Để Trả Thù Bà Trưng Trắc, Người Tàu Đã Làm Như Thế Nào?

29 Tháng Hai 202011:35 CH(Xem: 151)

ĐỂ TRẢ THÙ BÀ TRƯNG TRẮC, NGƯỜI TÀU ĐÃ LÀM NHƯ THẾ NÀO?

ĐỂ TRẢ THÙ BÀ TRƯNG TRẮC - NGƯỜI TÀU ĐÚC TƯỢNG MÃ VIỆN ĐẠP LÊN LƯNG NGƯỜI GIAO CHỈ 
hai ba trung
Trần Hữu Tư
Đăng trên Tạp chí Phổ thông số 30 ngày 30.6.1960
Lời dẫn của Le Van Quy: Ngày 21.3.2010, khi cả nước nhộn nhịp tổ chức Lễ hội kỷ niệm 1970 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì “nước lạ” kế bên cũng tổ chức “Miếu Hội Phục Ba Tướng Quân” tại Đông Hưng. Việt Nam đã gửi đoàn Văn Công sang giao lưu và các ông bà trong Đoàn Văn Công cũng thắp nhang quỳ lạy khấn vái truớc bức tượng của Mã Viện, một người đóng vai Thi Sách múa may quay cuồng rồi đến tạ tội với Mã Viện, còn hai bà phụ nữ thì nhập vai Hai Bà Trưng quy hàng, rót rượu, dâng kiếm lên Mã Viện để tạ lỗi. Ai có chút liêm sĩ nghe thấy chuyện này cũng đau lòng !
Rồi mới đây chính quyền Hà Nội lại định tổ chức "Sinh nhật" cho Hai Bà, không biết ngày sinh của Hai Bà có chính xác không, nhưng dư luận không đồng tình nên đành hủy bỏ (mỗi lần tổ chức lễ hội chắc cũng kiếm chác được nhiều nên họ tích cực lắm).

Người Tàu vốn rất thâm nho và thù dai, người Nam ta chớ quên điều đó ! 
 
Xin gửi đến các bạn một bài viết của Trần Hữu Tư được viết từ năm 1960, có nhiều chi tiết đáng để chúng ta suy ngẫm.
ĐỂ TRẢ THÙ BÀ TRƯNG TRẮC 
- NGƯỜI TÀU ĐÚC TƯỢNG MÃ VIỆN ĐẠP LÊN LƯNG NGƯỜI GIAO CHỈ 
Trần Hữu Tư
Đăng trên Tạp chí Phổ thông số 30 ngày 30.6.1960
blank
Mông-cấy là tỉnh lị tỉnh Hải Ninh, có dinh quan Sứ và dinh quan Đạo.Trước mặt Mông-cấy có sông Na-lương là con sông chia nước Tàu và nước Việt Nam ta. Ngang mặt Mông-cấy là làng Đông-hưng thuộc tỉnh Quảng-Đông. Đông-hưng vui vẻ, phố xá nhiều, buôn bán coi mòi phát đạt, cảnh vật khả quan. Nhơn dịp tàu đậu, ông Turion dắt quan Giám đốc và bỉ nhơn lên viếng quan Sứ và đi luôn qua Đông-hưng chơi. Trước hết ông đưa chúng tôi đến xin phép quan Doanh trưởng, là quan Tàu cai trị Đông-hưng, đặng đi quan sát cảnh vật. Xin phép xong, ông Quan ba dắt chúng tôi lại xem đền thờ của Mã Viện.
 

