thánh mời gọi chúng ta hãy vui lên, bởi vì Chúa đã sống lại. Nhưng phải nói rằng, chúng ta rất khó cảm nhận được niềm vui của Mùa Phục Sinh, của Đêm Vọng Phục Sinh này. Khi anh chị em mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta cảm nhận niềm vui ấy dễ dàng. Vì ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự sinh ra. Cha mẹ sinh ra con cái và người con được chào đời. Đó là niềm vui cho gia đình, cho xã hội, cho tất cả loài người. Trong Đêm Giáng Sinh, chúng ta cảm thấy mình vui một cách rất tự nhiên. Với Đêm Vọng Phục Sinh hôm nay thì chúng ta lại không có cảm nhận ấy. Phải nói rằng, cái cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh này, cái cảm nhận đầu tiên không phải là cảm nhận vui mừng mà là cảm nhận của một nỗi sợ hãi.

Bài Tin Mừng năm nay là Phụng vụ năm B theo thánh Macco (Mc 16, 1-7). Thánh Macco thuật lại câu chuyện về những người phụ nữ vào buổi sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, mang theo bình dầu thơm ra xức dầu cho Chúa, bởi vì chiều hôm qua Chúa chết vào giờ muộn quá, không kịp xức dầu thơm để ướp xác Chúa. Cho nên sáng ngày thứ nhất trong tuần, các bà mới vội vã ra đi, và khi các bà ra tới tận mộ thì các bà đã cảm nhận được điều gì đó. Chỉ trong 8 câu Tin Mừng, mà thánh Macco đã nhắc đi nhắc lại sự sợ hãi rất nhiều lần. Như là các bà ra mộ, nhìn thấy dấu chỉ của Thiên Thần đến loan tin Chúa đã sống lại, Chúa không còn ở trong mộ nữa. Thiên Thần trấn an: “Các bà đừng sợ! Bởi vì Chúa đã sống lại rồi”. Sau khi nhận được lời từ Thiên Thần nhắn với các tông đồ đến Galile và Chúa sẽ gặp các ông ở đấy thì các bà vội vàng chạy về. Vừa đi vừa run lẩy bẩy, kinh hoàng hết hồn hết vía. Những người phụ nữ đi mà không dám nói với ai điều gì. Bởi vì các bà sợ. Thánh Macco đã nói với chúng ta như vậy.

Cho nên, kinh nghiệm và cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh không phải là niềm vui, mà là sự sợ hãi. Tại sao lại sợ hãi? Sợ hãi là bởi vì, ở đây, con người đang đứng trước sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa. Người ta sợ vì nhiều lý do. Nỗi sợ tự nhiên, đó là con người đứng trước thiên nhiên, sóng cao biển cả, bão táp thì con người thấy mình nhỏ bé quá, con người bất lực nên con người sợ. Con người sợ vì mặc cảm tội lỗi, vì những việc làm xấu, sợ tiếng lương tâm oán trách, sợ Thiên Chúa phạt. Nhưng vẫn còn nỗi sợ khác, nỗi sợ của sự thánh thiện. Nỗi sợ khi mà mình đối diện với quyền năng của Thiên Chúa. Nỗi sợ khi mà đối diện với sự can thiệp của Thiên Chúa vào trong lịch sử của nhân loại. Điều ấy đã xảy ra trong Đêm Vọng Phục Sinh này.

Trong Đêm Vọng Phục Sinh, những người phụ nữ sợ sự can thiệp của Thiên Chúa vào trong nhân loại. Chúa Giêsu đã chết, Ngài đã đi vào qui luật bình thường của con người, đó là có sinh có tử. Nhưng cho tới ngày hôm nay, dòng nhân quả, một diễn tiến tự nhiên của dòng đời đã bị cắt đứt, vì hôm nay, chính Thiên Chúa can thiệp và Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy từ trong cõi chết. Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, những người phụ nữ đã sợ. Chính cái cảm nhận sợ hãi này, là bằng chứng, cho dù không đủ, nhưng là bằng chứng rất mạnh cho thấy sự can thiệp của Thiên Chúa để Chúa Giêsu sống lại. Khi Chúa Giêsu sống lại thì Chúa đã chiến thắng sự chết. Chúa đã chiến thắng đau khổ, tội lỗi và hận thù!

