Đào Luyện Kiến Thức

04 Tháng Tám 201812:57 SA(Xem: 44)

Đào luyện kiến thức cho khả năng thảo luận, phán đoán, ứng xử

trong phạm vi cá nhân và cộng đoàn.

Nhân đức Khôn ngoan trong giảng dạy của thánh Tôma Aquinô.

Khóa Thường huấn các nhà đào tạo ứng sinh linh mục, Đalat năm 2012

 kienthuc conggiao

Lập trường luân lý của thánh Tôma Aquinô được đặc biệt khuyến khích bởi huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt cho việc đào tạo trở thành linh mục. Những nguyên lý chính yếu của nền luân lý này cũng đã được hội nhập vào giáo huấn chung của đức tin, như từng thấy ngày nay trong sách Giáo Lý của Giáo hội Cong giáo. Mới đây người ta còn tái khám phá trong các môi trường đại học của giáo dân mối quan tâm về một nền luân lý các nhân đức làm cân bằng lại nền đạo đức vụ luật như kiểu luân lý của triết gia Kant[1].

Một trong những điều gốc gác cơ bản mà thánh Tôma lấy từ tư tưởng triết gia Aristote đem vào thần học luân lý là giáo thuyết về đức ‘khôn ngoan’, là nhân đức giúp con người biết điều khiển, mà trước hết là biết phân định vì đây là yếu tố thiết yếu để biết điều khiển. Thánh Tôma không thay thế nền đạo đức học trong tác phẩm Nicomaque bằng Bài Giảng Trên Núi. Đúng hơn Ngài dùng triết học mà học hỏi và truyền bá Lời Thiên Chúa. Lời Chúa chỉ được hiểu đúng trong Giáo hội trong sự chỉ bảo của các Giáo phụ. Nhờ sống trong tu viện và là giáo sư, thánh Tôma mải miết từ sớm tới chiều học hỏi Thánh Kinh, mà Ngài thuộc nằm lòng hầu hết. Chính Ngài đã chú giải toàn bộ các sách Tin Mừng. Chỉ cần tìm hiểu những dụ ngôn của Chúa Giêsu (Luc 16, 1-9: người quản gia bất trung; Mat 25, 1-13: những trinh nữ khôn ngoan và những trinh nữ khờ dại v.v...) là đủ nhận biết rằng ‘Tin Mừng không chỉ là những khích lệ sống quảng đại và yêu thương mà còn cho thấy không ai vào được Nước Trời nếu không chứng tỏ có những phẩm chất tinh thần nào đó’ (Th. Deman). Chúng ta sẽ tìm hiểu những mạch nguồn của thánh Tôma khi Ngài suy tư về sự biện phân luân lý, sau đó chúng ta sẽ định vị giáo huấn về nhân đức khôn ngoan trong toàn bộ nền luân lý của Ngài, và cuối cùng thử tìm hiểu những nguyên lý cốt yếu của giáo thuyết về đức khôn ngoan trong đời sống đức tin. Tôi hy vọng trình bày đôi điều muôn thuở thánh Tôma đem lại cho những thực hành cá nhân cũng như cộng đoàn của chúng ta, và nhất là mang lại cho những suy tư trong cuộc đào tạo các linh mục và giáo dân biết biện phân phục vụ cho sứ vụ tông đồ.

Các nguồn suối trong giáo huấn của thánh Tôma liên quan tới sự biện phân luân lý: sự khôn ngoan và sự thận trọng. Theo tác giả Jean Cassien và truyền thống tu viện.

Hai từ Latin khá khó dịch sang tiếng Pháp, chỉ khả năng biện phân tốt: prudentia và discretio.

Ý nghĩa thông thường nhất của từ ‘prudence’ là tính cách một người không liều lĩnh mù quáng. ‘Tránh tất cả những gì gây thiệt hại’. Hiểu như thế, ‘prudence’ có nguy cơ chỉ là cái thắng giữ mãi người ta trong thói quen và tầm thường. Voltaire viết đó là ‘một nhân đức ngu si’. Tuy nhiên các tự điển còn ghi một nghĩa lâu đời hơn, nghĩa mà người ta gặp thấy trong các bản văn của Corneille và Bossuet. ‘La prudence’ còn có nghĩa là ‘phẩm chất giúp nhận biết và thưc hiện điều gì thích hợp trong đời’ (Từ điển Hàn lâm, 1935). Người khôn ngoan là có lương tri, lành mạnh, tỉnh trí, kinh nghiệm. Đối lại là người khờ khạo, đần độn, ngớ ngẩn. Cicérô dạy rằng ‘prudentia’ bao hàm ‘providens’. Đó là phẩm chất của người nhìn xa trông rộng, phản ánh trong hồn người tầm nhìn thần linh. Cicérô hiểu từ này nhờ hiểu hy ngữ qua từ ‘phronesis’ từng được Aristote và các triết gia khắc kỷ bàn giải. Các triết gia này phát biểu nền đạo đức của họ từ bốn nhân đức ‘đệ nhất’ là công bình, khôn ngoan, dũng mạnh và tiết độ. Cicérô trình bày ‘prudentia’như là sự khéo léo và sắc bén trong cuộc truy tim cái thật, như vậy trước tiên là phẩm chất trí tuệ; đồng thời cũng như là cái biết điều gì cần tìm kiếm và điều gì phải tránh, như vậy là phẩm chất trí tuệ hướng về hành động, là phẩm tính của lý trí thực tiễn; và Cicérô dạy rằng người ta nói năng lạm dụng về khôn ngoan khi công bình thiếu vắng. Trong trường hợp nay, đúng ra phải nói đó là xảo trá, mưu mô (calliditas). Chính thánh Ambrôsiô, thế kỷ thứ bốn, đã nối kết bốn nhân đức ‘đệ nhất’ của các triết gia khắc kỷ với bốn mối phúc của thánh Luca và Ngài là người đầu tiên gọi là các nhân đức cột trụ (cardinales).

Y nghĩa của từ ‘discrétion’ cũng bị thu hẹp so với từ Latin ‘discretio’. Trước hết, discrétion ngày nay có nghĩa giữ gìn ý tứ trong các quan hệ xã hội, đặc biệt trong phẩm chất biết giữ gìn sự riêng tư của người khác. Từ Latin ‘discretio’ dịch ra từ tiếng hy lạp diakrisis. Từ này tổng quát có nghĩa hành động tách riêng ra. Với Aristote nó có nghĩa vật chất. Với các triết gia khắc kỷ, nó có nghĩa phân biệt đúng sai, tốt xấu. Khả năng đó thường được ca tụng trong Kinh Thánh. Salomon xin ơn khôn ngoan (...sapientiam trong bản dịch Vulgata) để phân định cái tốt cái xấu, để công bố những phán quyết đúng...discernere inter malum et bonum, trong bản dịch Vulgata V3, 9). Từ ‘discretio’ trong bản dịch Vulgata có nghĩa sự phân định các thần (1Cor. 12, 10: diakriseis, pneumaton), hay phân định ‘cái tốt cái xấu’ như trong thư Do thái 5, 14 (tiếng hy lạp diakrisin).

Những bài diễn giảng (collationes) của Jean Cassien (~360-435) khai triển giáo huấn thiêng liêng phong phú về từ ‘discretio’, là một trong những nhân đức quan trọng nhất của đời sống tu viện. Những tác giả hạnh các thánh cho ta biết tác phẩm của Jean Cassien là sách gối đầu giường của thánh Đaminh cũng như sau Ngài là thánh Tôma. Muc đích của việc tuyên khấn sống đời đan tu, theo cha Moise giải thích về bài diễn giảng đầu tiên, đó là Nước Trời. Nhưng mục tiêu nhắm tới là ‘sự thanh khiết tâm hồn, không có thanh khiết chẳng ai đạt được mục tiêu ấy’. Để đạt sự thanh khiết ấy, cần biết soi xét tư tưởng của mình tựa như người đổi tiền rà soát các tờ giấy bạc, để phân biệt tư tưởng nào đến từ mình, từ ma quỷ, hay từ Thiên Chúa. Sau đây là bốn động tác của người đổi tiền:

1). Trước tiên, chớ lan man trên chính vấn đề: chẳng hạn vàng là thật hay là giả?

2). Thứ đến loại bỏ đi như loại bỏ bạc giả những tư tưởng dối trá bên ngoài sự đạo đức: chúng mang hình vua, nhưng là hình giả; nó không phải là hình đúc chính hiệu.

3). Tiếp đến phân biệt và loại bỏ đi các tư tưởng in trên chất vàng rất quý trọng là Kinh Thánh mà nghĩa lại lầm lạc và xảo trá: đó chẳng phải là hình hiệu của hoàng đế hợp pháp mà là của kẻ tiếm quyền.

4). Cuối cùng chúng ta cũng phải từ chối như chối bỏ các đồng tiền giả tác hại và không mang lại sự thăng bằng, là các tư tưởng do chất ten sét của hào nhoáng, đánh mất trọng lượng và giá trị của chúng và như thế bất cập so với chuẩn mực của tiền nhân.[2]

Điều nhắm tới là xác nhận xem tư tưởng

1). Có tương hợp với Kinh Thánh không

2). Có được đọc trong tâm thế thích hợp không

3). Có được hiểu chính xác không

4). Có được thực hiện một cách khiêm tốn không.

Sự thận trong ý tứ là ‘người mẹ, người bảo vệ và người chỉ đạo của mọi nhân đức’[3] Làm sao luyện được đức thận trọng đúng nghĩa? Trong khi thưc hành việc mở tâm lòng trong khiêm tốn, trong tin cậy và ngoan ngùy trước tiền nhân và truyền thống, sự mê muội sẽ được soi sáng, các đam mê được chế ngự, quỉ ma sẽ phải chạy biến.

“Sự thận trong đúng nghĩa chỉ đạt được với giá phải trả là sự khiêm tốn đúng nghĩa. Bằng chứng đầu tiên của khiêm tốn là dành cho tiền nhân quyền phán định về mọi hành vi và cả những tư tưởng của mình, tới mức người ta không còn cậy vào cảm quan riêng nữa nhưng trong mọi sự người ta đồng ý với mọi quyết định của các tiền nhân, và đến độ người ta chỉ còn muốn biết từ miệng các ngài điều nào tốt, điều nào xấu.

Kỷ cương này không những dạy cho các đan sĩ trẻ thẳng tiến nhờ con đường thận trọng đích thực, mà còn đem lại sự miễn nhiễm thực sự khỏi mọi sự lươn lẹo và bẩy cạm của kẻ thù. Chẳng thể rơi vào ảo tưởng khi người ta chẳng dựa vào cảm quan riêng, mà dựa vào gương lành các tiền nhân và luật sống của các ngài và mọi dụ dỗ của quỉ ma không thể thắng được cái vô tri của một người không hề vì nỗi xấu hổ gian dối nào mà che dấu dù một tư tưởng nảy sinh trong tâm hồn, nhưng phó mình trong sự nhận định chín chắn của tiền nhân, để biết cần đón nhận hay phải loại bỏ.

Một tư tưởng xấu nảy sinh sẽ mất ngay sự độc hại. Trước khi đức thận trong ngăn chặn, phải nói là con rắn ghê tởm phải tháo lui vì nếp sống này đã lôi nó ra khỏi hang sâu tối tăm mà đem ra ánh sáng và phô bày sự xấu hổ của nó, vì những khơi gợi lươn lẹo của nó chỉ ảnh hưởng trên ta bao lâu chúng được giấu nhẹm trong sâu thẳm cõi lòng”[4]

Thánh Tôma đã trầm ngâm những bài diễn giảng của Cassien, nhựng ngài được đào tạo trước tiên theo tinh thần Bênêdictô. Trong luật sống, thánh Biển Đức đã nói tới ‘discretio’ ở chương 64, bàn về việc đặt lên vị tu viện trưởng. Vị này cần áp dụng luật lệ sao cho cân đối, với lòng nhân hơn là khắt khe. Cũng đức ‘discretio’ từng được thánh Bênađô đích thân đề cập hay trong môi trường triều đại Victoria, đặc biệt nơi Richard de Saint-Victor.