Đền thờ này cất trên một hòn núi con đối diện với hòn Hổ-sơn bên ta. Vào trong đền thấy tại căn Chánh điện, trên bàn thờ có cái tượng ngồi lớn bằng đứa trẻ lối 12, 13 tuổi, chơn mặt đạp trên lưng tượng đứa nhỏ chừng bằng đứa con nít mới đẻ được vài tháng. Tượng đứa nhỏ này, nằm sấp ngóc đầu lên và le lưỡi ra. Tượng lớn tay cầm cây đoản giơ lên, một tay nắm tóc cái tượng nhỏ. Trước bàn thờ có treo một tấm hoành thêu bốn chữ: “Oai trấn Nam bang”. Tưởng không cần cắt nghĩa, người mình ai xem cái tượng nhỏ cũng biết ngay là để ám chỉ vào nước Nam ta.
 

Chúng tôi còn đang đứng xem hình Mã Viện, ông Turion đi ngay lại ông Từ, dùng tiếng Quảng-đông nói chuyện với ông nầy rất lâu. Một lát sau bỉ nhơn hỏi ông Quan-ba nói chi với ông Từ, thì ông thuật lại cho bỉ nhơn nghe như vầy: Cách 18 tháng trước đó, trong lúc ông còn làm Quan hai trên chiếc tuần dương hạm, nhơn một lúc tàu về tập dượt tại vịnh Hải-long, ông có đến miễu này quan sát, thấy tượng Mã Viện và tấm hoành có cái ý nghĩa miệt thị nước Nam như thế nên ông có yêu cầu ông Từ dẹp tấm hoành đi, ông Từ đã hứa dẹp, nhưng đến ngày nay cũng không dẹp. Ông hỏi tại sao vậy, thì ông Từ nói: “Đền Mã Viện ngày nay đã thuộc về Chánh phủ Trung-huê làm chủ; nếu ông Turion muốn dẹp bỏ tấm hoành thì phải đến xin phép quan Doanh-trưởng mới được”.

Nghe vậy, ông Turion, ông Rotily và bỉ nhơn liền trở lại dinh quan Doanh-trưởng. Đến nơi ông Turion nói với quan Doanh-trưởng như vầy: “Thưa ngài, tôi nghe nói cái tượng Mã Viện và tấm hoành để thờ tại đền Mã Viện đó, là của Mã Viện tạo ra khi nước Tàu và nước Nam có việc bất hòa với nhau; ngày nay ông Mã Viện đã du tiên mà quí quốc và nước An Nam đã trở lại thân thiện với nhau lâu rồi. Nếu Quan lớn còn để tấm hoành và cái tượng như vậy hoài thì khó coi quá; tôi tưởng Quan lớn nên vị cái tình lân bang với nước An Nam, là nước của Đại Pháp bảo hộ, xuống lịnh dạy dẹp bỏ cái tượng và tấm hoành kia đi, thì chúng tôi cảm ơn Quan lớn biết dường nào”.

Ông Doanh trưởng suy nghĩ một chập, rồi trả lời với ông Turion như vầy: “Miếu Mã Viện thuộc về ngôi cổ miếu, để tôi hỏi lại ý kiến của vài ông kỳ lão tại đây, rồi sẽ cho quí chức hay, dầu thế nào chúng tôi cũng ráng làm vừa ý quí chức”.
 

Ông Turion để lời cám ơn trước quan Doanh trưởng, kế đó chúng tôi xin kiếu xuống tàu. Qua tháng sau chúng tôi trở lại đền Mã Viện, thấy tượng vẫn còn y như cũ, nhưng tấm hoành đa thay mới, lại có đổi chữ bang ra chữ biên, thành ra: Oai trấn Nam biên.
 

Thấy ông Turion đọc 4 chữ: “Oai trấn Nam biên”, rồi cười và khen khéo sửa nên bỉ nhơn liền hỏi: “Thưa ông Quan ba, cái tượng của Mã Viện đạp trên lưng chúng tôi còn đứng y nguyên tại giữa miễu đó, cớ sao ngài cười và dường như được thỏa nguyện?”
 