Trong những ngày vừa qua, chúng ta đã suy niệm về những mầu nhiệm Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể và Chúa Giêsu hiến mình trên cây Thánh Giá. Chúng ta nói rằng, Chúa Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc sống mới, một qui luật sống mới. Đó là qui luật của sự quên mình để sống cho người khác, để phục vụ cho anh chị em của mình. Tuy nhiên, tình yêu ấy đã bị phản bội, tình yêu ấy đã bị kết án. Nhưng nếu chỉ có vậy mà thôi thì không ai dại gì mà yêu thương, không ai dại gì mà hiến mình thay cho người khác. Nhưng hôm nay, chúng ta thấy câu trả lời của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với chúng ta rằng: Những ai yêu thương, người ấy không bao giờ phải thất vọng. Thiên Chúa muốn khẳng định với chúng ta rằng: Thiên Chúa chiến thắng sự chết. Thiên Chúa là tình yêu đã chiến thắng hận thù. Chúa Giêsu mở đường cho chúng ta đi và ai đi theo Chúa Giêsu thì người ấy không bao giờ phải thất vọng. Đó là lời quả quyết, mạnh mẽ mà Thiên Chúa muốn nói với chúng ta trong Đêm Vọng Phục Sinh.

Chúng ta đang sống trong một thế giới, mà người ta gọi là, thế giới của nền văn minh sự chết. Người ta sống trong hận thù, trong chiến tranh, trong bạo lực, có thể chém giết nhau bất cứ lúc nào. Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy những sự ích kỷ, những tham nhũng, những bóc lột, những chèn ép và cạm bẫy xảy ra hàng ngày trong xã hội và trên thế giới. Chúng ta đang sống trong xã hội mà người ta chỉ biết hưởng thụ, hay đi tìm khoái lạc. Một xã hội tội lỗi của cá nhân, tội lỗi của thế giới, tội lỗi của toàn thể nhân loại. Xã hội này, thế giới này, nhân loại này cứ theo qui luật bình thường như vậy thì chắc chắn sẽ đi tới tận diệt. Cuối cùng sẽ là cái chết. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng, cũng như dân Do Thái ngày xưa (x. Xh 14,15.15,1a), khi phía trước là biển cả, sau lưng là quân đội Ai Cập, họ cảm thấy cái chết gần kề, cảm thấy cùng đường, cảm thấy bế tắc, cảm thấy thất vọng. Nhưng chính trong sự thất vọng ấy thì Thiên Chúa đã can thiệp, đã mở đường cho dân Do Thái đi qua biển Đỏ. Đó là sự can thiệp mạnh mẽ của Thiên Chúa. Đó là hình ảnh báo trước cho sự can thiệp vĩ đại hơn nữa. Thiên Chúa đã mở đường cho chúng ta đi, Chúa Giêsu đã chết nhưng đã sống lại, cũng như ngày xưa, Thiên Chúa đã dẫn đường cho dân Do Thái đi thì hôm nay Chúa Giêsu cũng dẫn đường cho chúng ta đi. Và nếu chúng ta đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ tìm thấy niềm hy vọng, giữa một thế giới đầy chết chóc và tăm tốinày. Chúng ta hãy để cho Chúa dẫn mình đi, chúng ta hãy để cho Chúa thực hiện công trình, quyền năng của Người nơi cuộc đời chúng ta. Là những Kitô hữu, chúng ta phải là sứ giả của niềm hy vọng. Niềm hy vọng không phải ở nơi tiền bạc, nơi của cải vật chất. Niềm hy vọng không phải là sức mạnh của quân đội, chính trị, nhưng là niềm hy vọng của sự thật và tình yêu. Chúng ta tin vào Chúa, chúng ta hãy đi theo Chúa.

