Văn hoá từ chức

25 Tháng Tư 20142:00 CH(Xem: 1423)
Nhiều người công khai lên tiếng kêu gọi Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức với hai lý do chính: Một, sự bất lực của bà trước những sự thất bại nghiêm trọng của Bộ; hai là, những cách trả lời ngô nghê, thậm chí vô cảm của bà trước sinh mệnh của dân chúng.
Nhiều người công khai lên tiếng kêu gọi Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức với hai lý do chính: Một, sự bất lực của bà trước những sự thất bại nghiêm trọng của Bộ; hai là, những cách trả lời ngô nghê, thậm chí vô cảm của bà trước sinh mệnh của dân chúng.
Từ hai năm nay, dư luận dân chúng tại Việt Nam, đặc biệt trên các mạng truyền thông xã hội, chú ý một cách đặc biệt vào Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. Nhiều người công khai lên tiếng kêu gọi bà từ chức với hai lý do chính: Một, sự bất lực của bà trước những sự thất bại nghiêm trọng của Bộ (ví dụ, việc ngăn chận tham nhũng trong các bệnh viện, các phản ứng vụng về và bất lực trước nạn tiêm nhầm thuốc khiến trẻ em bị chết và gần đây nhất, cách đối phó với dịch sởi làm chết hơn 100 trẻ em và hàng ngàn trẻ em khác đang nằm la liệt trong các bệnh viện, v.v…); hai là, những cách trả lời ngô nghê, thậm chí vô cảm của bà trước sinh mệnh của dân chúng trong phạm vi trách nhiệm của bà.

Ai gào la thì mặc, bà vẫn “kiên quyết” không từ chức. Mà, thật ra, không riêng gì bà Kim Tiến. Hầu hết các Bộ trưởng tại Việt Nam, thậm chí, cả chính phủ Việt Nam, kể cả những người đứng ở vị trí cao nhất, từ Tổng bí thư đến Chủ tịch nước và Thủ tướng, từ trước đến nay, dù vẫn phạm vô số sai lầm, nhưng cũng chưa có ai từ chức cả. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lúc đã về hưu, thường than thở là trên thế giới chưa ai làm Thủ tướng lâu như ông và cũng chưa có Thủ tướng nào ít quyền lực như ông; ít đến độ, suốt cả mấy chục năm, ông chưa hề, thực chất là không thể, bãi nhiệm bất cứ một viên chức nào dưới quyền: Đó là công việc của đảng! Vậy mà ông vẫn “cắn răng” cam chịu và tiếp tục ngồi trên ghế Thủ tướng suốt cả 32 năm (1955-1987). Gần đây, Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng cũng nhiều lần than thở y như Phạm Văn Đồng, nhưng ông cũng không từ chức. Có lần, bị tra hỏi, ông đáp: Ông được đảng phân công, do đó, ông phải tiếp tục.

Ở đây, chúng ta thấy có hai vấn đề: Một, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, từ trước đến nay, chỉ có hiện tượng bãi chức hay thuyên chuyển từ chức vụ này sang chức vụ khác chứ chưa hề có hiện tượng từ chức. Hiện tượng nhất định không từ chức này phổ biến đến độ người ta gọi đó là một thứ văn hóa: văn hóa không từ chức, hoặc, diễn tả một cách khác: Việt Nam chưa có cái gọi là văn hóa từ chức. Và hai, trong cơ chế công quyền ở Việt Nam, trách nhiệm của cá nhân hầu như chưa có: Toàn bộ việc quyết định bổ nhiệm hay sa thải đều nằm hết trong tay của đảng. Ngay cả với những người bất tài và bất lực, nếu đảng chưa quyết định thuyên chuyển hay cách chức, người ta vẫn tiếp tục giữ chiếc ghế của mình dù không làm gì cả hoặc nếu làm, làm một cách qua loa, dối dá, vô hiệu quả, bất chấp sự khinh bỉ của dân chúng.

Xin nói về vấn đề thứ hai trước.