Ông Turion: “Cái tượng Mã Viện và thằng bé kia, bất quá là hai cái tượng bằng gỗ sơn đỏ đen vậy thôi, chớ có quan hệ gì tới nước An Nam. Chúng ta có trách người Tàu được là tại tấm hoành có chữ Nam bang kia. Ngày nay họ đã sửa chữ bang ra chữ biên rồi thì chúng ta chẳng còn chỗ nào mà trách họ được nữa; bởi vì Nam bang là nước Nam còn Nam biên là biên giới phía nam nước Tàu của họ kia mà”.
 

Còn về sự tôi cười là tại lẽ ngày: “Nguyên khi Mã Viện dạy khắc 6 chữ “ĐỒNG TRỤ CHIẾT GIAO CHỈ DIỆT”, vào cây súng đồng cậm tại biên giới thì va sợ người Giao chỉ (An Nam) không hiểu, nên va có cắt nghĩa cho người An Nam biết rằng; 6 chữ đó là va nói với người Giao chỉ, nếu ai nhổ mất trụ đồng thì va sẽ trở qua giết hết người Giao chỉ. Vậy mà đến khi người An Nam nhổ trụ đồng của va đem bán cho thợ đúc chuông. (Đây là do theo lời của quan Thái thú đương lúc ấy, bẩm tấu về cho Mã Viện hay như vậy) va không trở qua giết hết người Giao chỉ mà va lại trả thù bằng cách tạo ra cái tượng của va đạp trên lưng người Giao chỉ; nhưng ngày nay lại thành ra va đạp trên lưng đồng bào của va. Tôi cười là tại vậy đó”.
 

Đọc chuyện này, những người Nam có trí phán đoán, chắc ai ai cũng muốn hỏi: Mã Viện là tay thượng tướng của nước Đại Trung Quốc, 400 triệu dân, dầu có đánh thắng nước Nam ta mấy trăm trận cũng chẳng phải là giỏi giắn gì, cớ sao Mã Viện lại làm ra cái tượng quái gở như thế, để khoe khoang?
 

Ông Turion nhờ có xem Chính sử của Tàu nên mới biết rõ nguyên nhân của cái tượng là như vầy:
 

Hồi đời Đông Hán, bên Tàu, nhơn một buổi bàn luận quốc sự, vua Quan Vũ nhớ lại chuyện bà Trưng Trắc dấy loạn giết Tô Định nên liền sai Mã Viện qua Bắc Kỳ dẹp loạn. Dẹp xong, Mã Viện về tới biên giới, muốn dựng một cây trụ đồng để kỷ niệm cuộc thắng trận của va và cũng để hăm dọa người An Nam luôn thể, nhưng vì đang đi giữa đường làm sao đúc trụ đồng được; bởi vậy Mã Viện mới bảo lấy một cây súng đồng, dài lối 1 trước rưỡi, là thứ súng va có đem theo để dẹp loạn, giũa bằng mặt một khoản gần trên đầu súng và chạm vào 6 chữ: Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt; đoạn va bảo thợ lấy một viên đá lớn, đục một cái lỗ rồi cậm cây súng đồng vào. Nhưng vì súng vắn quá, không thể để ngay tại mặt đất được, nên Mã Viện phải bắt quân lính, vác đá chất thành một đống lớn, cao hơn 3 thước, đoạn va dạy đem cây súng để lên trên đầu đống đá đó. Kế vài tháng sau bị bọn dư đảng của Hai Bà Trưng nhổ súng liệng mất.
 

Đến chừng Mã Viện hay chuyện như vậy, va tức giận quá, quyết lòng trả thù, nên mới bảo thợ tạo ra cái tượng ghê gớm và tấm hoành thị oai như thế kia, để thay cho cây trụ đồng, đặng điếm nhục nước Việt Nam ta đó.
 

Có lẽ sau khi cây súng đồng bị nhổ liệng mất, rồi có người đến biên giới không thấy trụ đồng, chỉ thấy đống đá cao lớn kia thì họ tưởng cây trụ đồng đã bị đống đá chôn mất. Từ đó về sau họ đồn ra mãi, thế là cái tin cây trụ đồng bị chôn mất, được cả thảy người Việt Nam đều công nhận; bởi vậy lâu nay hễ nói đến chuyện trụ đồng của Mã Viện, thì người mình đều quả quyết rằng: nó đã bị đá của đồng bào chúng ta đến biên giới lượm liệng vào nên đã lấp mất rồi.
 