Hôm nay, Chúa Giê su đã sống lại, Chúa mở đường cho chúng ta đi. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường ấy. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, chúng ta nhìn ngắm cây nến Phục Sinh. Đó là biểu tưởng hết sức ý nghĩa. Thế giới tăm tối này, nếu không có ánh sáng của Chúa thì vẫn chìm ngập trong bóng đêm, vẫn là tăm tối, vẫn là tội lỗi, vẫn là chết chóc. Nhưng ánh sáng của Chúa đã thắp lên để chiếu soi thế giới, chiếu soi cuộc đời của mỗi người chúng ta. Anh chị em hãy nhìn lên ánh sáng của Chúa Giêsu để mà tiến bước. Ánh sáng này, ánh sáng của chân lý, ánh sáng của tình thương Phúc Âm, luôn luôn bị những cơn lốc, những cơn gió của tội lỗi tìm cách làm tắt đi. Cơn gió của trào lưu tục hóa, luôn luôn muốn thổi mạnh lên thành bão táp để làm tắt ngúm cây nến Phục Sinh, là Lời Chúa, là tình thương của Chúa. Thánh Gioan lại khẳng định, bóng tối tìm cách trấn áp ánh sáng nhưng mà không bao giờ lại có thể làm tắt được ánh sáng của Chúa Giêsu. Ánh sáng của Chúa, một khi đã được đốt lên thì chúng ta cứ tin tưởng mà bước theo Chúa. Hôm nay Chúa Giêsu đã sống lại, đó là lời bảo đảm cho chúng ta rằng Ánh sáng của Chúa Giêsu sẽ còn mãi.

Khi Chúa Giêsu sống lại, Chúa đã đưa chúng ta sang bờ bên kia của biển Đỏ. Chúa Giêsu dẫn đưa chúng ta từ cõi chết tới cõi sống. Chúa Giê su đã đặt thế giới này trong tình trạng “bất khả hồi”, không bao giờ có thể chịu thua quyền lực của sự chết. Như thánh Phaolô nói: “Chúng ta đã được cùng chết với Chúa và cùng sống lại với Chúa qua bí tích Rửa tội”( x. Cl 2,12). Chúng ta ngồi đây, theo qui luật tự nhiên, chúng ta sẽ phải chết. Nhưng trên nguyên tắc, nhờ Bí tích Rửa tội, tất cả chúng ta đang ngồi đây, chúng ta đã có sự sống lại của Chúa Giêsu rồi. Đức Kitô Phục Sinh đang ở trong chúng ta. Thần Khí của Thiên Chúa là chính Chúa Thánh Thần đang ở trong chúng ta. Chúng ta được đưa vào thế giới của sự sống, thế giới của ánh sáng. Hãy giữ lấy ngọn nến mà anh chị em đã thắp lên ở trong tay của mình, ngọn nến của linh hồn. Chúng ta hãy để cho Tin Mừng của Chúa chiếu soi chúng ta, và cho dù chúng ta có phải chết về phần xác, nhưng đừng để tâm hồn của chúng ta chết trong tội lỗi.

Anh chị em thân mến!

Anh chị em hãy luôn luôn giữ ngọn nến linh hồn mình để trở thành sứ giả của niềm hy vọng. Anh chị em hãy công bố cho mọi người biết khi chúng ta theo Chúa thì chúng ta sẽ được sống. Anh chị em hãy gieo rắc niềm hy vọng trong cuộc đời đầy tăm tối, đầy lo âu, đầy hận thù, chết chóc, đầy những ích kỷ của thế giới này. Chúng ta phải sáng lên niềm hy vọng nơi chân lý Phúc Âm. Chúa Giêsu đã sống lại, chúng ta hãy hát mừng, mà chỉ có người nào thực sự cảm nhận niềm vui ấy, mới có thể hát lên “Halleluia!”. Cho nên từ cảm nhận nỗi sợ hãi, chúng ta tiến tới niềm vui và cảm nhận niềm vui mừng, bởi vì Chúa đã sống lại!

Trong niềm vui Chúa đã sống lại, tôi xin chúc mừng niềm vui tới tất cả mọi người, xin cho ngọn nến Phục Sinh này cháy sáng mãi trong cuộc đời của anh chị em. Xin niềm vui và bình an của Đức Kitô Phục Sinh ở lại mãi với tất cả mọi người chúng ta. Amen
he is risen songlai