Truyền thống tu viện liên quan đến đức ‘discretio’ truyền sang lời rao giảng bình dân của các tu sĩ khất thưc, Đaminh và Phanxicô, và do đó Catherine Benincasa (1347-1380) tiếp thu vào trường phái Đaminh Sienna. Bà trình bày bằng những hình ảnh trong tác phẩm ‘Đối Thoại’. Bà khích lệ các đệ tử qua thư tín. Hiệu quả chính đức ‘discrezio’ mang lại là đem tất cả đời sống thiêng liêng vào mục đích tối hậu là tình yêu Thiên Chúa và thích nghi thực hành tùy tình trạng của mình chiếu theo mục đích duy nhất là tình yêu.

“Ánh sáng của sự phân định cung cấp luật lệ cho mọi sự. Và để lề luật nguy hại mà xác thịt tấn công tinh thần gây xáo trộn cả đến những cơ năng phần xác khỏi xẩy ra thì ánh sáng của sự phân định áp dụng lề luật cả cho thân xác. Nó hành xác bằng canh thức, chay tịnh, và nhiều việc khác nhằm kềm giữ thân xác. Nhưng xin hiểu cho rõ là nó không thực hành những việc trên mà không phân định, nhưng đặt dưới ành sáng dịu dàng của sự phân định. Cái gì chứng tỏ điều ấy? Chính là nó không đặt tình cảm chính yếu vào bất cứ hành động khổ chế nào. Và để nó khỏi rơi vào khuyết điểm lấy khổ chế làm mối bận tâm chính, ánh sáng phân định mặc vào tâm hồn yêu mến nhân đức, và cho phép tâm hồn sử dụng khổ chế như phương tiện, vào lúc và nơi mong muốn, tùy nhu cầu. Nếu thân xác trở nên quá mạnh tỏ ra cứng đầu trước tinh thần, ánh sáng phân định dùng cái roi kỷ cương, chay tịnh, thắt lưng thô gắn đầy đá nhám, canh thức lâu giờ và đặt trên nó những gánh nặng cho tới lúc nó tỏ ra mền mại. Nhưng nếu thể xác yếu đuối và đau bệnh, luật phân định sẽ chống lại cách áp dụng trên dây. Không những hủy bỏ chay tịnh mà lại ăn thịt, và nếu ăn một lần mỗi ngày không đủ, người ta ăn bốn lần. Nếu người ta không thể đứng dậy được thì nằm. Nếu không thể quỳ người ta ngồi hoặc nằm nếu cần. Đó là điều sự phân định nhắm tới. Nó đòi hỏi người ta coi nó như phương tiện chứ không là đối tượng chính.”[5]

Thánh Tôma sẽ hội nhập truyền thống tu viện liên quan tới đức discretio trong giảng dạy được cấu trúc bằng lý thuyết Aristote về phronesis/prudentia, chuyển hóa sang đời sống đức tin. Trong tác phẩm Sentences de Pierre Lombard, giáo trình cơ bản giảng dạy thần học tại Đại học từ thế kỷ mười ba đến mười sáu, prudentia, từ đươc kể hàng đầu trong các nhân đức cột trụ, nhưng Guillaume d’Auxerre khoảng năm 1220 là người đầu tiên bàn giải bốn nhân đức cột trụ nhưng chưa sâu xa. Cũng vậy nơi thánh Albertô và Bonaventura. Đạo đức học trong tác phân Nicomaque của Aristote dành tầm quan trọng đặc biệt cho phronesis. Nó được dịch từ tiếng Hy lạp sang Latin khoảng năm 1240. Albertô đã chú giải cho Tôma lúc ấy còn trẻ trung tại Cologne, giữa những năm 1248-1252. Tôma là người đầu tiên vận dụng giảng huấn của Aristote liên quan tới prudence làm thành cái khung triết lý cho thần học vè sự phân định vói tầm sâu rộng khôn tả mà các giáo sư Đại học thời Trung cổ đã sử dụng giảng dạy.

Những nguyên lý của nền luân lý của thánh Tôma

Trước hết ta nhắc lại những đường nét chính trong nền luân lý của thánh Tôma. Những đường nét chính này cấu tạo giáo huấn chung của Giáo hội Công giáo, chẳng hạn như được diễn tả trong phần luân lý của Giáo lỳ Hội thánh Công giáo (phần ba: Đời sống trong Chúa Kitô)

Tôma cho chúng ta ý niệm tổng quát của luân lý khác với một số quan niệm hiện đại. Nền luân lý có mục đích là niềm hạnh phúc của con người (trước khi là nền luân lý của mệnh lệnh, đó là nền luân lý của nội tâm hóa các lề luật. Đó là nền luân lý của con đường phát triển nhân vị, mà điểm xuất phát là nỗi khát khao phổ quát hạnh phúc, và mục tiêu là cuộc thông hiệp vào chính đời sống của Thiên Chúa, bắt nguồn từ lòng tin và lòng mến (đời sống quy thần) và lời hứa được nhận biết trực tiếp thực tại trong chính Người (sự ‘hưởng kiến yếu tính của Người’). Chìa khóa chính của nền luân lý Tôma là sự thông hiệp cá nhân và xã hội, bắt nguồn từ ân sủng của Chúa Kitô, và trổ sinh sung mãn trong vinh quang, vào niềm thông hiệp vĩnh phúc của Chúa Cha, Con và Thánh Thần.

“Ôi Giêsu, ngày nay con chỉ thấy Chúa như qua tấm màn. Con nguyện xin thực tại con tha thiết khát khao xẩy đến. Nguyện xin cho con được khám phá Chúa thêm, và nguyện cho niềm hạnh phúc của con là được hưởng kiến vinh quang Chúa » (Adoro te)

Trong cõi trường sinh, trước tiên là sự thông hiệp của con người với Thiên Chúa. Vì chính Thiên Chúa là phần thưởng và là cùng đích của mọi việc ta làm: Ta, Ta là khiên che và phần thưởng lớn lao cho con. Và sự thông hiệp này hệ tại được hưởng kiến trọn vẹn: Chúng ta bây giờ thấy hình ảnh mờ trong gương, ngày ấy ta sẽ thấy diện đối diện (...)

Cõi trường sinh còn hệ tại trong cộng đoàn hân hoan của tất cả những người hạnh phúc, và xã hội này sẽ vô cùng thú vị vì mỗi người chiếm hữu mọi của tốt lành mà mọi người hạnh phúc đều sở hữu. Vì người này yêu thương người kia như chính mình và cùng vui mừng về những điều tốt lành của người khác như là của riêng mình (Bài giảng kinh Tin Kính, x. Phụng vụ các Giờ Kinh, bài đọc thứ bảy tuần XXXIII thường niên)”[6]

Nền luân lý của Tôma quả là nền luân lý của sự lớn lên thiêng liêng, nền luân lý của các nhân đức (thái độ sẵn sàng nội tâm định phẩm cho hành vi tự do của con người trong khi không ngừng thăng tiến nó), kín múc trong Lời Thiên Chúa, và dựa vào quan niệm siêu hình về con người (nhân học siêu hình này tim kiếm những nguyên lý của sự biến dịch và của đời sống con người trong xác định bản tính người (physis), được tháp nhập thế giới và uyên nguyên quy chiếu về nguyên lý đệ nhất, nguyên nhân bất động của sự biện đổi, là Thiên Chúa, Đấng Sống, là viên mãn siêu việt của mọi hữu thể. Bản tính người ở đây được quan niệm như sự hiệp nhất bản thể của tinh thần (trí năng và ý chí) với vật chất, của hồn và xác.

“Sự hiệp nhất của hồn xác sâu xa đến nỗi người ta phải nhìn nhận hồn như là ‘mô thể của xác’ nghĩa là chính nhờ hồn thiêng mà thân xác vốn là vật chất là thân xác người và sống; tinh thần và vật chất trong người, không phải là hai bản tính kết hợp lại, nhưng sự kết hợp của chúng làm thành một bản tính duy nhất.” (GLHTCG 365)

Trong đời sống luân lý, sự kết hợp hồn xác biểu lộ qua cảm tính, trong cách lý trí và tự do chi phối cảm tính, và cảm tính nâng đỡ đời sống thiêng liêng. Những hoạt động của cảm tính (hành động thú vị giác quan) được thánh Tôma gọi là đam mê.

“Từ ngữ đam mê thuộc về gia sản Kitô. Những tình cảm hay những đam mê chỉ nghĩa là những cảm xúc hay những hoạt động của cảm tính thúc đẩy hành động hay không hành động tương quan với cái được cảm nhận hay tưởng tượng như là tốt hay là xấu. Những đam mê là những thành tố tự nhiên của của hệ tinh thần con người, chúng tạo nên sự tiếp nối và củng cố mối liên hệ giữa đời sống cảm giác và đời sống tinh thần. Chúa chúng ta xác nhận lòng người như là nguồn trào ra những hoạt động của các đam mê” (GLHTCG 1763-1764)

Trong nền luân lý của Tôma, sự phân tách nhân đức phân định luân lý, nhân đức khôn ngoan, là bản lề giữa đời sống thuần túy thần linh, đời sống đức tin, cậy, mến, đời sống thân tình với Chúa trong Chúa Kitô, và đời sống thuần túy luân lý, mối liên hệ mà chúng ta bảo dưỡng giữa chúng ta, với xã hội, với tha nhân, cần phải phát triển trong đức công bình và trong cảm nhận được củng cố bằng nhân đức dũng mạnh và được thanh luyện bằng nhân đức tiết độ. Lòng mến làm cho con người khôn ngoan. Nó giúp hiểu biết và tổ chức trọn cả hiện hữu từ kinh nghiệm thân mật với Đấng Tạo Thành và Cứu Độ trong Thánh Thần (Ia, IIac, 45: ‘ân huệ’ khôn ngoan). Ánh sáng khôn ngoan này phải trải rộng trên cái cụ thể của hiện hữu con người, và trước hết trong sử dụng tự do, sự chọn lựa những phương tiện cụ thể tiến tới trên con đường thông hiệp hạnh phúc. Cha Chenu qua vài dòng chữ đã có thể định vị sự khôn ngoan trong bối cảnh tổng thể của tổng luận thần học: sự chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa như nguồn suối ánh sáng trong đức hạnh của con người; con người là hình ảnh Thiên Chúa khi sử dụng tự do; ‘một giao ước gây ngạc nhiên’[7] của Thiên Chúa quan phòng và của lý trí khôn ngoan của con người.

Khôn ngoan quả là nguồn cội nhờ đó lý trí của tôi sẽ phân bố từ ánh sáng thần linh này hệ thống biến dịch vô biên của các hành động của tôi, và hội nhập vào từng ứng xử mong manh nhất của tôi những phẩm tính vĩnh cửu của Thiên Chúa, Chân lý, Công bình, Toàn phúc. Chúa đã quyết định như thế cách khách quan, tích lũy ánh sáng của mọi nhân đức mà khoa luân lý sẽ làm sáng tỏ. Con người không bị phó mặc cho chủ thuyết duy nghiệm, và sự đa dạng lương tâm nơi mỗi người và trong lịch sử chỉ là sự nhập thể hằng ngày của sự điều khiển của Thiên Chúa trải rộng trên từng sự việc bất tất. Đức khôn ngoan đến hỗ trợ cho khôn ngoan minh triết, là nhân đức tối thượng của tinh thần trong sự nhận biết nguyên lý tối cao. Hành động của nó chỉ được bảo đảm trọn vẹn trong sự chiêm ngắm đó. Lý trí đầy khôn ngoan không những làm cho tôi nên người, mà còn dần dần kiện toàn, làm cho tôi đúng nghĩa là có lý trí, hình ảnh của Chúa” (M. D. Chenu, thánh Thomas Aquinô và thần học. p. 146)

Định nghĩa và phân tách nhân đức khôn ngoan

“Nhân đức khôn ngoan là nhân đức chi phối lý trí thực hành nhằm phân định trong mọi trường hợp sự thiện đích thực và nhằm chọn lựa những phương tiện đúng mà đạt tới” (GLHTCG 1806)

Thánh Tôma tự hỏi về thực tại hữu thể học của các nhân đức: chúng là những tập quán, thái độ sẵn lòng ổn định của tinh thần con người-mô thể của thân xác, của hồn chi phối trên bình diện năng lực hoạt động, và như thế giúp con người hoạt động phù hợp với bản tính của mình và ân sủng. Một nhân đức đặc biệt được định nghĩa từ việc xét đến thực tại mà hành động của chúng ta nhắm tới: đối tượng của nhân đức.

