Người phụ nữ nhân hậu - Margaret Haughery

18 Tháng Tám 20194:07 SA(Xem: 105)

Người phụ nữ nhân hậu

BM
Nếu bạn đã có lần viếng thăm thành phố New Orleans xinh đẹp, chắc hẳn sẽ có ai đó hướng dẫn bạn đến khu kinh doanh lâu đời của thành phố này, nơi tập trung các ngân hàng, cửa hiệu, khách sạn và sẽ chỉ cho bạn thấy một pho tượng được dựng vào năm 1884, đứng sừng sững tại quảng trường nhỏ ở đây.    
Pho tượng tạc hình một người phụ nữ đang ngồi trên cái ghế thấp, tay ôm một đứa bé đang ngả đầu vào người bà. Người phụ nữ không mấy xinh đẹp và trang phục của bà khá giản dị. Bà mang một đôi giày vải, mặc váy trơn, trên vai quàng một cái khăn và đội một cái mũ rộng vành trên đầu. Bà có dáng người tầm thước, trông hơi mập. Khuôn mặt bà có nét điển hình của người Ái Nhĩ Lan với chiếc cằm vuông vức. Ánh mắt của bà thật đặc biệt, chúng nhìn bạn một cách nồng ấm, chứa chan tình cảm tựa như ánh mắt của một người mẹ dành cho đứa con thân yêu của mình.
 
neworleans- Margaret Haughery statue

Có một số điều đáng ngạc nhiên về bức tượng này. Đó là một trong những pho tượng đầu tiên ở Mỹ được tạc để tôn vinh một người phụ nữ. Ngay cả tại châu Âu cổ xưa, có rất ít tượng đài được xây dựng để tỏ lòng tôn vinh phụ nữ, và nếu có, hầu hết chúng đều dành cho những nữ hoàng hoặc công tướng quyền quý, những người rất xinh đẹp và rất sang trọng. Nhưng pho tượng ở New Orleans này thì hoàn toàn khác.    
 
Pho tượng này thuộc về bà Margaret Haughery, nhưng chẳng ai tại New Orleans nhớ rõ cái tên đó. Họ chỉ nhớ bà là Margaret. Và đây là câu chuyện về bà Margaret và lý do tại sao người ta phải dựng tượng để tưởng niệm bà.
 
BM

Margaret mồ côi cả cha lẫn mẹ khi còn rất nhỏ. Bà được một cặp vợ chồng trẻ nhận làm con nuôi. Họ cũng nghèo khó và tử tế như cha mẹ ruột của bà. Margaret sống với họ đến lúc trưởng thành, lập gia đình và sinh một con trai. Nhưng không may, chẳng bao lâu sau chồng, rồi con bà lần lượt qua đời, để lại mình Margaret quạnh hiu. Tuy nghèo nhưng Margaret khỏe mạnh và giỏi giang. Bà không để đau buồn quật ngã, bà vẫn tiếp tục làm việc.
 
Bà ủi quần áo cho một tiệm giặt ủi suốt ngày từ sáng sớm đến tối mịt. Và mỗi ngày, qua song cửa sổ nơi làm việc, bà trông thấy những đứa trẻ ở trại mồ côi gần đó làm việc và chơi đùa. Một thời gian sau, một trận đại dịch xuất hiện ở thành phố, cướp đi bao sinh mạng và làm cho số trẻ côi cút tăng lên. Trại mồ côi không đủ chỗ để chăm sóc các em, còn các em thì đang cần một chỗ dựa. Chắc hẳn không ai có thể nghĩ rằng một người phụ nữ nghèo hèn, sống bằng nghề giặt ủi, lại có thể trở thành một chỗ dựa thân ái mà các em bé bơ vơ đang cần đến. Nhưng Margaret đã nghĩ như vậy.    

Bà đến thẳng trại mồ côi, nói rằng bà sẽ trích một phần lương của mình tặng cho trại và ngoài ra bà còn tình nguyện sống bên cạnh để chăm sóc các em.
  
Bà cố gắng làm việc chăm chỉ, và chẳng mấy chốc, từ số tiền lương dành dụm được, bà mua một cặp bò và một chiếc xe chở hàng nhỏ. Mỗi sáng, bà đánh xe đi giao sữa cho khách hàng và không quên xin những thức ăn còn thừa từ các khách sạn và những nhà giàu có trong thành phố về cho lũ trẻ đói lòng trong trại mồ côi. Vào những lúc khó khăn nhất, nhiều khi chính số thức ăn thừa thãi đó đã giúp các em ấm bụng.
 
BM
  
Với khoản tiền bà Margaret kiếm được, mỗi tuần bà trích một phần mang đến tặng trại trẻ mồ côi. Sau vài năm số tiền ấy ngày một lớn. Do tính cẩn thận và giỏi giang, công việc kinh doanh của bà ngày thêm phát triển. Và dù vẫn cho đi, Margaret vẫn kiếm được nhiều tiền hơn và mua thêm nhiều bò. Cuối cùng, bằng số tiền tích lũy, bà xây một ngôi nhà dành cho trẻ em mồ côi.

Một thời gian sau, Margaret mua được một lò làm bánh mì, rồi bà chuyển sang nghề giao bánh mì. Và những đồng tiền kiếm được, bà vẫn đều đặn trích ra tặng cho trại mồ côi.
 
BM
  
Rồi Cuộc nội chiến ở Mỹ bùng nổ. Trong thời buổi loạn ly, bệnh tật và đầy sợ hãi ấy, Margaret vẫn đánh chiếc xe bò đi giao bánh mì. 
 