GiaophanVinh
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN, NĂM C Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa - Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác?
Cuối tháng 5, 2019 vừa qua, thượng viện California đã thông qua dự luật SB 360 (gọi tắt là SB 360) do TNS Jerry Hill soạn thảo. Dự luật buộc các linh mục phải khai báo với cảnh sát về kẻ xâm phạm tình dục trẻ em, mà linh mục biết được qua lời xưng tội của người đó trong tòa giải tội. Chúng ta có thể hiểu, đây là phản ứng về vụ khủng hoảng xâm phạm tình dục trẻ em của một số giáo sĩ trong vài năm trước. California trở thành tiểu bang đầu tiên của Mỹ đã đưa ra một dự luật xen vào nội bộ của tôn giáo.
Lẽ Sống Hôm Nay: Sự Hiện Diện Của Con Dê & Tự Do Đích Thực! Để khuyên chúng ta chấp nhận cuộc sống, người Đức thường kể câu chuyện sau đây: Có một nhà hiền triết nọ chuyên cố vấn giúp đỡ cho những ai gặp buồn phiền, chán nản trong cuộc sống. Bất cá ai đến xin chỉ bảo cũng đều nhận được lời khuyên thiết thực... Một hôm, có một người thợ may mặt mày thiểu não chạy đến xin cầu cứu. Gia đình ông gồm có ông, vợ ông và bảy đứa con trai nhỏ. Tất cả chen chúc nhau trong một căn nhà gần như đổ nát.
Vào lúc 12 giờ trưa ngày 29/06, lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, ĐTC đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin. Trong bài huấn dụ ngắn, ĐTC nói đến Giáo Hội của Chúa Kitô, “hiền thê” của Ngài, và vẻ đẹp của sự khác biệt và niềm vui của hiệp thông.
ĐTC yêu cầu họ phải nghiêm khắc trong công việc và khách quan để tường thuật một cách chuyên nghiệp. Ngài đưa ra một ví dụ: đừng phát ngôn như những kẻ lớn tiếng nhất, nhưng hãy lên tiếng như những người nói sự thật.
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, NĂM C Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa-
Ôi! Người Cha yêu quí của con!- Người đã sinh thành nên con cả xác hồn- Chưa một lần con gặp Ngài trên trần thế- Nhưng mỗi ngày con cảm nhận từ con tim- Người Cha linh thiêng- Luôn để mắt nhìn con từng giây phút- Lo cho con từng bước giữa cuộc đời - Dẫu con hoang đàng- Vẫn đợi chờ trong yêu thương (16/6/2013)
Chúa nhật Ngày 7 Tháng 7 năm 2019 - Chúa Nhật 14 Quanh Năm - Năm C...Lẽ Sống Hôm Nay: Chiếc Cầu Của Gặp Gỡ - Đường Đời - Vào khoảng năm 1850, họa sĩ tài ba của Hoa Kỳ là James McNeil Whisler đang còn là một thanh niên đầy nhiệt huyết. Mặc dù có tâm hồn nghệ sĩ, Whisler cũng ghi tên vào trường đại học quân sự West Point. Người ta kể lại rằng khi giáo sư ra đề tài vẽ về một chiếc cầu, dĩ nhiên, các sinh viên phải hiểu đây là một chiếc cầu cần được thiết kế trong mục tiêu quân sự.
Từ thời xa xưa Giáo Hội Roma đã có truyền thống cử hành lễ trọng kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô trong cùng một ngày. Tiếp tục truyền thống đó, lúc 9:30 sáng thứ Bẩy 29 tháng Sáu, Đức Thánh Cha đã chủ sự thánh lễ bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô. Dịp này, ngài cũng làm phép dây Pallium cho các vị Tổng Giám Mục chính tòa được bổ nhiệm trong 12 tháng qua. Trong số 31 vị Tổng Giám Mục Chính Tòa được Đức Thánh Cha trao dây Pallium lần này, đặc biệt có Đức Cha Vũ Văn Thiên của tổng giáo phận Hà Nội. Ngài đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm
Chính Chúa Giêsu đã xác định Ngài là người-không-có-chỗ-tựa-đầu. Thật te tua, không ai có thể nghèo hơn Ngài, vì người ăn mày hoặc kẻ lang thang cũng có cục gạch làm gối đầu. Có những người mệnh danh là môn đệ của Chúa Giêsu mà chẳng thấy giống Thầy chi cả: Sống ung dung, sang trọng, giàu có, đầy đủ tiện nghi,… thậm chí còn “đòi hỏi” phải thế này hoặc thế nọ, bắt người khác phải phục vụ mình. Đòi hỏi tức là kỳ kèo vậy!
Bảo Trợ