Đức khôn ngoan ảnh hưởng tới sức mạnh hoạt động nào trong tâm hồn? Tôma trả lời: trí năng[8], quan năng nhân thức. Vậy đức khôn ngoan là nhân đức của trí năng hướng tới hoạt động, của trí năng ‘thực hành’ (trí năng tự hỏi về điều người ta phải làm), nhưng nó cũng giả thiết ý chí phải được định hướng đúng, nghĩa là gắn bó cách bền vững vào Thiên Chúa.

1). Đức khôn ngoan trú ngụ trong trí năng: nó giúp trí năng phân định

2). Và như vậy giúp trí năng trong hành vi cân nhắc trên mối tương quan giữa một thực tại cụ thể và khát vọng có giá trị phổ quát. Làm sao ứng xử trong từng hoàn cảnh mà thực thi sự lành, bảo đảm trong sự thật sự lành cho con người và chu toàn ý Thiên Chúa? Đó là đề cập sự phán đoán về điều phải làm trong từng hoàn cảnh, biết chọn phương tiện thích hợp cho mục đích nhắm tới.

3). Cuối cùng đó là đề cập việc chỉ thị điều phải làm để đem ra thực hiện cách tốt nhất phương tiện mà người ta đã phân định và chọn lựa trong trường hợp cụ thể đó. Đức khôn ngoan thì thực tiễn hơn cái biết đơn thuần, ngay cả cái biết thực hành. Không những là biết đâu là những nguyên lý của hành động tốt, mà còn dấn thân cách hiệu quả vào việc. ‘Người khôn ngoan không chỉ cân nhắc trong phòng, mà còn đang hoạt động hướng về một mục đích’. (A. Raulin, p. 697). Người khôn ngoan dấn thân vào hành động.

4). Như vậy người ta thấy đối tượng của đức khôn ngoan là phương cách cụ thể đạt tới sự lành, và hành động đúng nghĩa của nó có ba yếu tố: cân nhắc, lựa chọn, chỉ dẫn suốt quá trình hành động. Nó là đức thích nghi vào những tình huống luôn luôn biến dịch. Được ăn rễ chắc chắn trong tâm hồn như tất cả các nhân đức, đức khôn ngoan biến người đã luyện được nó nên mềm mại uyển chuyển. Những quyết địnhcủa nó không phải là áp dụng máy móc theo dữ kiện nào đó. ‘Nó là sự sẵn lòng bền vững cho sự thích nghi hết sức mềm mại.’ Đức khôn ngoan tìm thế quân bình tốt nhất giữa nhiều khuynh hướng chủ quan khác nhau (medium rationis) và những đòi hỏi khách quan khác nhau (medium rei), nhằm duy trì con người tiến bước trên bước đường chông chênh của công lý và tình yêu. Theo nghĩa này, nó là nhân đức của ‘trung dung’, hoàn toàn không phải là sự tầm thường mà là sự tuyệt hảo. ‘Mức đo cụ thể của hành động sẽ luôn luôn là mức đo sống động của đức khôn ngoan.’ (Mennessier, p. 244). ‘Ngừoi khôn ngoan trông chừng bước chân mình’ (Cn. 14, 15, trích bởi GLHTCG 1806)

Một thầy dòng Đaminh người Đức vừa được chịu chức linh mục gởi cho tôi hình ảnh ngày lễ. Có hình ảnh một người đi trên giây treo trên những tòa nhà chọc trời. Anh ta cầm một cái ô bảo vệ anh khi có sự cố thất thường nhưng cũng giúp anh giữ thăng bằng. Sau anh có một chú mèo con đoán được là bạn anh cẩn thận đặt chân trên từng bước chân anh. Lời thánh vịnh 37: Cậy trông vào Chúa và hành động cẩn trọng’ (câu 3). Đó là tấm hình rất đẹp về đức khôn ngoan.

Một hình ảnh truyền thống hơn nơi các thủ bản thời trung cổ: đức khôn ngoan được diễn tả bằng cầm trong tay phải chiếc com-pa (biết thực tại cách khách quan và medium rei), và cầm trong tay trái tấm gương soi (biết mình và nhắm tới trạng thái tâm lý quân bình trong hành động, medium rationis).

Đức khôn ngoan không phải là hiểu biết đơn thuần, cũng chẳng phải một loại khéo léo thực tiễn nào đó (Tôma nói là một ‘nghệ thuật’ nào đó). Đức khôn ngoan giả thiết sự định hướng đúng các ước muốn của chúng ta, của ý chí thiêng liêng và cảm tính của chúng ta. Nó tiếp nhận cái cao hơn nó là sự tự do hoạt động của chúng ta. Từ ánh sáng những nguyên lý luân lý đệ nhất chiếu soi cách tự nhiên trong trí năng của tôi (ánh sáng nội thể của sự sóng đôi: điều lành phải làm, điều dữ phải tránh...), và cũng từ những nhân đức luân lý (công bình, dũng mạnh, tiết độ...) và những nhân đức quy thần (mến yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự), ‘đức khôn ngoan đúc năn ra dần dần ý hướng đức độ của tôi’ (A. Raulin, 698). Đức khôn ngoan còn kêu gọi các nhân đức luân lý để thực hiện chương trình của mình (trường hợp đặc biệt của sự nối kết các nhân đức: nó kêu gọi đức dũng mạnh, đức tiết độ...). Mục tiêu của đức khôn ngoan không bị giới hạn vào việc làm xong một việc cụ thể nào đó, như việc kỹ thuật, mà chân trời của nó luân luân là chân trời hoàn thành toàn diện nhân cách. Một chuyên gia có thể chọn thực hiện thiếu trách nhiệm công việc của mình mà không ngừng là chuyên gia. Đức khôn ngoan không thể không hoạt động, ‘nó không nghỉ hè’.

Chúng ta đào sâu điều vừa nóivề bản chất của khôn ngoan: mối tương quan giữa ân sủng thần linh và tự do con người; những hành vi chính yếu: cân nhắc, phán đoán, dấn thân hành động.

Ân sủng thần linh và tự do con người trong hoạt động của đức khôn ngoan

‘Hãy cậy trông Chúa...’: ân huệ của Thánh Thần và ân sủng qua lòng mến mang tới cho chúng ta hoa quả khôn ngoan bằng dẫn dắt ý chí và hành động của chúng ta về hạnh phúc chân thật của con người: đó là thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa. Đức khôn ngoan Kitô đây được gọi là ‘phú ban’, nghĩa là tuôn đổ trong ta bởi Chúa Thánh Thần.

‘...và hành động tử tế’. Định hướng căn bản này đức khôn ngoan ban cho xét như nó được tuôn đổ trong tinh thần ta bởi Thánh Thần nhập thể vào từng ‘sợi chỉ’ đời sống con người, với sự cân nhắc, phán đoán, dấn thân hành động mà ta phải kiện toàn trong những tình huống rất khác biệt. Thế đó là hoạt động của tự do của chúng ta. Dưới mắt Tôma, hoạt động này không nằm trong lãnh vực độc lập tranh cạnh tới mức loại trừ Thiên Chúa. Ngược lại, Thiên Chúa thể hiện quyền toàn năng và chủ tể bằng cách thức phù hợp và cao quý nhất của Người...khơi dậy tự do của chúng ta, soi sáng, nâng đỡ, hội nhập với tự do của những người khác đang cùng hướng tới sự thiện.

“Mục đích của việc Thiên Chúa điều khiển là dẫn đưa các thực tại biết quy phục Ngài tới sự hoàn hảo. Sự hoàn hảo càng lớn, sự dẫn dắt càng ngoạn mục sẽ được thông ban. Hoặc một thực tại đã hiện hữu, thì sẽ được mức hiện hữu hoàn hảo hơn, không những tốt tự tại mà còn là nguyên nhân tốt cho các thực tại khác. Đó là phương cách Chúa điều khiển thế giới! Ngái tạo nên một số thực tai có khả năng tự điều khiển và nhờ đó trở nên nguyên nhân của những thực tại khác. Tựa như thầy giáo không những truyền kiến thức cho trò mà còn làm cho họ thành những giáo viên cho những người khác” (Tổng luận Thần học Ia. 103, 6)

Một người bạn Viêt Nam tặng tôi món quà từ Thượng hải: một xấp những ảnh nhỏ dùng để ngăn trang sách trên đó vẽ những hình ảnh về Tin Mừng. Tại Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, dân chúng yêu mến thánh Giuse. Một trong những thẻ ngăn sách diễn tả hình ảnh truyền thống thánh Giuse dẫn Chúa Giêsu thơ ấu bước đi. Một tay nắm vai Chúa, tay kia nhẹ đưa tới sau lưng Chúa. Khung cảnh rất quen thuộc này minh họa đẹp đẽ về sự điều khiển của Thiên Chúa và về việc Chúa ủy thác cho ta dẫn dắt người khác. Đôi khi thái độ này cũng được hiểu nơi Mẹ Maria, đôi khi nơi thánh Giuse. Mater boni consilii, ora pro nobis...Joseph prudentissime, ora pro nobis.

Đức khôn ngoan ‘infuse’ (phú ban) cần được phát huy nhờ hoạt động tự do của chúng ta trải qua những bước đường giữa những sự việc bất tất. Khi đó nó trở thành đức không ngoan ‘acquise’ (đắc thủ). Tất cả mọi phẩm chất của con người, phẩm chất tự nhiên gặp nơi đây giá trị của chúng.

“Những nhân đức của con người thủ đắc nhờ giáo dục, nhờ động tác cân nhắc và nhờ kiên trì cố gắng liên tục nỗ lực, sẽ được thanh luyện và ân sủng Thiên Chúa nâng cao. Với ơn Chúa trợ giúp, chúng đào luyện tâm tánh và giúp dễ dàng làm lành. Người nhân đức vui sướng thực hành nhân đức.”(GLHTCG 1810)

Ở đây đặt ra vấn đề quan trọng, đặc biệt cho những ai sống trong xã hội tục hóa hay thuộc nền văn hóa ngoài Kitô. Đâu là già trị của đức khôn ngoan luyện được ngoài đức tin? Có không đức khôn ngoan tuy không được Tin Mừng soi chiếu nhưng hệ tại thái độ tâm hồn thiện chí cá nhân, những khuynh hướng ngay chính, những nguyên lý chuẩn xác, nền giáo dục lành mạnh, kinh nghiệm và những tập quán tốt? Cha Raulin đã viết năm 1952: ‘Có đức khôn ngoan đúng nghĩa không? Có, ít nhất theo nghĩa nào đó, nếu đó thực sự mang phẩm chất hơn cả khéo léo, ăn rễ từ một lý tưởng luân lý, dù không hoàn hảo nhưng ít nhất là chân chính, và thực hiện lý tưởng ấy trong thực tại cụ thể của đời sống.’ Nhung ngài thêm: ‘Nhưng không, theo nghĩa khác, nếu vì nó bất toàn và bất toàn trầm trong: nó chẳng làm nên chuyện gì ngoài cái phải cái đúng thuộc bình diện luân lý nên không có hiệu quả công nghiệp, không với tới hạnh phúc đời đời. Rốt cuộc định mệnh của nó là chưng hửng.’ (p. 701). Cần giải thích khẳng định này dưới ánh sáng giáo huấn sau này của Công đồng liên quan đến Giáo hội trong thế giới, đặc biệt giáo huấn trong Gaudium et Spes. Xác nhận sự thông dự của Kitô hữu vào mầu nhiệm Vượt qua, hiến chế của Công đồng viết thêm những dòng chữ nặng ký đối với việc truyền giáo:

“Điều nói trên không phải chỉ có giá trị cho các tín hữu nhưng cho tất cả những ai có thiện chí được ơn thánh hoạt động một cách vô hình trong tâm hồn. Thực vậy, vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, ch nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dựnvào mầu nhiệm Phục Sinh ấy, cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi” (GS 22)

Thật hữu ích khi đọcnnhững bản văn thần học và thiêng liêng chuẩn bị cho giáo huấn của Công đồng về vấn đề này. Một số những nguyên lý ngày nay đối với chúng ta là hiển nhiên lại không như thế thời gian ấy, chẳng hạn khả thể một người không biết đức tin Kitô được cứu độ hay không trong khi người ấy sống ngay lành. Nhưng có lẽ vì ta chưa tim hiểu các chân lý mà các thế hệ tiền bối đã đạt được với công khó cẩn thận trước khi tuyền lại cho ta, nên ta không tiếp thu hết những hệ quả cho đời Kitô hữu và cho sứ vụ của Giáo hội.