Thật ra, ở Tây phương, bất cứ chiếc ghế nào trong chính phủ cũng xuất phát từ việc bổ nhiệm. Người đứng đầu chính phủ (hoặc Tổng thống hoặc Thủ tướng) là do dân chúng bổ nhiệm qua các cuộc bầu cử. Các chức vụ phía dưới đều cho Tổng thống hoặc Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm (có nơi, ví dụ ở Mỹ, với một số chức vụ quan trọng, cần sự chấp thuận của Quốc Hội). Ở cả hai cấp, người ta đều chịu trách nhiệm trước dân chúng và trước đảng của họ. Với tinh thần trách nhiệm ấy, người ta thường từ chức với một trong hai hoặc với cả hai lý do: Một, khi không còn được đảng tín nhiệm; và hai, khi đối diện với nguy cơ mất tín nhiệm của quần chúng. Nếu một quan chức nào đó, vì bất lực hoặc vì một sai phạm nghiêm trọng nào đó có thể gây ảnh hưởng tai hại đối với chính phủ hoặc đảng, họ có thể tự nguyện từ chức hoặc bị cách chức. Hai hình thức từ chức và cách chức có khi chỉ là một: đánh hơi được là sẽ bị cách chức, người ta tự ý xin từ chức trước, hoặc để bảo vệ danh dự của người ấy, thủ lãnh của họ có thể yêu cầu họ từ chức, nếu không, sẽ bị cách chức.

Trong mọi trường hợp, một chính phủ dân chủ bao giờ cũng bị sức ép của dân chúng để phải, một, thực hiện tất cả những gì mình từng hứa hẹn bằng cách tìm kiếm và sử dụng những người tài năng nhất trong mỗi chức vụ; và hai, công minh và nghiêm túc trong việc thưởng phạt để tránh bị dân chúng trừng phạt trong cuộc bầu cử kế tiếp. Trong suốt cả thời gian cầm quyền, bất cứ chính phủ dân chủ nào cũng đều bị theo dõi và kiểm soát nghiêm ngặt của giới truyền thông và đặc biệt, phe đối lập. Trước sức ép và những sự theo dõi ấy, không có sai lầm nào có thể bị bỏ qua; và vì không thể bỏ qua được, người ta chỉ có một trong hai lựa chọn: từ chức hoặc bị cách chức.

Ở Việt Nam, mọi quan chức chỉ chịu trách nhiệm trước đảng chứ không hề chịu trách nhiệm trước dân chúng; và đảng Cộng sản, vì không do dân bầu, nên không hề và cũng không cần chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thành ra, từ góc độ cá nhân cũng như từ góc độ tập thể, không ai chịu trách nhiệm với ai cả. Không ai từ chức là vì thế. Người ta chỉ thuyên chuyển công tác. Và việc thuyên chuyển ấy chỉ là việc tái bố trí lực lượng trong nội bộ đảng nên không hiếm trường hợp: một người phạm sai lầm ở chức vụ này được thuyên chuyển sang một chức vụ khác, có khi còn cao hơn hẳn chức vụ cũ. Cho nên việc không từ chức và hiếm bị cách chức ở Việt Nam phản ánh một điều: nhà cầm quyền không cần giữ niềm tin của dân chúng, hay nói cách khác, bất cần dân chúng.

Chính đây là nguyên nhân dẫn đến vấn đề thứ nhất tôi nêu ở trên: Việt Nam chưa có, hoặc không có, văn hóa từ chức. Nói đến văn hóa là nói đến một cái gì sâu xa hơn những hiện tượng vào/ra, lên/xuống những chiếc ghế trong chính phủ. Nó là một nét trong cách suy nghĩ và, từ đó, hành xử của con người. Nó gắn liền với ý niệm về trách nhiệm và danh dự cũng như, rộng hơn, ý niệm về các chuẩn mực đạo đức trong xã hội.

Thứ nhất, việc thiếu văn hóa từ chức đồng nghĩa với việc thiếu tinh thần trách nhiệm. Đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội nói chung rất tự hào đã sáng chế ra nguyên tắc “làm chủ tập thể” nhưng họ lại không thấy, hoặc thấy nhưng làm ngơ, một mặt trái của nguyên tắc này: cuối cùng không ai chịu trách nhiệm về bất cứ một sai lầm nào cả. Thành công, người ta nhận công lao thuộc về mình; nhưng thất bại, người ta lại đổ hết cho tập thể; có điều, tập thể là một đám đông vô hình và vô cùng mơ hồ và trừu tượng. Đến lượt cái tập thể ấy đổ tội cho… lịch sử hoặc, nói theo chữ của Phạm Thị Hoài, khi bàn về vấn đề trí thức Việt Nam, cho “thằng khách quan” nào đó.

