Công Bằng Với Lịch Sử

17 Tháng Hai 20192:06 SA(Xem: 443)

CÔNG BẰNG VỚI LỊCH SỬ

biengioi tau viet war
Luân Lê
CÔNG BẰNG VỚI LỊCH SỬ
Chính vì vấn đề không trung thực và đối xử bình đẳng với lịch sử mới đem tới những phẫn nộ của người dân.

Một đoạn trường lịch sử đau thương và hào hùng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc trước cuộc xâm lăng của Trung Quốc, một cuộc chiến phi nghĩa và với nhiều mục đích chính trị, kinh tế riêng của Đảng cộng sản nước này. Nhưng khoảng lịch sử này lại vắng mặt trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, gần 40 năm bị lãng quên và không hiểu lý do nào khiến những xương máu của đồng bào chết cho quê hương, đất nước phải bị đối xử như vậy?

Nhiều thế hệ đã có một khoảng trắng trong cuộn phim lịch sử. Ngay những bia tưởng niệm các liệt sỹ trong cuộc chiến vệ quốc này cũng không ghi tên kẻ bá quyền xâm lược mà ghi “trong thời kỳ biên giới”, một khái niệm vô nghĩa về mặt định danh và liên kết, vì không có thời kỳ nào là thời kỳ biên giới, mà phải là một đại từ chủ thể chứ không thể thay thế bằng một danh từ địa giới. Đây là cuộc chiến lịch sử đau thương nhưng hào hùng, nhưng không được gọi tên và không được nhắc đến như một sự cấm kỵ. Không tài liệu, chứng tích nào được công khai và cũng không một nhân vật nào viết về giai đoạn này để truyền dạy, nhắc nhở con cháu tưởng nhớ, ghi ơn và làm bài học cho mình.

blank

blank


Sự đối xử không công bằng không chỉ đối với giai đoạn lịch sử đó, với những hy sinh và mất mát của đồng bào, với lãnh thổ có thể bị xê dịch, lấn chiếm, mà còn là đối với những giai đoạn lịch sử khác của chính dân tộc mình.

Đó là những dòng sử luôn được hô vang và tự hào, ngợi ca một cách không ngơi nghỉ và bằng những cặp nghịch từ đối lập với đủ các sắc thái. Vừa tụng ca chiến thắng, vừa miệt thị, xúc phạm, sỉ nhục một nửa dân tộc trong chế độ cộng hoà ở phía Nam. Vừa ăn mừng chiến thắng kỳ diệu và thần thánh của chính mình, nhưng lại hạ bệ, rủa xả, nhạo báng những người ở bên kia chiến tuyến nhưng là người trong cùng một đất nước, một dân tộc. Những ngôn từ, thơ, ca, những dòng sử dạy trong các trường học gây chia rẽ, hận thù, hiềm khích, phỉ báng...vẫn được lặp đi lặp lại quá nhiều và liên tục không ngơi nghỉ, khiến bao nhiêu năm vết thương chiến tranh trong lòng dân tộc vẫn tổn thương, rỉ máu.

Không chỉ vậy, những dòng sử sỉ nhục, miệt thị thậm tệ nhất cũng được dành cho cả quân Mỹ, người Mỹ, với những tội ác không thể nào dung thứ, không thể nào man rợ hơn được nữa. Những kẻ viết sử, dạy sử, làm thơ, viết nhạc, vẫn kết tội Mỹ bằng những ngôn từ kinh hãi và ác độc nhất, họ vẫn đối xử với chính quyền Mỹ bằng một con mắt hằn học, đầy ác cảm, phẫn nộ, ghẻ lạnh. Họ không ngại chỉ mặt đặt tên và phán xét hoặc so sánh họ với những thứ ghê gớm nhất.

Trong khi đó, 40 năm như cố lãng quên lịch sử vệ quốc của dân tộc, đến nay họ còn không dám gọi tên một chính quyền đã hung hãn xâm lăng đất nước mình mà chẳng vì một lý do gì cụ thể. Họ kêu gọi hoà hợp, hoà giải với cả những mối quan hệ quốc tế, đặt vào trong tương quan hai quốc gia láng giềng chung biên giới, nhưng họ quên đi cuộc hoà giải vĩ đại nhất, đó chính là người trong cùng một dân tộc thông qua lịch sử đã từng bị phân chia trong quá khứ và với những nền văn minh phát triển vượt bậc khác.

Thử nhìn xem, những người lính đã hy sinh, những người dân lành vô tội, cả phụ nữ, người già và trẻ em, đều bị tàn sát một cách man rợ không thương tiếc. Những cảnh giết chóc, cướp bóc, cưỡng hiếp, trên chính mảnh đất máu thịt của quê hương, sau những luỹ tre, trên những đồi trống, hầm trú, nhà tranh, bờ ruộng, nương rẫy. Ở đâu cũng vấy máu và chất chứa tội ác của chúng. Nhưng ta không dám nhắc đến tên của kẻ xâm lăng cướp đi tương lai và bình yên, cuộc sống của hàng vạn người của dân tộc và trên lãnh thổ nước mình.

Những đám người này họ sợ gì vậy? Họ ám ảnh và nhục hèn với quá khứ hào hùng, với sự hy sinh cao cả và thiêng liêng của những người lính anh dũng, những đồng bào bất hạnh? Họ cần tình hữu nghị trong hiện tại được xây dựng trên những nấm mồ tập thể và dòng sông tang thương bị lãng quên và không được nhắc tới? Thậm chí họ cần phải được bàn bạc và thảo luận với kẻ đã gieo rắc chết chóc cho dân ta trước rồi mới dám viết ra? Chúng đang mặc cả với lịch sử và sự hy sinh của đồng bào, của dân tộc.