Ông Turion nói: “Chỗ cắm trụ đồng là nơi núi non vắng vẻ, có ai đi đến đó làm gì mà lượm đá liệng vào cho đến nỗi lấp mất trụ đồng được; đã vậy mà lúc bấy giờ người An Nam đương oán thù Mã Viện dữ lắm, thì có ai dại gì lại lượm đá liệng vào đặng bảo tồn cho cây trụ đồng của va, có cái ý nghĩa điếm nhục nước mình?”
 

Tại miễu Mã Viện còn một chuyện lạ này; xin thuật luôn ra đây để các bạn đọc chơi giải buồn.
 

Nguyên khi xem xét phía trước miễu rồi, bỉ nhơn nhìn ra phía sau vách, đâu lưng với tượng Mã Viện tướng quân, thấy có cái bàn thờ một bức họa hình người đàn bà rất xinh xắn. Ban đầu bỉ nhơn tưởng là hình bà Quan âm, đến chừng lại gần nhìn kỹ, té ra không phải. Cậy ông Turion hỏi, ông Từ trả lời rằng: “Bức hình đó là hình nàng Đắt Kỷ, ấy là một bức họa gia bửu, đã lưu truyền nhiều đời trong thân tộc của một bà mạng phụ hồi Thanh triều, hiện giờ bà cũng ở tại Đông-hưng này. Không rõ tại sao mấy lúc nay, tấm hình Đắt Kỷ đó dường như hóa ra linh ứng. Hễ ai muốn thấy nàng thì nhang đèn cầu xin, ắt sẽ chiêm bao thấy nàng về nói chuyện với mình rất vui vẻ, còn ai vô lễ nói xúc phạm khinh khi thì nàng về la rầy dữ lắm. Bởi có việc lạ như vậy, bà mạng phụ mới đem bức hình Đắt Kỷ cúng vào chùa, nên tôi mới để thờ tại đó”.
 

Nghe vậy bỉ nhơn rất mừng, vì muốn gặp cho được Đắt Kỷ, dầu nàng có rầy la bao nhiêu cũng không sao, nên bỉ nhơn mua nhang đèn đốt lên và lấy giấy viết vào một câu: “Vong thương tội chết đã đành, còn khoe nghiêng nước nghiêng thành với ai?”. Đoạn bỉ nhơn đem dán lên lư hương thờ Đắt Kỷ, nhưng sợ nàng không hiểu tiếng An Nam, bỉ nhơn bèn cậy ông Turion cắt nghĩa ra tiếng Quảng-đông. Kế đó chúng tôi nhờ một đứa bạn làm đèn giội cho ông Từ dắt tới nhà bà mạng phụ, hỏi thăm về sự linh ứng của bức họa hình Đắt Kỷ, thì bà cũng nói y như lời ông Từ đã thuật cho chúng tôi nghe.
 

Nhơn thấy bà mạng phụ và mấy người phụ nữ ở nhà bà đều bó cẳng nhỏ xíu. Bỉ nhơn hỏi họ bó cẳng chi vậy, ông Turion trả lời: “Đặng cho họ đừng chạy được”.
 