Thứ hai, quan trọng hơn, do thiếu ý thức trách nhiệm, người ta cũng mất hẳn ý thức về danh dự. Mất ý thức về danh dự, người ta cũng mất cả ý thức về sự xấu hổ. Ở Tây phương, khi một chính khách phạm sai lầm, dù rất nhỏ, ví dụ trường hợp Thủ hiến New South Wales Úc, ông Barry O’Farrell, mới đây, đã từ chức vì không khai báo món quà ông nhận được, một chai rượu đỏ hiệu Penfolds Grange trị giá 3000 đô theo luật định. Lỗi, thật ra, không lớn. Người ta có thể tự biện hộ một cách dễ dàng bằng một lý do khá chính đáng: quên. Mà dễ quên thật. Một lãnh tụ cỡ như vậy thường phải dự cả hàng chục cuộc họp mặt và nhận được cả chục món quà đủ loại mỗi tuần. Nhưng ông O’Farrell không sử dụng cách tự bào chữa ấy. Ông quyết định từ chức. Một là để bảo vệ uy tín của chính phủ và của đảng ông. Hai là vì… xấu hổ. Ở Việt Nam, ngược lại, dường như không có một lãnh tụ hay quan chức cao cấp nào có bất cứ một biểu hiện tự xấu hổ nào cả. Bị phê phán hay chửi bới đến mấy, họ cứ trơ ra, chờ thời gian làm mờ nhạt dần, và cuối cùng, mọi người đều quên lãng.

Nhưng khi làm vậy, họ lại xói mòn, nếu không muốn nói là làm sụp đổ, mọi chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Một xã hội bình thường bao giờ cũng có một số chuẩn mực nhất định để căn cứ vào đó người ta đánh giá và phân loại thiện/ác, tốt/xấu, hay/dở, những điều có thể chấp nhận được và những gì không thể chấp nhận. Ngày xưa, suốt cả ngàn năm, người ta viết những câu chuyện có hậu với kết thúc ở hiền gặp lành và ở dữ gặp dữ là vì vậy. Ngay cả ở Tây phương hiện nay, mỗi khi viết về những người thành công, ví dụ các tỉ phú - ở Việt Nam thường gọi là “đại gia” - người ta thường chỉ tập trung vào trí tuệ, tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của họ. Ở Việt Nam thì khác. Nhan nhản trong xã hội là hình ảnh những quan chức bất tài và bất lực, vô trách nhiệm và không có chút tự trọng nào, vẫn cứ ung dung ngồi trên những chiếc ghế cao ngất ngưởng, đi đâu cũng có thảm đỏ, người đưa kẻ đón, không những giàu có mà còn đầy quyền lực. Đối diện với những kẻ như vậy, tất cả những người thông minh, tài năng và cần cù nhưng thật thà, biết xấu hổ, lúc nào cũng muốn giữ gìn nhân cách và nhân phẩm, trở thành những kẻ thất bại, và không chừng, bị dư luận cho là dại dột.

Bởi vậy, trong một ý kiến ngắn đăng trên facebook mới đây, tôi viết:

“Nhiều người thừa nhận: Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Dường như chưa ai phủ nhận hay cãi lại. Nhưng đó chỉ là hiện tượng. Cần lưu ý, đằng sau sự thừa nhận ấy là hai sự thú nhận khác, quan trọng hơn: Một, Việt Nam thiếu một cơ chế thưởng phạt công minh để ngay cả những người bất tài, không xứng đáng hoặc vấp phải những sai lầm nghiêm trọng vẫn tiếp tục ngồi trên những chiếc ghế cao ngất ngưởng hầu tiếp tục phá hoại đất nước. Và hai, Việt Nam thiếu (hoặc đánh mất) một yếu tố cực kỳ cao quý không những đối với cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng: lòng tự trọng. Cái thiếu đầu là sự bất toàn về phương diện tổ chức và pháp lý. Cái thiếu sau là sự bất toàn về phương diện văn hóa và đạo đức. Hệ quả của cả hai cái thiếu ấy là sự sụp đổ của các bảng giá trị, hoặc đúng hơn, các chuẩn mực của giá trị. Khi các chuẩn mực bị sụp đổ, người ta - mọi người, bất kể là ai, dù có chức quyền hay không có chức quyền - không còn phân biệt được cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác, cái hay và cái dở: Cái hư ở trên, dù muốn hay không, cũng thấm dần xuống dưới. Xã hội, do đó, bị băng hoại tận đáy.”