Tình bạn nếu có, phải được xây dựng và giao tế bằng sự công bằng với cả hai, và dựa trên sự tôn trọng dành cho nhau, trong đó có cả quá khứ như nó phải là mà nó đã từng xảy ra.

Người Mỹ và Nhật vẫn cùng nhau tưởng niệm những người đã chết trong trận chiến Trân Châu Cảng năm 1941 cũng như cuộc thế chiến thứ 2 vô nghĩa được kết thúc bằng 2 quả bom nguyên tử của Mỹ và người Nhật vẫn cúi đầu thừa nhận lỗi lầm và tội ác do mình gây ra, và do đó, họ nhận được sự tôn trọng cao nhất và thiện tâm nhất từ người Mỹ. Và vào đúng ngày diễn ra sự kiện mỗi năm, người Mỹ lại cùng người Nhật tưởng niệm lịch sử đau thương này để răn mình và làm tốt đẹp hơn mối quan hệ của hai quốc gia trong hiện tại.

Nhưng thử hỏi: Trung Quốc đã khi nào cúi đầu xin lỗi người Việt chúng ta chưa?
Blog Teu
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.
Và thế là có thể thấy người Việt Nam sẽ còn đau khổ dài dài vì chuyện thăng quan tiến chức thiếu công khai nên rất dễ bị dư luận gộp chung vào những vụ mua quan bán chức đầy dẫy khác, mà nguyên nhân sâu xa chỉ có một: cách thức đề bạt người gánh vác sơn hà.
Trước những cảnh báo về viễn cảnh Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Trung Quốc, trí thức trong nước đành giữ sự im lặng bởi lo sợ bị đàn áp, trù dập hay thậm chí giam giữ. Chính quyền đã tỏ ra rất cứng rắn trong việc giữ vững lập trường của mình, dù lập trường này sẽ gây thiệt hại cho đất nước bất kể Việt Nam sẽ trở thành Tây Tạng hay Duy Ngô Nhĩ thứ hai không còn xa vời như người ta nghĩ.
Cô Lô Thanh Thảo, người bị bắt từ tháng 3/2012, vừa bị mang ra xét xử tại TP.HCM với cáo buộc "Tuyên truyền chống phá nhà nước" theo điều 88 Bộ luật hình sự. Trong phiên tòa sơ thẩm gói gọn trong một buổi sáng vào hôm 8/1, Tòa Án Nhân dân TP.HCM kết án cô Lô Thanh Thảo 3 năm 6 tháng tù giam, cùng 2 năm quản chế sau khi ra tù.
Chuyện nghe theo phần lớn là lời kể lại : Nhà nước thu hồi đất ruộng của dân. Với giá : 48 tr / sào (Cái này tra google có) Đem bán lại cho tư nhân 5-600 tr / suất (Cái này nghe dân nói) Một số hộ dân đã nhận đền bù. Một số thì không. Vác đơn đi kiện (Cái này chuẩn 100% vì đã từng nhìn thấy tận mắt)
Nội dung các bản tin cải táng hài cốt Lê Đình Chinh có những nét chính rất giống nhau có vẻ như dựa theo một nguồn cung cấp phần căn bản. Các chi tiết riêng không bao nhiêu khác nhau nhưng có điều lạ là cách gọi tên “kẻ xâm lược”. Chỉ có tờ Thanh Niên nói Lê Đình Chinh “đã hy sinh tại biên giới phía Bắc khi đang chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc”.
“Tôi muốn gởi những dòng cuối này đến anh Nguyễn Phú Trọng, với tư cách là đồng môn – tôi học trước anh hai khoá. Tuy là học một trường, nhưng tôi và anh có hai cách tiếp cận khác về CNXH. Tôi nghiêng về CNXH dân chủ của Lassall, còn anh theo CNXH bạo lực của Lénin.” “Bạn bè chúng ta thời đại học nói với tôi rằng kể từ khi anh lên chức TBT đã có hơn 50 người yêu nước bị làm khó dễ, bị bắt, bị giam cầm vì nhiều lý do vu vơ.”
Rita Klimova là người đặt tên "Cách mạng Nhung". Bà từng làm giảng viên chính trị học tại Đại học Charles cổ kính ở thủ đô Praha, và cũng là phát ngôn viên vô cùng uyên bác của phe đối lập, lực lượng đã truất phế quyền lực của những người cộng sản Tiệp Khắc. Vóc nhỏ nhắn, tóc vàng óng, Klimova nói tiếng Anh cực chuẩn với giọng Manhattan có đôi chỗ chèn thành ngữ West Side. Số là vì lúc còn bé, bà đã từng đi học ở New York, nơi người cha, nhà văn cánh tả Batya Bat, đến định cư sau khi đào thoát khỏi Đức Quốc xã năm 1938. Khi thế chiến kết thúc, gia đình bà trở về Praha.
Hà Nội – Thượng tuần tháng 10/1962, Giáo Hội Công Giáo sống trong bầu khí phấn khởi, vui tươi, hòa ái. Công Đồng Vatican II khai mạc. Mọi người đều hy vọng Công Đồng, theo chỉ đạo của Đức Gioan XXIII, sẽ về nguồn Đức Tin và từ đó đến với người thời đại (aggiornamento). Giáo Hội sẽ trẻ trung và đầy sức sống, góp phần quan trọng làm cho thế giới tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.
Kết thúc năm 2012, không khí chính trị ở Việt Nam tăng độ nóng với nhiều phát biểu ở cấp cao thể hiện sự lo ngại về nguy cơ ‘tự diễn biến’ và sự tan rã của mô hình ‘xã hội chủ nghĩa’.
Bảo Trợ