Từ giã bà mạng phụ, chúng tôi thả dong chơi một lát rồi xuống tàu. Tối đi ngủ, bỉ nhơn vẫn tin chắc sẽ gặp Đắt Kỷ về rầy lung; nhưng ngủ tới sáng bét, chuông dưới tàu đã kêu dùng điểm tâm, mà bỉ nhơn chẳng thấy ma nào về rầy la chi.
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
BÌNH PHƯỚC, Việt Nam (NV) – Một ngày sau vụ ông Lương Hữu Phước nhảy lầu tự sát ngay tại Tòa Án Nhân Dân tỉnh Bình Phước, báo Thanh Niên có bài viết khẳng định “Một sự trùng hợp đến kỳ lạ, Thẩm Phán Lê Viết Hòa, phó chánh án Tòa Án Nhân Dân tỉnh Bình Phước, tham gia xét xử phúc thẩm hai vụ án đều có người tự sát.” Hôm 30 Tháng Năm, cuộc họp báo do Ban Tuyên Giáo tỉnh Bình Phước tổ chức nhằm bênh vực Hội Đồng Xét Xử của phiên tòa khiến ông Lương Hữu Phước (55 tuổi, ngụ thành phố Đồng Xoài) tự tử tại sân tòa sau khi bị tòa án tỉnh tuyên y án sơ thẩm 3 năm tù, trở thành cuộc “vạch mặt” Thẩm Phán Lê Viết Hòa. Vài giờ trước khi tự kết liễu mạng sống, ông Phước bị tòa tuyên y án sơ thẩm 3 năm tù với cáo buộc “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.”
Vì sao thu 4 chiếc nhẫn của em gái Hải để làm tang vật? Trong vụ án bưu điện Cầu Voi, tối 21/3/2008, công an ập vào nhà Hải thu giữ 4 chiếc nhẫn của Hồ Thị Thu Thủy để làm tang vật. Đúng 3 tháng sau, ngày 21/6/2008, công an lấy lời khai của anh Nguyễn Mi Sol, và anh khai anh mua tặng nạn nhân... đúng 4 chiếc. Về số lượng, con số anh Sol khai khớp với con số thu của Thủy! Điều kỳ lạ là, bản án sau đó khi tuyên tử hình Hải lại trả cho em Hải đến... 6 chiếc nhẫn!
Trương Châu Hữu Danh Trong các vụ án mà chứng cớ buộc tội còn mâu thuẫn, lỏng lẻo, người văn minh, lý trí sẽ suy đoán theo hướng gỡ tội, kẻ tàn độc, nghiệt ác sẽ nghĩ theo hướng buộc tội. Trong vụ án Bưu điện Cầu Voi, để củng cố (hay câu views, like, share) cho suy đoán buộc tội tàn độc của mình, kẻ nghiệt ác lập lờ tung ra những thông tin vốn sẵn trong kết luận điều tra, cáo trạng, bản án có đầy trên báo chí, tô vẽ cho ly kỳ, hấp dẫn, như là bản thân đã xác minh, kiểm chứng trọn vẹn... để lừa dối đám đông không có thời gian, điều kiện để tìm, kiểm chứng thông tin.
Trong suốt hơn 10 năm theo đuổi vụ kiện Bưu cục Cầu Voi để bảo vệ cho bị án Hồ Duy Hải tưởng đã đọc hết mọi hồ sơ vụ án, nhưng luật sư Trần Hồng Phong chưa bao giờ nghe đến cái tên Đinh Văn Còi và Lê Thanh Trí. Không có bất kỳ trang hồ sơ nào nhắc đến hai nhân vật này. Hai cái tên này đột ngột xuất hiện một cách bí hiểm trong vai nhân chứng với lời khai về đêm xảy ra thảm án. Theo đó, cả hai đều đã nhìn thấy một thanh niên ngồi với hai nạn nhân trong bưu cục trong khoảng thời gian từ 19:40 - 20:00.
Phạm Minh Vũ Khương Ngọc Chất sinh năm 1975, là thượng tá An ninh, y bị bắt ngày 14-09-2019 khi đó y đang là trưởng phòng an ninh chính trị nội bộ tỉnh Hoà Bình. Y bị bắt và ra toà liên quan việc y chỉ đạo nâng điểm thi con của một số lãnh đạo công an tỉnh này trong kỳ thi đại học 2018. Số tuổi đang còn rất trẻ mà chức vụ y đang giữ phải nói tương lai của Y rất rộng mở, đồng nghĩa với việc y phải có nợ máu gì đó với dân.