Nhìn vấn đề như vậy, chúng ta dễ dàng trả lời câu hỏi nhiều người đặt ra: Tại sao xã hội, văn hóa, và đạo đức tại Việt Nam cứ mỗi ngày một băng hoại như vậy?

Câu trả lời: Bao giờ những người lãnh đạo các cấp chưa biết đến văn hóa từ chức, sự băng hoại ấy vẫn sẽ tiếp tục, hơn nữa, càng ngày càng trầm trọng hơn.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

blank

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21h15 : Bà con Đồng Tâm đón cô chú, anh chị em trở về từ phiên toà oan nghiệt đã ra viếng mộ cụ Kình ngay trong đêm. Tiếng khóc oán than xé thấu trời xanh ... Luân Lê NGƯỜI ĐỒNG TÂM Ngay tối nay, những người dân ở Đồng Tâm đã đón người thân ông Kình về và ra thắp hương cho ông. Rất đông người khóc thương bên mộ ông. Cũng như năm 2017, ông nằm trên giường trở về với cái chân gãy, dân Đồng Tâm đón ông trong sự vui mừng và chật kín người. Ông là cường hào ác bá ư? Người dân chân chất thật thà chắc hẳn không có tình cảm sai bao giờ. ___________
Sau 9 tháng xảy ra chiến công trên, sĩ quan an ninh trực tiếp tiêu diệt Lê Đình Kình, "tên trùm phản động gian ác với dân Đồng Tâm” lại không được biểu dương và trình thành tích cho chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tặng huân chương. Tại sao lại có sự bất công như vậy? Người tự rơi xuống hố như một tai nạn lại được chủ tịch nước thưởng huân chương chiến công trong khi đó "những người có chiến công thật sự" lại không được tuyên dương thành tích? Rất mong đại tướng Tô Lâm trả lời câu hỏi trên.
Vụ Đồng Tâm: LỜI KHAI CỤ HIỂU NGƯỢC HẲN KẾT LUẬN ĐIỀU TRA LỜI KHAI CỤ HIỂU NGƯỢC HẲN KẾT LUẬN ĐIỀU TRA Phạm Minh Vũ Theo bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng thì cụ Kình bị công an bắn hai phát từ phía sau lưng, cách chừng 2 – 2,5m, và đưa ra thêm vài chi tiết nói rằng cụ dùng dao tấn công làm cho cảnh sát bị thương, rồi trên tay cụ có lựu đạn nên buộc nổ súng tiêu diệt Cụ Kình là hợp pháp. Nhưng trên thực tế, ngày 03-09-2020, các luật sư bào chữa cho 21/29 bị can trong vụ án Đồng Tâm đã gửi một Đơn Kiến nghị đến tòa án, đặc biệt trong đó có nêu ra một số lời khai của ông Bùi Viết Hiểu khi gặp luật sư trong trại tạm giam. Ông Bùi Viết Hiểu nói với luật sư rằng: cụ Lê Đình Kình bị bắn ngay trước mặt ông “người bắn đứng trước cụ Kình khoảng 1m, nòng súng to như cổ tay, nhắm thẳng vào ngực cụ Kình. Cụ Kình ngã xuống, chết trước mặt tôi, sau đó chó nghiệp vụ vào kéo xác cụ Kình đi…”. Cũng theo lời khai của ông Bùi Viết Hiểu khi gặp luật sư trong trại tạm giam thì sa
Nguyễn Đình Trọng CẢM ƠN NƯỚC AUSTRALIA (ÚC) ĐÃ KỊP THỜI CHẶN ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA TRUNG QUỐC Nước Úc (Australia) thu hồi sách dạy tiếng Trung có 'đường lưỡi bò' 23 đoạn ăn vào sát đất liền Việt Nam. Quyển sách dạy tiếng Trung này đã được sử dụng tại ít nhất 11 trường ở bang Victoria (Úc), bao gồm cả các trường tư thục danh tiếng. Điều đáng nói là tấm bản đồ này "siêu dị" khi có tới 23 đoạn thay vì 9 đoạn như thường thấy, trong đó có có những đoạn ăn sát vào đất liền Việt Nam và bao trùm đảo Đài Loan. Giáo sư Rory Medcalf - người đứng đầu trường Cao đẳng an ninh quốc gia thuộc Đại học Quốc gia Úc - nhận định: "Rất dễ gây hiểu lầm khi miêu tả đường 9 đoạn như một bản đồ hợp pháp của Trung Quốc và khu vực". Theo ông Medcalf, việc để tấm bản đồ như vậy xuất hiện trong sách giáo khoa Úc không chỉ đi ngư