Năm 1959, Cha Y. Congar công bố một bản văn về ơn cứu độ cho những người không-được-rửa-tội. Cha đã phát biểu dựa vào nền tảng truyền thống[9] những điều kiện tổng quát của ơn cứu độ trong trường hợp không biết đến Tin Mừng: làm sao một hiện hữu làm người không có đức tin minh nhiên, có thể sống, trong ‘vô minh về Thiên Chúa’ (’incognito de Dieu’), hướng tới tình yêu đích thực, kiên trì thưc hành hằng ngày đức khôn ngoan chân thực? [...] Cha Congar viết khi người ta ra khỏi chính mình, khi người ta hiến thân cho sự lành vượt trên mình, khi người ta thưc sự có tình yêu, thì có khả thể cuộc gặp gỡ dưới những dạng của Đấng Tuyệt Đối, Thiên Chúa ân tàng, Đấng muốn kéo ta về Người và cứu độ ta, vì phía Thiên Chúa, Người hành động. Tình yêu mở ra cõi vô tận, nếu thực sự xứng danh Người, nghĩa là nếu không phải chỉ là biểu lộ tình cảm mà tặng ban chính mình. Nói tới sự Thiện tuyệt đối và siêu việt, ta rơi vào cảm tưởng thiếu thốn. Chúng ta tin rằng trong tình yêu loại này ân sủng Thiên Chúa sẽ chạm đến [...] Khi Đức Piô XII nói phù hợp với thần học truyền thống rằng’một hành vi tình yêu có thể đủ cho một người trưởng thành đón nhận ân sủng thánh hóa và thay cho sự thiếu bí tích Thánh Tẩy’, ngài nghĩ tới hành vi tình yêu Thiên Chúa, nhưng chắc chắn nhìn nhận rằng Thiên Chúa có thể được nhắm tới qua những biểu lộ khá mong manh, dù dưới danh xưng khác Thiên Chúa. Thế đó là trường hợp của nhiều người, nhiều dân tộc! Họ lớn lên trong những tôn giáo khác: có khi độc thần, Islam, hoặc hoàn toàn là dân ngoại.

Một giảng huấn của thánh Tôma và một phần trích từ Dostoievski được cha Congar nhắc tới cho thấy ý tưởng chọn lựa đã đặt trọn cả hiện sinh dưới dấu hiệu tình yêu và nối kết vào mầu nhiệm vượt qua, ngay cả không có đức tin minh nhiên.

Trong thuật ngữ thần học, chúng ta quy chiếu không chỉ giáo thuyết về initium fidei (bước khởi sự, trước khi đón nhận đức tin), nhưng còn quy chiếu về tư tưởng Tôma rằng nếu con người có thể làm được hành vi tốt (tự nhiên) nào đó không cần tới ơn Thiên Chúa, chẳng hạn một hành vi tuyên xưng lòng tin, thì không thể không có ơn Thiên Chúa mà làm được một hành vi luân lý tốt mang vào cả ý hướng thâm sâu của mình, và như vậy tự đặt mình vào lãnh vực được công chính hóa hạy bị luân phạt. Trên bình diện luận giải văn chương, ta có thể trích một lần nữa Dostoievsky: ‘Đến ngày chung thẩm, Thiên Chúa hỏi: ‘Đâu rồi đứa con gái mà nó tự hy sinh mình cho mụ mẹ kế dữ dằn khó tánh và cho lũ con cái người khác? Đâu rồi đứa con gái nó thương tên say rượu xấu xa là ba của nó trên đời, thương tới nỗi không lui bước dù nó ghê tởm? Và Chúa sẽ nói: ‘Hãy đến đây! Ta đã từng tha thứ cho con một lần...Ta đã tha thứ cho con một lần...Lần này cả vô vàn tội lội của con cũng được tha thứ, vì con đã yêu mến nhiều’. Và Chúa sẽ tha thứ cho Sonia của tôi. Chúa sẽ tha thứ, tôi biết Chúa sẽ tha thứ cho nó...”(Marméladov, trong Tội ác và Hình phạt, chương 1)

Chúng ta sẽ có dịp khi hội thảo nhóm đọc chân dung một người không-được-chịu-bí-tích-Thánh-Tẩy sống lòng mến và đức khôn ngoan: tín hữu Công giáo John Wu trình bày cho chúng ta ngưới cha của ông.

Những hành vi khác nhau của đức khôn ngoan: cân nhắc, phán đoán, chỉ thị hành động và những phẩm chất phải có của mỗi hành vi

Đức khôn ngoan can thiệp khi ý chí, đươc điều chỉnh và nâng cao bỏi đức mến, sẽ hướng tới sự thiện một cách hiệu quả. Còn lại là tìm ra những phương tiện tốt và cách nào thực hiện tốt nhất. Những giải pháp đa dạng sẽ được rà soát, chúng sẽ đối diện trước những luật luân lý tổng quát và trong trường hợp cụ thể chủ thể đang gặp. Đó là lúc cân nhắc (consilium). Khi đó cần lựa chọn giữa các phương tiện được đánh giá và chấp nhận (consensus) là tốt, một phương tiện tỏ ra cách cụ thể tốt nhất để thực hiện trong lúc này. Đó là lúc phán đoán dẫn tới hành vi ý chí là sự chọn lựa (electio). Việc này rốt cuộc được thực hiện cách thông minh. Người ta đi từ ‘sự duy nhất của chọn lựa sang sự đa dạng mới, những chi tiết thực hiện’ (Raulin). Lý trí được đào tạo bởi đức khôn ngoan chỉ thị hành động thế nào cách cụ thể (imperium). Kinh nghiệm cho thấy những người giàu khả năng nắm bắt những khả thể không nhất thiết phải dừng lại ở một chọn lựa. Và người biết phán đoán cái tốt hơn thì không nhất thiết chọn lựa, hay ít ra biết làm cách tốt nhất. Ở ba bước của hành vi nhân linh: cân nhắc, phán đoán, chỉ thị hành động cụ thể, liên quan tới những thái độ đặc biệt phải luyện tập. ‘Cần luyện cân nhắc và cho những giải đáp đúng, luyện phán đoán cụ thể và thực tiễn, cuối cùng luyện tập chỉ huy và trước hết chỉ huy chính bản thân.’ (Raulin). Theo ngôn từ của Aristote, đi theo sự cân nhắc là đức lý giải đúng, gọi là eubulia. Đức phán đoán tốt trong những sự thường ngày là synesis. Nhưng xẩy ra là những luật thường thức hành động không thể được áp dụng trong những tình huống đặc biệt. Khi đó cần loại phán đoán khác Aristote gọi là gnomè. Chẳng hạn trong nhà binh, quy luật bình thường là tuân lệnh cấp trên. Nhưng ‘đức khôn ngoan đôi khi đòi hỏi viên đại tá hành động trái lệnh rõ ràng của viên tướng. Nhiều sỹ quan quen phán đoán cứng nhắc không thể có những bất tuân nhân đức như vậy được’ (Raulin). Hành vi mà tất cả trạng thái sẵn sàng khôn ngoan nhắm tới là chỉ thị hành động, imperium, thái độ thích hợp choimperium mệnh danh là đức khôn ngoan

Hành vi hiểu biết nhân đức    Cân nhắc tốt               Phán đoán tốt              Chỉ thị hành động tốt

Thái độ sẵn sàng lý trí             Eubulia                        Synesis: thườngngày    Đức khôn ngoan

(phần khả thể của đức             năng lực lý giải tốt       Gnomè: trường hợp

khôn ngoan)                                                                           đặc biệt

Hành vi ý chí nhân đức           Chấp thuận lý giải       Chọn cái đã được        Tuân hành điều đã

(quan tâm tới đức mến)                                               phán đoán chín chắn     chỉ thị tốt

Những phẩm tính phải có trong mọi hành vi của đức khôn ngoan (toàn bộ các phần của đức khôn ngoan) và những khuyết điểm chống lại đức khôn ngoan

Đức khôn ngoan, đức lý giải tốt, phán đoán tốt và chỉ thị hành động tốt, đòi hỏi trong bất cứ hành động nào tất cả một loạt các phẩm tính.

Phẩm tính trước tiên là kinh nghiệm, đúng hơn là khả năng biết rút tỉa cái hay từ kinh nghiệm (memoria)

“Bạn có muốn trở thành một giáo tập đạt trình độ không? Bạn cần có thói quen của các bạn trẻ. Chỉ khi bạn được góp ý nhiều thi hướng đi của bạn trở nên thực sự vững vàng. Hãy để các sự kiện nói cho bạn và hơn nữa cần biết lắng nghe chúng. Có những người già cả mà chẳng học được gì nơi họ hết, họ không biết ghi nhận các bài học kinh nghiệm” (Raulin).

Kinh nghiệm mà thôi không đủ. Lý trí và đức tin soi sáng chúng ta để ta sống xứng đáng là người và Kitô hữu, xứng đáng trước Chúa Đấng ta phục vụ, để trổ bông trái các ân huệ tự nhiên và ân sủng Chúa ban trong ta, các tài năng ta đã nhận. Vậy cần phải thêm vào bài học kinh nghiệm đã được tiêu hóa sự phân định dựa trên các luật phổ quát sẽ sử dụng trong trường hợp cụ thể (recta aestimatio principii): Những luật được Đấng Tạo Hóa ghi khắc trong trong hữu thể người của ta (syndérèse và luật tự nhiên), những luật mà Chúa Thánh Thần khắc ghi trong tim ta bằng lòng mến (luật mới). Đó là kiến thức về các nguyên lý luân lý, mà cũng là ‘cảm quan nội tâmvề một mục đích riêng biệt (intellectus) và khả năng ứng dụng những gì ta biết trên nguyên tắc và mục đích vào các trường hợp cụ thể (ratio).

Kinh nghiệm riêng và kiến thức của ta cần được bổ túc bởi những người khác, đặc biệt những người trọng tuổi và cả những tiền nhân ứng dụng cho những thưc tại cốt yếu của đời người (người ta không đến tham khảo những người trọng tuổi những chỉ dẫn về tin học, hay không thể rút ra ngay từ việc đọc một tác giả thời trước để xem nên làm một chuyên gia môi trường hay không, nhưng những kinh nghiêm của họ thật quý báu cho sự quân bình đời sống, hiểu biết tha nhân, trong những thử thách tình yêu, tình bạn, đau bệnh và thất bại). Cần biết để người giàu kiến thức hơn dạy mình. Trong lãnh vực nay, cần khám phá thái độ trung dung giữa thói nô lệ và sự cứng đầu tri thức (docilitas)

Cuối cùng cần có khả năng tự điều khiển lý trí sáng suốt và toàn diện nhât có thể để phán đoán vè một tình huống và mức độ hành sử tình huống đòi hỏi. Thấy chính xác, có cái nhìn đúng, nắm bắt được giải pháp tốt nhất (trong hy ngữ eustochia, trong la ngữ solertia: ‘sắc sảo’), biết tiên liệu (‘đón gió’, giả thuyết rút từ kinh nghiệm đả trải qua), xem xét những tình huống (circonspectio), không để sa bẫy bởi những cái hào nhoáng (cautio).

Nói về sự khảo sát từng phẩm tính cấu tạo đức khôn ngoan trong việc đào tạo luân lý, A. Raulin kết luận: ‘mỗi bài diễn giải, mỗi cuốn phim, mỗi vở kịch, mỗi kinh nghiệm sống, tự bản chất làm phong phú thêm cho những phẩm tính ấy. Điều cốt yếu không phải là đạt được tất cả chúng mà là suy tư ngẫm nghĩ.’ (708).