TUYÊN BỐ ĐÒI LÀM RÕ SỰ THẬT VỀ VỤ ÁN HỒ DUY HẢI Để cứu lấy Hồ Duy Hải, để Luật pháp nhà nước được thực thi công chính không gây oan sai cho người vô tội, đồng thời trừng trị đích đáng kẻ có tội ở bất cứ cương vị nào, và Thật sự không có “ vùng cấm”, biến vụ án thành một vụ xét xử tiêu biểu ngỏ hầu tránh được những oan sai tương tự có thể xãy ra sau này. Chúng tôi kêu gọi quý vị , các bạn thanh niên tham gia ký tuyên bố này . Xin soạn: Tên họ - Nghề nghiệp - Chức danh (nếu có) – Tên Thành phố cư ngụ (Nếu ở ngoài Việt Nam, vui lòng ghi thêm tên Quốc gia) gởi về cho chúng tôi, Email: tuyenbohdh@gmail.com. Xin chân thành cám ơn
Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam - Trong những ngày vừa qua, không ai là không biết chủ quyền đất nước đang lâm nguy: Trung Quốc ngang ngược xâm lấn biển đảo, gây hấn, húc chìm tàu cá ngư dân Việt Nam; Cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt trên ngư trường biển Việt; Công bố cái gọi là “danh xưng tiêu chuẩn” của hàng chục đảo, bãi cạn trên Biển Đông, bao gồm những thực thể nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; Thành lập cái gọi là “quận đảo” Tây Sa và Nam Sa để “quản lý” quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam; Viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, đe dọa dùng vũ lực, yêu cầu Việt Nam rút khỏi quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – một phần không thể tách rời của tổ quốc Việt Nam với cái gọi là “Đường Chín Đoạn (Nine-dash line)”, “Đường Chữ U”, “Đường Chín Khúc”, “Đường Lưỡi Bò”!
Xung quanh ngày 30 tháng Tư này có nhiều chuyện hài, nhưng không phải mang lại tiếng cười sảng khoái hài hước dân gian, mà là những chuyện hài đầy mỉa mai khinh bỉ và đáng bị lên án của một số kẻ có chức có quyền, có địa vị của “Bên thắng cuộc”, đã bịa đặt và xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn, trơ trẽn và vô liêm sỉ, vơ thành tích của kẻ khác làm thành tích của mình để từ đó chui sâu leo cao lên những nấc thang quyền lực. Có thể nói đây cũng là một dạng tham nhũng, là tham nhũng thành tích, từ chỗ có thành tích cùng với nghệ thuật lươn lẹo bậc thầy, một số họ đã nhờ đó tô vẽ cho mình ánh hào quang lấp lánh về những “chiến công hiển hách vang dội” để lòe bịp thiên hạ và “làm rạng rỡ trang sử vàng oanh liệt”của kẻ chiến thắng.
- HCM xuống tầu đi tìm việc làm cho Tây thì họ gọi là “xuống tầu tìm đường cứu nước”! - Giật mìn xe khách, pháo kích bừa bãi vào nhà dân, đặt chất nổ nơi đông người, bắt cóc, thủ tiêu, khủng bố… chúng gọi là “hoạt động cách mạng”. - Dùng vũ lực súng đạn giết dân chúng gọi là “giải phóng nhân dân” - Để cướp đất đai của các điền chủ, chúng gọi là “Cải cách ruộng đất”. - Ngày nay để cướp đất toàn dân chúng gọi là “KHU QUY HOẠCH” " Cưỡng chế " - Đập phá nhà dân oan chúng gọi là “giải phóng mặt bằng”. - Muốn cướp tài sản của các thương gia, chúng gọi là “Đánh tư sản mại bản”.
... Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ.<post 25 Tháng Hai 2015 (Xem: 2087).>
Bảo Trợ