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đồng chủ trì hoạt động kỷ niệm 20 năm ký Hiệp ước Biên giới và 10 năm triển khai văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Các hoạt động Kỷ niệm 20 năm Việt Nam-Trung Quốc ký Hiệp ước Biên giới trên đất liền qua ảnh
75 năm trước, vào 2h chiều ngày 23 - 08 - 1945, một nhóm người vũ trang đi xe o-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, "mời" cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế. Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa. Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại. May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 - 12 - 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 - 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”. Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…”
Ngày 18/8 tại thị trấn Trâu Quỳ (huyện Gia Lâm, Hà Nội) sau khi phát hiện hiện một trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại khe tường giữa 2 ngôi nhà, người dân đã cố gắng cứu cháu bé, Một nam thanh niên đã đi mượn khoan để đục tường đưa bé ra ngoài. Tuy nhiên báo đảng đã đăng tin:. Công an đục tường giải cứu bé trai sơ sinh bị bỏ rơi. Người đã đục tường đưa bé ra ngoài là một nam thanh niên làm công nhân, 24 tuổi, quê Nam Định). Anh thuê nhà trọ ở gần nơi xảy ra sự việc, lúc đi làm về anh đi ngang qua con hẻm nơi em bé bị mắc kẹt, biết chuyện liền tức tốc tìm mọi cách để cứu em bé.
Dân đói vẫn đói, nhưng từ đại hội đảng bộ cơ sở (xã) cho tới cấp cao hơn (huyện, tỉnh và trung ương), những sự loè loẹt và lãng phí là có thể trông thấy rõ ràng chỉ bằng mát thường. Có vẻ, những người cộng sản rất sợ người khác không nhìn thấy sự vĩ đại hay sang trọng của mình nếu thiếu đi những trò trang trí diêm dúa và tốn kém tiền thuế của dân trước mỗi cuộc họp hay hội nghị? Sống gần dân và vì dân thể hiện ở hành động chứ không ở lời nói trong khi lại làm ngược lại, mà nhân dân vẫn còn vô vàn khó khăn, những đứa trẻ đói ăn, thiếu trường, bệnh tật không kịp cứu chữa... vẫn đầy ngoài hè đường phố xá hay xóm ngách của thôn bản.
Thảo Ngọc (Danlambao) - Vậy là sau một thời gian dư luận đồn đoán về “sinh mạng chính trị” của Chung con như “ngàn cân treo sợi tóc,” thì hôm nay số phận Chung con đã được định đoạt. Báo Tuổi trẻ lúc 17h 30 chiều nay(11/8/2020) đưa tin: “Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung bị tạm đình chỉ công tác”. Theo đó: “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký quyết định tạm đình chỉ công tác với ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội”. Thật ra việc Chung con bị kỷ luật không làm dư luận bất ngờ. Vì tội lỗi Chung con khủng khiếp như thế nào thì ai cũng biết. Có điều là với khối tài sản khổng lồ của Chung con mà dư luận ước tính có đến hàng trăm triệu đô, thì không biết “Nén bạc có đâm toạc tờ giấy” hay không mà thôi.
TQ VÀ VN CÓ ‘CHUNG Ý THỨC HỆ’ KHÔNG? Xưa nay chúng ta vẫn mặc nhiên coi TQ và VN cùng chung ý thức hệ XHCN theo Chủ nghĩa Marx-Lenin. Và TQ lợi dụng việc này, lôi kéo VN mắc vào cái bẫy để thôn tính?. Thực tế là thế nào. Xét về bản chất, VN – TQ ngay từ đầu dù cùng phe XHCN nhưng đó chỉ là hình thức, là cái “vỏ”. Cứ kiểm tra lại hành động của TQ từ Hiệp định Geneve trở đi, nhất là 20 năm kháng chiến CMCN thì rõ. Có thể tham khảo các tài liệu (1); (2) dưới đây. Tuy nhiên, sau khi VN thống nhất đất nước thì Bắc Kinh lộ rõ nguyên hình là kẻ thù của Dân tộc VN. Cái “mặt nạ ý thức hệ” Bắc Kinh đã công khai ném đi kể từ sự kiện Biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc 1979, nhất là sau khi “thuyết Con Mèo” của Đặng Tiểu Bình ra đời từ những năm 80.
Bảo Trợ