Những hành vi đam mê, như thèm khát mãnh liệt hay cơn giận dữ, có thể chống lại đức khôn ngoan. Hoặc những trạng thái tâm hồn trái ngược những điều vừa bàn giải trên: sự vội vã hấp tấp, nó làm người ta đi từ nguyên lý tới kết luận quá nhanh và tệ hại. Ngay cả khi người ta đã dành thời gian cần thiết mà suy nghĩ, quyết định còn có thể bị xem xét chưa đủ về một phương diện nào đó, ý kiến nào đó, trường hợp nào đó hay một nguy hiểm không ngờ (inconsideratio). Cuối cùng người ta có thể không giữ lại điều đã phân định rõ: đó là sự bất nhất. Sự vội vã là không xem xét tới cả yếu tố quan trọng nào đó, sự bất nhất thì đáng trách nếu là lười lĩnh, thiếu lưu tâm và tỉnh thức, là một quyết đinh mà người ta sẽ có thể làm. Chúng đi ngược lại lý trí, được hiểu là khả năng lý trí truy tìm cẩn thận, tiệm tiến và đầy đủ. Ta có thể thêm vào bản phác đồ trên đây danh sách những khuyết điểm về sự hiểu biết.

Hành vi hiểu biết nhân đức    Cân nhắc tốt               Phán đoán tốt              Chỉ thị hành động tốt

(lý trí khôn ngoan)

Hành vi ý chí nhân đức           Chấp thuận lý giải       Chọn cái đã được        Tuân hành điều đã

(quan tâm tới đức mến)                                              phán đoán chín chắn              chỉ thị tốt

Thái độ sẵn sàng nhân đức     năng lực lý giải tốt       Synesis: thường ngày   Đức khôn ngoan

     của sự hiểu biết      Eubulia                        Gnomè: trường hợp đặc biệt

Khuyết điểm sự hiểu biết        Sự vội vã                      Thiếu sự xem xét         Bất nhất

Tội ý chí                                  Chấp nhận lý giải tồi   Chọn cái phán đoán trật-Nghetheomệnhlệhxấu

(lười lĩnh)

Thánh Tôma chắc chắn biết đến chân dung thánh Đaminh do Jourdain de Saxe (1185-1237) viết: “Nơi Đaminh, có sự quân bình tâm hồn vững chắc. Niềm vui tâm hồn làm cho khuôn mặt rạng rỡ, sự quân bình trong sáng nội tâm của Ngài biểu lộ ra bằng lòng tốt và khuôn mặt vui tươi. Ngài duy trì sự bình ổn hoàn hảo trong công việc Ngài đã phán đoán để thực hiện cách hữu lý, tới nỗi hầu như không bao giờ thay đổi một quyết định đã loan báo sau khi cân nhắc chín chắn. Đồng hành theo ngày tháng, chẳng ai hòa mình vào cộng đoàn anh em hơn Ngài, mà cũng không ai vui vẻ hơn Ngài. Với khuôn mặt rạng rỡ, Ngài chinh phục cách dễ dàng tình yêu của mọi người ngay cái nhìn đầu tiên. Khắp nơi Ngài biểu lộ phong cách con người của Tin Mừng, trong ngôn từ và trong hành động.”

Những hình thức xã hội của đức khôn ngoan (phần chủ quan của đức khôn ngoan)

Khôn ngoan là người biết tự điều khiển đời mình. Nhưng tự bản tính con người được mời gọi sống với người khác trong xã hội. Người ta không thể tự cung cấp những gì cần thiết để tồn tại nếu không có xã hội. Cũng vậy, không có xã hội người ta không thể vươn tới hạnh phúc trong chân lý và tình bạn. Một triết gia trường phái Tôma hiện đại Jacques de Monléon viết: ‘Mục tiêu của thôn làng thị thành là tổ chức những sinh hoạt của con người sao cho người ta sống hạnh phúc tốt nhất có thể trong tư cách người’. Do đó nếu người ta tách biệt giữa lợi ích cá nhân và tập thể, người ta không thể không gây đối đầu giữa lợi ích cá nhân và xã hội[10].

Nhân vị tự chính bản chất và vì sự thiện ích của mình tự thấy phải dấn thân vào những tình huống phức tạp của xã hội. Đức khôn ngoan phải thể hiện khi quan tâm tới người khác và cũng vì người khác mà đời sống chúng ta liên kết trong sự liên đới đa dạng được củng cố bởi đời sống xã hội, chính yếu bởi gia đình, quốc gia và Giáo hội. Giữa những nhóm hội khác nhau trong xã hội, gia đình, quốc gia, Giáo hội lưu tâm tới chúng ta không chỉ cách đặc biệt về nhu cầu vật chất nào đó, khả năng kỹ thuật nào đó, hoạt động thực tiễn nào đó, lãnh vực tri thức nào đó, nhưng tới tất cả những gì làm nên đời sống ta. Tất cả những nguồn nhân đức khôn ngoan ta vửa gợi trên đây trở thành cần thiết để ta đóng vai trò của mình trong đời sống gia đình, xứ sở và Giáo hội. Những tài năng kỹ thuật (điều hành của cải, khoa giáo dục, kiến thức lịch sử và luật học, triết học, thần học...) không đủ để làm cha mẹ đúng nghĩa, làm con thảo, làm công dân tốt, Kitô hữu đạo đức, làm những người điều khiển xã hội hay các mục tử. Chính vì vậy câu nói ‘lòng bác ái được tổ chức tốt bắt đầu từ mình’ được áp dụng ở đây nhắc chúng ta cần phải trước tiên học điều khiển mình, và kiên trì trong sự tự chủ, để thực sự trở thành hữu ích cho các phần tử của gia đình. Mong ước sao đời sống gia đình khai hóa cho ta vào những hình thức lớn rộng hơn trong đời sống xã hội, những dấn thân trong các hiệp hội dẫn vào sự phục vụ Giáo hội và tổ quốc[11]. Ta ghi nhận ở đây ba bước chính phân biệt trong truyền thống triết học Aristote và Tôma: cá nhân, gia đình và hai xã hội đầy đủ là Giáo hội và tổ quốc mà trong lãnh vưc riêng của chúng, chúng không trỗi dậy từ một quyền trên nào[12].

Vì không chỉ xác quyết sự thiện cá nhân, các hình thức khác của đức khôn ngoan mà đức khôn ngoan cà nhân trở thành thiết yếu trên hai bình diện của đời sống xã hội: đức khôn ngoan gia đình và đức khôn ngoan ‘xã hội’. Tôma thêm trường hợp khôn ngoan ‘quân sự’, trong những giả thuyết phải tự vệ chống quân thù. Trong mỗi trường hợp trên, tính cách của mỗi cộng thể có liên quan (gia đình, cộng đoàn Giáo hội, tổ quốc), và cũng kể đến luồng mạch lịch sử (thời bình hay thời chiến) kéo theo những điều kiện đặc thù đối với việc thể hiện đức khôn ngoan. Ta không thể bàn luận cùng một cách, không thể phàn đoán cùng một kiểu, không thể điều khiển cùng một lối trong một khung hạn hẹp và tùy thuộc vào gia đình và ở mức độ của cả thành phố, trong thời bình và khi đời sống cộng đoàn hay các cá nhân lâm nguy. Đàng khác, tất cả đời sồng tập thể vốn có những tương quan phẩm trật. Bề trên đương nhiên phải thể hiện đức khôn ngoan trong sự điều hành, nhưng người dưới cũng phải biết sống cương vị của mình cho ích chung. Kẻ dưới người trên đều phải thể hiện đức khôn ngoan theo cương vị của mình trong khung cảnh đời sống gia đình, chính trị hay Giào hội, trong việc thường ngày hay trong thời ly loạn.

Nếu đức khôn ngoan cá nhân, đức khôn ngoan gia đình, đức khôn ngoan chính trị có những đặc tính, chúng đều có phong vị gia đình. Giữa chúng, chẳng có cái chỉ nguyên là tiếng nói đơn độc, là duy nhất, chỉ là hàm hồ hay hoàn toàn xa lạ. Nhưng có sự tương đồng, nói theo kiểu truyên thống Tôma ‘tương loại’. Sự tương đồng này dựa trên sự kiện là đối tượng nằm ở mọi cấp bậc, trong mọi trường hợp, sự phát triển toàn diện của con người, cá nhân và xã hội. Chung cuộc, mục đích là thực hiện sự thông hiệp các cá nhân trong sự thật và tình yêu. Dù trách nhiệm nào đi nữa, dù trách nhiệm về ai chăng nữa và trong khung cảnh nào đi nữa, ta phải ứng xử cho ra người.

Không bao giờ ta được phép xử với một người như con cờ trong bàn cờ hay trong guồng bánh răng của bộ máy[13]. Con người là duy nhất: Ta không thể chạm tới một ‘mảnh’ của hữu thể mà âm vang không lan truyền khắp châu thân tới cả vận mệnh đời đời. Ngay khi ta nhận trách nhiệm một anh em, nhớ ngay một chữ, không phải ‘kỹ thuật’ nhưng ‘khôn ngoan’. Không chỉ khôn ngoan cá nhân vì vận mệnh của chúng ta không phải một mình nhưng khôn ngoan xã hội. Có cần một đức riêng biệt cho mỗi trường hợp không? Chắc chắn là không: nào có tương quan xã hội mà không quy về một trong những tính chất lớn của đức khôn ngoan: gia dình hay tập thể chính trị? Rốt cuộc người ta nào có thể khác hơn hoặc là cha mẹ, công dân hay là anh em trong đức tin của chúng ta?[14]

Ân huệ lý giải

Với mức độ nào người ta có thể hy vọng thưc hiện đức khôn ngoan giúp ta hoàn thành như mong ước sứ mệnh làm người và Kitô hữu? Sự phức tạp và những thực tại bất ngờ đã chẳng làm cho những người mẫn tiệp và can đảm, những nhà điều hành khôn ngoan nổi tiếng thất bại sao? Chỉ riêng sức mình, con người sẽ tự mãn khi trải qua một thành công. ‘Sự hoàn hảo chẳng có được trên đời này’

Đức tin mở ra cho chúng ta chân trời mới, chân trời đời sống vĩnh cửu. Tầm viễn tượng rộng tới vô tận biến đổi trọn vẹn tổng quan một đời. Một vài thắng lợi dưới mắt người đời thì chỉ là cái tan vỡ thiêng liêng, một số những thật bại dưới mắt người đời lại là thắng lợi của ân sủng. Đó là điều Thérèse Lisieux hiểu trong đời sống của Jeanne d’Arc:

Jeanne, chị tỏa sáng và đẹp xinh

Hơn cả lễ đăng quang của hoàng đế

Trong gian tù tối tăm

Ánh phản quang thiên linh của vinh quang vĩnh cửu

Ai mang đến cho chị? Đó là sự phản bội.[15]

Dưới con mắt đức tin, điều duy nhất quyết định thành công của đức khôn ngoan: ‘nó thắng cuộc nếu nó bảo toàn lửa mến, nó thua cuộc nếu ngọn lửa cho sự lành tắt ngúm’ (Raulin, 715). Trong nếp sống của chúng ta, bên cạnh những người khác, sự quan tâm chính có phải là thực tại và đà tăng trưởng của tình yêu và bác ái không? Đó không phải là lời khấn đạo đức, nhưng nó cần chi phối sâu xa tổ chức cụ thể của mọi công việc của chúng ta, khởi sự bằng những phương tiện ta tạo ra để duy trì và củng cố tinh thần cầu nguyện, kết hợp với Chúa Kitô. Không thể duy trì tình yêu bác ái nếu không củng cố chúng. Các bậc thầy thiêng liêng dạy ta rằng không thể ở lại trong tình yêu nếu không tăng triển tình yêu. Đức khôn ngoan góp sức ở đây giúp ta tránh sự nhàm chán.

Nhân đức siêu nhiên duy nhất của đức khôn ngoan, trạng thái sẵn lòng trong ta mà ân sủng ban (đức khôn ngoan phú ban) và phát triển qua hành động của chúng ta (đức khôn ngoan đắc thủ) không làm cho chúng ta không sai lầm trong đời sống và trong gánh nặng của chúng ta. Nhãn quan của chúng ta còn rất giới hạn. Không hiếm xẩy ra là hai vị thánh chống lại nhau với những lý do tốt trong một số công việc chung. Trong cuộc khủng hoảng hiện đại, Đức Piô X không tán thành Hống y Ferrari, Tổng Giám mục Milan, không chấp thuận cho Đức Hống y đến biện minh. Ngày nay, sự thánh thiện của người này người kia được Giáo hội nhìn nhận. Chúng ta còn sống trong thân phận bất tất, thường bị vượt qua bởi những cái bất ngờ hay bạo lực của các sự kiện.

Vì lý luận của chúng ta, dù được đức tin soi dẫn và được đức khôn ngoan tăng cường phẩm chất, không đủ bảo đảm cho ta trong đường đời, đặc biệt trong những tình huống khó khăn, chúng ta cần mở lòng đón nhận linh hứng của Thánh Thần. Thái độ đón nhận gọi là ‘ơn tư vấn’ cũng phải luyện tập. Năm 1779, Jean-Martin Moye, linh mục Hội Thừa sai hải ngoại, tới thăm cha bạn M. Gleyo, tại tỉnh Yunnam Trung quốc. Cha chia sẽ kế hoạch quy tụ và giáo dục những phụ nữ trẻ Kitô để sai họ đi lập những nhóm nhỏ ngay cả từng trường học một trong miền thôn quê Trung quốc. M. Gleyo thấy khó mà thực hiện kế hoạch trên đất Trung quốc nên từ chối tham gia. Sau vài tuần lễ, Jean-Martin Moye nhận một lá thơ của M. Gleyo:

“Để đẹp lòng Chúa tôi phải thay đổi hoàn toàn tâm hồn tôi về vấn đề đó và đây là lý do. Chiều hôm sau, suy nghĩ về việc đó, một tư tưởng đến với tôi là tất cả hệ tại biết đó là ý Chúa hay không, điều này thì đã được biết rồi, không được dừng lại vì khó khăn, bây giờ hay sau này, trước hết là Thiên Chúa định cho tôi đi trên con đường đầy trở ngại, phải tiến tới bất chấp tất cả và vượt trên tất cả. Trong ý hướng đó, tôi đọc kinh sáng. Ngay khi đọc kinh Kính Mừng, tôi cảm nhân ơn bình an, sự thỏa lòng, ơn an ủi mà tôi không thể diễn tả, đồng thời một niềm cảm hứng nói với tôi là Đức Thánh Trinh Nữ hài lòng nhìn thấy khai sinh một hội các thiếu nữ. Trong ơn cảm hứng này, tôi đã nhìn thấy Đức Thánh Trinh Nữ, trên cao, Ngài đứng nhìn tôi như thể chính Ngài nói cho tôi ở chính nơi mà tệ thay tôi quay lưng lại. Cảm hứng này làm tôi suy nghĩ dù đang đọc kinh thần vụ, rằng có thể Thiên Chúa được tôn vinh qua hội này mà Chúa dùng những người nữ này giúp tôn giáo tiến tới, có thể trong cùng chiều hướng mà tôi được sai đến. Ngay khi tôi nghĩ tới điều ấy, tôi cảm nhận rất rõ niềm hứng khởi này, luôn luôn với ấn tượng về Đức Thánh Trinh Nữ ở trên cùng một nơi đó: điều đó chẳng lẽ không phù hợp trong một xứ sở đã được thánh hiến cho Đức Thánh Trinh Nữ? Amen. Amen. Tôi đoan chắc hội của chúng ta sẽ hình thành.”[16]

M. Gleyo ban đầu cân nhắc lợi hại. Dù niềm khát mong cháy bỏng muốn làm cho đức tin tiến triển tại Trung quốc, tình bạn thắm thiết với cha Moye, sự hiểu biết của mình về phong tuc tập quán người Hoa khiến Ngài chỉ có một mực phán đoán là kế hoạch của cha bạn không hữu lý, và buông mình vào thái độ chối từ. Nhưng cha vẫn mang thái độ cởi mở, sẵn sàng. Trong cầu nguyện, suy nghĩ của cha tiến triển: trong việc này, điều phải tính đến là làm Thánh Ý Chúa. Hoàn cảnh một thừa sai giúp sẵn sàng chấp nhận những hiểm nguy dữ dằn nhất và những bấp bênh nhất, mà lòng cậy trông vào ơn trợ lực của Chúa Đấng tự tỏ mình cho cha cách đặc biệt. Hình ảnh Đức Trinh Nữ bất ngờ xâm chiếm cha: cảm xúc đến là các người nữ mà cha bạn nghĩ tới sẽ nhận từ Đức Mẹ ơn trợ giúp đăc biệt. Cha đã đạt được sự vững tâm là hội mà cha Jean-Martin đang nhắm tới có thể và phải được thành lập. Chúng ta rút ra từ trường hợp này sự linh hứng liên kết với suy tư con người, làm cho suy tư con người vượt qua giới han thuần lý mà không cưỡng bức. Thánh Thần can thiệp lại giả thiết một tinh thần biết để mình được dẫn dắt mà không phật ý[17].

Chúng ta kể ra một bằng chứng khác, ở bình diện điều hành Giáo hội toàn cầu. Ngày 7 tháng 12 1965, Đức Phaolô VI gợi lại một phản ứng khác thường của Công đồng đối diện thế giới hiện đại.

Chủ thuyết nhân bản nơi giáo dân và thế tục hiện ra với tầm vóc đáng ngại và trong nghĩa nào đó, thách thức Công đồng. Tôn giáo của Thiên Chúa làm người đối diện với tôn giáo (vì chỉ là một tôn giáo) của con người tôn mình làm Chúa. Điều gì xẩy ra? Một va chạm, một cuộc đấu tranh, một vạ tuyệt thông? Điều đó có thể đến nhưng đã không đến. Câu truyện xưa về người Samaritanô đã là mẫu cho linh đạo của Công đồng. Niềm thương cảm vô biên phủ ngập tất cả. Sự khám phá những nhu cầu của nhân loại (chúng lớn hơn là con người trên mặt đất tưởng), đã thấm nhập chú tâm của Hội nghị. Hãy biết ơn Công đồng ít nhất về điều đó, hỡi các ban, những nhà nhân bản hiện đại, là những người chối từ tính siêu việt của những thực tại bên trên, và xin hãy nhìn nhận nền nhân bản mới của chúng tôi: chính chúng tôi, hơn bất cứ ai khác, chúng tôi có nền phụng tự con người. Và trong nhân loại mà ‘Nghị viện uy nghi’ này đang xem xét, ai sẽ tự đặt mình học hỏi dưới ánh sáng thần linh? Một lần nữa Công đồng xem xét chân dung hai mặt trường cửu của con người: nỗi thống khổ và sự cao cả của con người, cái ác sâu xa, không thể chối từ, tự nó không thể chữa lành, và cái tốt lành con người đang ôm ấp, luôn luôn mang dấu ấn cái đẹp ẩn tàng và quyền tối thượng không thể bị triệt hạ. Nhưng cần biết rằng Công đồng này, trong nhận định về con người, điểm tới phương diện hạnh phúc của con người hơn là phương diện bất hạnh. Thái độ của Công đồng rõ ràng và hữu ý là lạc quan. Một luồng tình thương và ngưỡng mộ đối với thế giới hiện đại tràn ngập trong Công đồng. Những sai lầm bị lên án. Đúng vậy bởi vì đó là đòi hỏi của tình thương mến cũng như của sự thật nhưng khi nói với con người thì chỉ có nhắc nhở, tôn trọng và yêu thương. Thay vì chẩn đoán bệnh để làm cho mòn mỏi thì lại để tra thuốc khích lệ. Thay vì tiên đoán cách sầu thảm, những sứ điệp tin cậy đã phát đi từ Công đồng đến với thế giới hiện đại: Những giá trị của Công đồng không những được quý trọng mà còn được tôn vinh, những cố gắng được duy trì, những khát mong được thanh tẩy là chúc phúc.”

Lại ở đây, lần này ở bình diện của cả một Công đồng, sự can thiệp của Thánh Thần đã ngự đến tận bên trong những bàn bạc cân nhắc của con người. Đây là thái độ bác ái mục vụ, những quan tâm tôn trọng và tốt lành trước những hoàn cảnh của nhân loại, giúp đạt tới thái độ lạc quan tới mức gây ngạc nhiên và khích lệ đối với một thế giới dù đôi khi đối đầu thô bạo với tôn giáo và Kitô giáo. Thánh Thần làm thất bại những dự kiến của con người nhưng xuyên qua những cố gắng khiêm tốn để hiểu biết và để điều chỉnh của Công đồng...

Đào tạo khả năng phân định cho sứ vụ xét như hội nhập vào truyền thống sống động. Giảng huấn của một chuyên gia Tôma: Cha Pie-Raymond Régamey (1900-1996).

Để rút ra từ gảng huấn của thánh Tôma một vài gợi ý liên quan tới việc đào tạo khả năng phân định cho sứ vụ, chúng ta sẽ tìm hứng khởi từ một nhà thần học chuyên về Tôma hiện đại, P.R. Régamey, được biết tới qua những suy tư về nghệ thuật, về đời sống thiêng liêng và tôn giáo. Đức Phaolô VI xin ngài chuẩn bị một bản văn về đời sống tôn giáo để làm nền tảng cho huấn thị Evangelica Testificatio (1971). Một trong những điều cơ bản của nhà thần học này là nhấn mạnh hơn những người khác về vị trí của đời sống cộng đoàn và những điểm thực hành truyền thống (phụng vụ, những bàn luận trong các tổng hội, đức khó nghèo, thinh lặng...) trong việc đào tạo ‘con người mới’ con người của Tin Mừng. Đào tạo ban đầu cho các ứng sinh linh mục và tu sĩ thực hiện torng khung cảnh đời sống cộng đoàn và ‘thường xuyên’, đời sống trong chủng viện, tu viện. Tổng quát hơn, trong khi thế giới bị tục hóa, môi trường xã hội và ngay cả gia đình càng ngày càng yếu ớt quy chiếu về lòng tin Kitô, vai trò trung gian của một cộng đoàn Giáo hội dẫn dắt các thành viên thưc hành cụ thể cấu trúc đời sống trở nên thiết yếu cho việc chuyển tải đức tin. Điều này quả thực không chỉ đòi hỏi sự nghiền ngẫm tri thức, mà còn sự dấn thân thường xuyên của cả con người. Thách đố sẽ là làm sao đồng hành hằng ngày những con người, giúp đỡ họ lớn lên và tiến tới một cách mạch lạc đầy chất Tin Mừng, mà không đóng khung trong những ‘ghetto’ hay trong những nhóm cục bộ. Đây là sự giáo dục tự do trong khi tháp nhập vào truyền thống sinh động, nhằm tới sự thể hiện những đặc sủng liên kết với sứ vụ trong mọi hình thức.

Sự đóng góp của cha Régamey trước hết liên quan tới suy tư về đâu là truyền thống sống động sẽ uốn nắn con người, tặng cho họ cảm thức sâu xa đức tin và qua cách đó khả năng phân định theo tinh thần Tin Mừng. Trước hết ngài suy tư về lãnh vực nghệ thuật: truyền thống có vai trò gì trong việc sáng tạo nghệ thuật? Cha cho chúng ta một loại suy thú vị giữa đào tạo thẩm mỹ, nghệ thuật và đào tạo cho thánh vụ và sứ vụ. Trong cả hai trường hợp đều là phát triển dưới ‘mái trường các bậc thầy’ (docilitas), một nền văn hóa, một loại hình sở thích ‘gout’, một tri giác sống động các sự vật, một ‘cái nhìn’ (memoria, intellectus, sollertia)[18]sự tự chủ cảm tính và tình cảm (circumspectio, cautio), nhằm sản sinh ra sáng tạo, phát huy các tài năng (constantia)[19]

Trong lãnh vưc nghệ thuật, cha Régamey phân biêt năm loại ‘truyền thống’, và cha so sánh năm khuôn mặt truyền thống nghệ thuật với với các thành tố đức tin[20].

1). Trước tiên trong lãnh vưc nghệ thuật có một truyền thống phủ nhận truyền thống. Một thái độ ngày nay rất phổ biến, phản kháng giá trị quy phạm của một di sản quá khứ. Thái độ tiêu cực này biểu lộ đòi hỏi sáng tạo nghệ thuật: đặt lại vấn đề cá nhân của truyền thống để truyền thống thoát tình trạng nhàm chán.

2). Đó là hình thức thứ hai của truyền thống vừa phổ biến vừa không chấp nhận được:chỉ sản sinh những cách thức suy tư và cách thức hành động bao trùm cả một thời kỳ. Tuy nhiên, lại lần nữa hình thức truyền thống không thể chấp nhân nàybđối với nghệ sĩ cho ta thấy sự tìm kiếm có giá trị: ‘tìm kiếm truyền thống là sự bất thường. Truyền thống phải có đó, có trước chúng ta, linh họat độc lập với chúng ta.

3). Sự kiện trong thế giới hiện tại là thường ‘tìm kiếm truyền thống’ đôi khi dẫn tới quan niệm hẹp hòi và lỗi thời về truyền thống: người ta tuyệt đối hóa một giai đoạn trong quá khứ (td. trung cổ...) ‘Việc cố ý quay trở về các truyền thống nổi bật khẳng định sự thiếu hiểu biết rất căn bản về chính các truyền thống ấy là gì lúc chúng diễn ra.’ Tuy nhiên, khảo cứu quá khứ giúp chúng ta hiểu những điều kiện tự nhiên của truyền thống, cho ta ý tưởng truyền thống sống động là gì

4). Cha Régamey, sử gia nghệ thuật cũng dạy ta ‘cho tới cuối thế kỷ XVIII bên châu Âu người ta nhận thấy trong các tác phẩm khiêm tốn hay lộng lẫy ‘sự hiện diện các giá trị nghệ thuật một trật mềm mại và vững bền’, nhờ ‘sự tôn trọng bản chất sự vật bên ngoài’ mà nghệ thuật thể hiện. Càng lui về xa lịch sử các nền văn minh, miễn đừng dẫn tới chấp nhận lý thuyết ’một truyền thống ban đầu giá trị trên tất cả các tôn giáo lịch sử’, người ta khám phá:

5). Truyền thống những ‘nghệ thuật trên hết’, trước cả thời cổ điển, cả thời tự nhiên. Các tác phẩm có giá trị biểu tượng. Đó là nghệ thuật số học đòi hỏi sự dẫn dắt, chuyển tới cái bên kia thiêng liêng của tác phẩm. Ở đây người ta nhậy cảm với nhịp điệu, tỷ lệ, những tương quan nội thể giúp trấn an vì chúng hòa hợp cùng vũ trụ.[21]

Truyền thống đức tin có chính Chúa là tác giả là Mạc khải. Thiên chùa hiện diện trong truyền thống trong tất cả mọi thời kỳ của lịch sử. ‘Ta cũng có thể nói rằng Truyền thống này hướng về quá khứ, vì Mạc khải đã khép lại từ cái chết của vị tông đồ cuối cùng, và Giáo hội chỉ làm sáng tỏ nội dung kho tàng mà Giáo hội giữ gìn, và cũng Truyền thống nay hướng về tương lai, vì chỉ trong thời tận cùng thời gian Mạc khải sẽ được biểu lộ đầy đủ và lý do hiện hữu của Mạc khải là dẫn đưa loài người tới cùng đích này.’ Điều kiện đầu tiên để bước vào Truyền thống này là sự lắng nghe cá nhân, thân tình và yêu mến Thiên Chúa. Trung thành với Truyền thống là nguyên lý không phải để suy thoái mà để tiến bộ, vì đó là trung thành với vô tận. Mỗi người là ‘Truyền thống’ bởi sự trung thành nội tâm với hữu thể thâm sâu của mình’ (Y. De Moncheuil) nơi đó Chúa hiện diện và Chúa nói. Hơn nữa, ta hiểu rằng người sống Truyền thống là người một trật mang ký ức và hy vọng, chăm chú tới hiện tại để dấn thân, hướng về tương lai trong niềm mong đợi hoàn thành những điều đã hứa. Một trật người ấy cũng gắn bó cách kính cẩn với những diễn tả của quá khứ mà người ấy yêu thích học hỏi, và rất tự do. Như cha R. Régamey viết, cho tới cả trong lãnh vực Truyền thống siêu nhiên, và trong lãnh vực này lại càng khẩn thiết hơn vì tinh thần chúng ta không thể tiếp cận để tiếp nhận cách thụ động, nó phải xao xuyến, kiếm tìm, phân định.’ ‘Dường như không còn nghi ngờ gì là trung thành với Truyền thống bắt buộc chúng ta một trật tinh thần thường xuyên tỉnh táo, thiết yếu sẽ tỏ ra cách nào đó đến các hình thức (x.4) và sự canh tân không ngừng chính các hình thức ấy. Truyền thống Kitô không cho thấy cái tương đương nghệ thauật của nó trong sự phản kháng những nguyên lý chống lại những hình thức đã lãnh nhận (1), cũng không trong sự trở lại thời xa xưa trong những hình thức chết (3), cũng không trong sự cam chịu cái tầm thường đương thời (2). Nó mong ước từ chúng ta, trong chúng ta sự khám phá những nguyên lý khá chặt chẽ và khá cởi mở’

Hội nhập vào Truyền thống sống động giúp mỗi người thể hiện những đặc sủng cá nhân. Những người này, như trong các ân huệ của Thánh Thần, chỉ sinh hoa trái nếu họ nhận lãnh trong khiêm nhường và vì lợi ích của cộng đoàn, đón nhận cách quảng đại trong tự do và thể hiện trong sự phân định. Đặc sủng như vậy cũng tương tự tài năng, tương tự ngón nghề của nghệ sĩ. Đặc sủng không biện minh bất cứ nhàm chán nào, tự động tính nào, cá nhân chủ nghĩa nào.

Cuộc rảo qua này cung cấp một số thông tin lịch sử nào đó. Mục đích của nó không phải là đề ra những áp dụng cụ thể. Cuộc trao đổi nhóm giúp ta đo lường ích lợi của các ý niệm được nghiên cứu được truyền lại bởi Truyển thống nhằm phân tách những tình huống, kiểm điểm những nguồn nhằm vào việc đào tạo. Phần cuối của bài gợi tới một định hướng tổng quát. Việc đào tạo cho sứ vụ trong tính chất là đào tạo khả năng phân định cá nhân không hệ tại những khẩu hiệu. Nói tới điều đó cũng không có nghĩa ở cuối công cuộc đào tạo người được sai đi trở thành như một người ứng biến. Đào tạo cho sứ vụ là sự giáo dục tinh thần và cảm tính đòi hỏi hội nhập cả con người vào dòng truyền thống của cộng đoàn. Những trao đổi theo nhóm giúp đẩy mạnh suy tư trên hai điểm sau đây: Những nguồn văn hóa Việt Nam, sự đóng góp của riêng Việt Nam cho truyền thống Giáo hội cho sứ vụ ngày nay; những thực hành cộng đoàn cần duy trì ủng hộ để phát triển nơi những người được thụ huấn cảm thức sâu xa những thực tại thiêng liêng và sinh sôi nẩy nở đặc sủng của họ.

 


[1] Nền luân lý theo thánh Tôma trước hết là sự tim kiếm điều gì làm nên hạnh phúc của con người. Niềm hạnh phúc la sự phát huy hữu thể người trong sự nhận biết Chúa và mến yêu Chúa. Hành động của con người dẫn tới niềm hạnh phúc này Thánh Tôma đã nghiên cứu trong các yếu tố làm phát huy những mạch nguồn của tinh thần và của cảm xúc của con người đó là các nhân đức. Rốt cuộc nền luân lý của thánh Tôma là quy thần: nhân tính được thấm nhuần ân sủng, ân sủng tái canh tân cách sâu xa lòng dạ con người, là hạt mầm sự sống vĩnh cửu dược gieo trồng trong con người. Nền luân lý của Kant đặ nền tảng trên mệnh lệnh tuyết đối (l’impératif catégorique), chẳng hề xem xét tới mục đích. Đàng khác con người không hay biết cái gì làm cho mình hạnh phúc. Với Kant những lời khuyên về khôn ngoan là những mệnh lệnh ‘không nhất thiết là đúng là thật’ (hypothétiques).

[2]Jean Cassien, Conférence I-IV, Éd. E. Pichery, Paris, Cerf, ‘Sources Chrétiennes’ 43, 1955, I, XXII, p. 106.

[3]Ibid. II, 4

[4]Jean Cassien, Conférence I-IV, Éd. E. Pichery, Paris, Cerf, ‘Sources Chrétiennes’ 43, 1955, II, 10, p. 120-121

[5]A. Lemonnyer trd. Đời Sống Thiêng Liêng của Chúng Ta theo Trường Phái Thánh Catherine de Sienne, Juvisy, Cerf. 1934, pp. 73-74

[6]Người ta ghi nhận là khi chúng ta trích bài thơ phụng vụ mà tác giả là Tôma và một bài giảng của ngài để làm sáng tỏ tính chất tổng hợp vừa thần học và Kitô học, vừa cá nhân vừa xã hội của nền luân lý của ngài. Khi bàn giải một vấn nạn trong Tổng Luận, Tôma đề cập vấn đề đậm tính phân tách và xoay quanh bao nhiêu có thể một điểm nhìn được xác đinh cẩn thận trong diễn tiến ý tưởng để giải quyết những khó khăn lý thuyết (những nhà kinh viện gọi là cách bàn giải rất ‘qui củ’). Cần biết điều đó và biết những giới hạn của kiểu suy tư đó, để khỏi thất vọng khi đọc Tôma, và tìm ra lối tiếp cận mà người ta bõ công gặp được cách rõ ràng nơi ngài, hoặc cả khi giả thiết gặp được. Người ta có thể nói rằng những trước tác của thánh Tôma cho thấy cảm nhận của ngài về những thực tại cụ thể, ngài không bao giờ đánh mất tầm nhin, nhưng bàn giải cách trừu tượng và lý thuyết. Tính duy thực của Tôma tạo cho giảng huấn của ngài tầm vóc thực tiễn, nhưng ngài đứng trong phạm vi giảng dạy tại đại học trong lãnh vực tri thứcmà không bước sang lãnh vực của đức prudence gắn vào một hành động cụ thể nào đó, ngay cả khi ngài dấn vào những cuộc tranh luận nảy lửa của thời đại của ngài, như những cuộc tranh luận về tương quan giữa giáo sĩ vào đời với tu sĩ.

[7]Đó chính là ‘một giao ước lạ lùng gây ngạc nhiên (admirabilis conjunctio) của con người với Thiên Chúa’ mà thánh Tôma định nghĩa từ Tin Mừng trong phần chú giải những câu đầu tiên thơ Rôma.

[8]Xét như trí năng mang tính chất suy lý, đi từ xem xét nguyên nhân tới hậu quả, người ta gọi nó là ‘lý trí’

[9]Y. Congar và các thần học gia khác dùng sự phân định nơi thánh Tôma, nhưng tầm vóc khác với thánh tiến sĩ thời trung cổ. Đối với Tôma cũng như phần lớn các bậc thầy khác cùng thời, một người không chịu phép rửa tội không thể được cứu rỗi, và thần học của Ngài rất khắt khe về sự tiền định, sợi giây rất chắc được thiết lập giữa ân huệ an sủng và các bí tích của Giáo hội gây nên những khó khăn lớn từ thời cận đại cho những người muốn ‘niềm hy vọng cho mọi người’, và đặc biệt cho những người đã được rửa tội. Chẳng hạn, ta có thể nghĩ tới Phanxicô Salêsiô thời trẻ bị dằn vặt, không thể dung hòa được điều Ngài tin về lòng lành của Thiên Chúavới điều thánh Augustinô và sau đó thánh Tôma dạy về sự tiền định. Trong bản văn của cha Raulin, đó là khả thể của đời sống trung thành với đời sống luân lý đích thực, ý tưởng về một đời sống luân lý ngay chính xa lạ với ân sủng và vô ích đối với ơn cứu độ mà cần phải tranh luận.

[10] Xã hội chính trị cần được cổ võ và bảo vệ bao nhiêu có thể, vì tự mình, xã hội không thiết lập được mục tiêu hai mặt: cái biết cho chính mình và tình bạn [...]

Bạn sẽ nói với tôi: tất cả điều đó rất tốt, nhưng sự chiêm ngắm Thiên Chúa và tình bạn hoàn hảo là những lý tưởng không thể đạt tới! Tuyệt đối bất khả. Nếu chúng ta để ý, chúng ta sẽ thấy chính đời sống chiêm niệm, tất cả mọi người đều có phần nào và phân nào đòi hỏi được thông dự. Việc lui tới tham quan các tác phẩm nghệ thuật trong các bảo tàng viện và trong các thành phố, chiêm ngưỡng thiên nhiên đều là bước đầu của đời sống chiêm niệm: con người yêu thích chiêm niệm. Xã hội phải đưa điều đó xa hơn nữa, hướng tới các đối tượng cao hơn, tới Thiên Chúa nếu có thể. Cũng thế đối với tình bạn: không nên hiểu từ’amitie’chỉ theo nghĩa ở đỉnh cao, ở tình bạn đẹp tuyệt, ở mức hoàn hảo của đời sống luân lý mà Aristote miêu tả trong hai tập về Đạo đức cho Nicomaque (VIII và IX). Tình bạn có thể nhìn từ nhiều góc cạnh rất khác nhau, kể cả những tình bạn đơn giản mà thiếu nó thì không thể có đời sống xã hội: luôn luôn có tình bạn nào đó trong xã hội. Nếu không bao giờ có một chút cảm xúc tự phát trước người khác, một cử chỉ hay một sự chú ý, nếu người ta không bao giờ nói năng chào hòi hay cám ơn, cuộc sống xã hội sẽ hoàn toàn ngột ngạt và không chịu đựng nổi. Chính những cái nho nhỏ chẳng là gì trải ra khắp nơi mà xã hội thăng tiến bao nhiêu có thể. Không còn cái xã hội mà xã hội chính trị và tình bạn giữa người với người gần như hoàn hảo và đạt mức là lý tưởng không thể đạt tới.’ (Jacques de Monléon, Nhân vị và Xã hội, Paris, L’Harmattan, 2007. P. 57-59)

[11]Chúng ta gặp ở đây tiến trình ‘triển khai theo vòng tròn qui tâm’ tựa như ta sẽ gặp trong hội thảo nhóm trong truyền thống Khổng học.

[12][...]Giáo dục là cộng việc quá lớn gia đình không thể tự mình bảo đảm sự phát huy tới mức được. Càng trao sự giao dục ban đầu cho gia đình, gia đình càng không thể thực hiện trọn vẹn sự giáo dục con người, vì gia đình tự nó là môi trường quá hẹp. Giáo dục sẽ được hoàn thành trong xã hội chính trị, mà xã hội vả lại tuyệt đối không thể thay thế nhiệm vụ khai hóa ban đầu của gia đình.’ Jacques de Monléon, Nhân vị và Xã hội, p. 88-89.

Về mối tương quan giữa Tổ quốc và Giáo hội, bản văn cơ bản là Gaudium et Spes 76.

[13]Cư xử với người khác như con cờ trong bàn cờ hay trong guồng bánh răng của bộ máy là sự thao túng. Sự thao túng dưới mọi hình thức không phải là điều mà Kinh Thánh xác định là ‘gian ác’ sao?

[14] Chẳng lẽ không có mối dây nào liên kết chúng tavào mọi người xét như là người, chẳng lẽ người ấy không thuộc về gia đình tôi, quê hương tôi, Giáo hội tôi? Chắc chắn đức khôn ngoan phải thể hiện trong khung cảnh toàn cầu của nhân loại, càng ngày ta càng thấy rõ hơn qua nhiều tiến trình toàn càu hóa. Vì thế người ta hiểu lối nói “anh em trong đức tin’ không chỉ trong ý nghĩa chia sẻ cùng một đức tin làm chúng ta nên anh em, mà còn trong ý nghĩa đức tin dạy ta là anh em với nhau, con cái Ađam, con cái Thiên Chúa, trong ý nghĩa dù chúng ta là Kitô hữu hay không, tín hữu hay không. Đức tin làm chúng ta nên ‘anh em phổ quát’ như cách diễn tả của Charles de Foucauld.

[15]‘À Jeanne d’Arc’, Oeuvres complète, Paris. Cerf et Desclée de Brouwer, 2004. P. 743

[16]Lá thơ do Jean-Martin gởi trong thư từ gởi cho các xơ Chúa Quan Phòng miền Lorraine, ngày Phục Sinh 1780. Tập Đường Hướng Các Xơ Chúa Quan PhòngPortieux. Paris, 1874. P. 235-236

[17]Giáo huấn của thánh Phanxicô Salêsiô và Inhaxiô Loyola nhắc chúng ta sống bình tâm là đặt trọn bản thân, trí hiểu, ý chí và cảm tính cho Thiên Chúa nhân lành. Thái độ cơ bản của M. Gleyo là sự bình tâm này.

[18]Truyền thống của Giáo hội, ‘sự diễn tả Chúa Thánh Thần linh hoạt các cộng đoàn tín hữu’, là ‘ý nghĩa thâm sâu của Giáo hội’, ‘cảm thức Giào hội’, ‘cảm thức công giáo’. Dei Verbum 8 nói về ‘nhận thức thâm sâu các thực tại thiêng liêng mà người ta trải nghiệm’, ‘intima spiritualium rerum quam experiuntur intelligentia’

[19]Những điều đó giúp hiểu lợi ích giáo dục nghệ thuật và văn chương trong việc đào tạo ứng sinh linh mục. Ta không đòi hỏi các ứng sinh tiến tới chức thánh những tài năng nghệ thuật đặc biệt, và cũng có nguy cơ quá đề cao trong sự phân định ơn gọi. Đây không phải là thêm vào một môn học và xem xét lại chương trình đã quá tải, nhưng là tìm kiếm tất cả những cơ hội gây thức tỉnh và trau chuốt cảm nhận trẻ trung cho mơi hình thức của cái đẹp.

[20]‘Cuộc truy tìm truyền thống’, Nghệ Thuật Thánh 5-6 (Mai-Juin 1948), 81-107.

[21]Hiểu biết về ‘những nghệ thuật trên hết’ có giá trị đăc biệt cho ta ý nghĩa của truyền thống. Truyền thống là ‘quân chủ bài’ cho công cuộc loan Tin Mừng. Viêtnam cũng có những ‘quân chủ bài’ riêng biệt.
Học Viện Đaminh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Em thân mến, Ơn gọi tu trì luôn là một ơn huệ đến từ Thiên Chúa. Một lúc nào đó cảm thấy tiếng gọi của Ngài đủ mạnh, em dám từ bỏ mọi sự để bước vào con đường hiến dâng. Càng đi trên con đường ấy, nhiều lúc em càng cảm thấy không mấy hạnh phúc, linh đạo nhà Dòng không mấy thích hợp với em.
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: 1V 19, 4-8; Ep 4, 30-5,2; Ga 6, 41-51 MỤC LỤC 1. Thánh Thể 2. Trường sinh 3. Bánh Hằng Sống 4. Bánh bởi trời – Lm. Ignatiô Trần Ngà 5. Ta là bánh ban sự sống” 6. Bánh từ trời – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm 7. Những lời thầm thì 8. Thực phẩm trường sinh 9. Tin Chúa sẽ được sống muôn đời 10. Bí quyết trường sinh – Thiên Phúc 11. Tấm bánh bẻ ra 12. Tôi là Bánh từ trời xuống – ViKiNi 13. Bánh bởi trời – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt 14. Bánh trường sinh 15. Không dừng lại, không chấm dứt – Achille Degeest 16. Sẽ trường sinh nếu ăn Bánh Giêsu 17. Thần lương độ đường 18. Còn hơn manna nữa – Jean Yves Garneau 19. Bánh Hằng Sống 20. Bánh Trường Sinh 21. Nói thẳng về một sự thật sống động 22. Có ai thấy Chúa Cha đâu? 23. Bánh trường sinh 24. Lời hứa về Sự Sống 25. Bánh Trường Sinh 26. Sắp hàng lãnh bánh của Chúa – Gm. Arthur Tone 2
Trong tháng 8 này ĐTC mời gọi chúng ta hiệp ý với tín hữu công giáo toàn thế giới cầu xin cho các lựa chọn kinh tế chính trị che chở các gia đình như kho tàng của nhân loại. Linh tiến Khải - Vatican Không có gia đình sẽ không có xã hội và các cơ cấu của nó, vì gia đình là tế bào nòng cốt của xã hội. Đây là sư thật hiển nhiên không thể phủ nhận.
Chúa nhật Ngày 5 Tháng 8 năm 2018 - Chúa Nhật 18 Quanh Năm - Năm B ----Lẽ Sống Hôm Nay: Tha Nhân Không Là Hỏa Ngục Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Anh ta xin vào một dòng khổ tu. Sau cùng, không còn chịu nổi đời sống tập thể nữa, anh nghĩ có thể tìm thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là anh ta đã lên đường tìm đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật vậy, anh đã tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn...
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm và chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Xh 16, 2-4.12-15; Ep 4, 17.20-24; Ga 6, 24-35
Cám ơn – Arthur Tone. Một nông dân chở lúa mì đến kho lúa ở thành phố kế cận. Anh dừng xe lại một quán ăn và đến ngồi gần một nhóm bạn trẻ đang quậy phá, la ó người đầu bếp, chất vấn cô bồi bàn. Khi bữa ăn dọn ra trước mặt, người nông dân cúi đầu dâng lời cầu nguyện.
Chúa nhật Ngày 29 Tháng 7 năm 2018 - Chúa Nhật 17 Quanh Năm - Năm B Trích sách Các Vua quyển thứ hai. - Trong những ngày ấy, có một người từ Baal-salisa mang đến dâng cho Êlisê, người của Thiên Chúa, bánh đầu mùa, hai mươi chiếc bánh mạch nha và lúa mì đầu mùa. Người của Thiên Chúa liền nói: "Xin dọn cho dân chúng ăn". Đầy tớ của người trả lời: "Tôi dọn bấy nhiêu cho một trăm người ăn sao ?" Nhưng người ra lệnh: "Cứ dọn cho dân chúng ăn, vì Chúa phán như sau: 'Người ta ăn rồi mà sẽ còn dứ". Đoạn người dọn cho họ ăn mà còn dư đúng như lời Chúa phán.
Chúng ta mừng ngày Hiền Mẫu nhớ ơn mẹ và ngày Từ Phụ ghi công ơn cha. Nhưng ta không có ngày Song Thân ghi ơn sinh thành, nuôi nấng, giáo dục của cả cha và mẹ, có lẽ vì ít khi thấy cả hai đều trọn hảo, nhất là trong xã hội ngày nay cuộc sống hôn nhân đang bị băng rã trầm trọng.
Thiên Chúa đã dùng tiên tri Giêrêmia để quở trách và kết án những người lãnh đạo dân Chúa. Họ chẳng lo lắng đến dân chúng lại còn làm cho dân chúng phải điêu đứng và phân tán. Tuy nhiên Thiên Chúa đã mở ra cho thấy một viễn tượng tươi sáng. Mầm công chính xuất phát từ dòng Đavít, sẽ làm vua thống trị, sẽ thực thi hoà bình và công lý. Đó chính là Chúa Giêsu.
Mỗi năm vào kỳ hè, nhiều cuộc tĩnh tâm được tổ chức cho các linh mục tu sĩ. Tĩnh tâm là gì? Nguồn gốc của nó từ đâu? Thực ra nếu nói rằng các linh mục và tu sĩ đi tĩnh tâm vào kỳ hè thì không đúng hoàn toàn, bởi vì một đàng giáo luật còn buộc các giáo sĩ và tu sĩ tĩnh tâm vào các dịp khác nữa; đàng khác, càng ngày bên Âu châu người ta thấy nhiều cuộc tĩnh tâm cũng được tổ chức cho các giáo dân nữa.
Bảo Trợ