Bà luôn xoay xở để vừa giúp đỡ những người lính đói khát, vừa quan tâm đến những em bé mồ côi. Dầu vậy, khi chiến tranh kết thúc bà cũng có đủ tiền xây một lò bánh mì lớn. Đến lúc này, không ai trong thành phố không biết đến tên bà. Trẻ em trong khắp thành phố yêu quý bà. Các doanh nhân tự hào về bà. Những người nghèo đến gặp bà xin lời khuyên bảo. Bà thường ngồi trước cửa văn phòng mình, trong bộ váy bằng vải dày và với cái khăn nhỏ quàng trên cổ, tận tình đưa ra lời khuyên cho tất cả những ai đến nhờ bà giúp đỡ, bất kể họ giàu hay nghèo.    
 
BM
Cuộc sống dần trồi cho đến một ngày, bà Margaret lặng lẽ qua đời. Lúc đọc di chúc của bà, người ta mới biết ngoài tất cả những gì bà đã hiến tặng, bà vẫn còn dành dụm được 30.000 đô la - một số tiền không nhỏ - và bà muốn tặng hết số tiền này cho tất cả các trại mồ côi trong thành phố, không phân biệt là trại của người da trắng, da đen, người Do Thái, người theo đạo Thiên Chúa hay đạo Tin Lành. Margaret luôn nói "Tất cả đều là trẻ mồ côi như nhau". Và bạn biết không, những ý nguyện cao đẹp của bà đã được ký bằng một nét gạch ngang thay cho tên của bà, vì Margaret chưa bao giờ biết đọc hay biết viết!    
 
BM
  
Khi hay tin bà qua đời, người dân New Orleans đã truyền tụng về bà rằng "bà là mẹ của tất cả những người mồ côi mẹ, là bạn của những người không có bạn bè. Sự thông tuệ của bà không trường học nào có thể dạy được. Chúng ta sẽ mãi mãi không được quên bà ấy". Thế là họ tạc một bức tượng mang đậm những nét quen thuộc về bà đã để lại trong tâm trí mỗi người, lúc bà đang ngồi trước văn phòng riêng hoặc đánh chiếc xe bò đi chở hàng. Và ngày nay, pho tượng vẫn sừng sững ở đó, ngay giữa thành phố đông đúc người qua lại, thể hiện tấm lòng kính trọng của người dân New Orleans đối với người phụ nữ có trái tim vô cùng nhân hậu và cách sống giản dị tên là Margaret Haughery.
 
BM
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nằm gần biên giới xứ Wales trên sông Wye, Nhà thờ Hereford của Anh đã thu hút những người thờ phụng kể từ cuối Thế kỷ thứ 7. Cấu trúc ngày nay được xây dựng lại vào những năm 1100 và được coi là một trong những ví dụ điển hình nhất của Vương quốc Anh về kiến ​​trúc nhà thờ Norman.
Thức ăn đường phố là một phần quan trọng trong thực đơn hàng ngày của người dân Bangkok. Khi chính phủ Thái Lan dọa cấm các quầy hàng trên đường phố, các người bán quà rong ở khu vực Ari của Bangkok đã áp dụng một thông lệ cổ về phối hợp màu sắc. Khi Vua Bhumibol Adulyadej của Thái Lan băng hà vào tháng 10/2016, các thần dân mặc đồ tang màu đen trong nhiều tháng để thể hiện lòng tôn trọng.
Mái tóc bạc trắng mỏng kẹp sang một bên, chiếc kính dày tựa trên sống mũi, cụ bà Ioanna Proiou luồn bàn tay nhăn nheo có những đốm đồi mồi lên những cuộn len màu xanh nhạt được căng ra trên chiếc khung cửi gỗ nặng nề. Cụ kéo chiếc đòn bẩy lên phía trước trên chiếc khung cửi được đóng thủ công và cụ cứ lặp đi lặp đi lặp động tác này - một kỹ thuật mà cụ đã thực hiện tới mức hoàn hảo trong suốt hơn 90 năm qua.
VOV.VN - Trước dòng sông chảy xiết và đàn cá sấu hung dữ, mẹ con ngựa vằn đã phải xoay xở và vùng vẫy hết sức để sinh tồn và vượt qua các mối đe dọa này. Kiều Anh/VOV.VN (biên tập) Theo BBC Earth
Trái ngược với nô lệ châu Phi, nô lệ da trắng có vị trí đảo ngược: chủ nô là những người Hồi giáo Bắc Phi vùng Địa Trung Hải, nô lệ là người da trắng châu Âu, nhưng không phải chỉ có vậy… Phải chăng chỉ có nô lệ da đen? Người ta thường kết tội nhiều về thảm kịch nô lệ châu Phi diễn ra từ giữa thế kỷ XVI tới tận thế kỷ XIX. Tuy nhiên, một hoạt động kinh doanh buôn bán người khác, cũng khủng khiếp tương tự như vậy, đã diễn ra cùng thời điểm đó ở khu vực Địa Trung Hải.
Người dân xác định 'philoxenia' (sự mến khách) là một sự nhiệt tình khiến người nước ngoài cảm thấy được chào đón ngay lập tức. Người dân định nghĩa khái niệm 'philoxenia' (mến khách) của Hy Lạp là một sự nhiệt tình khiến người nước ngoài ngay lập tức cảm thấy được chào đón. Ít thành phố trên thế giới cạnh tranh được với sự cổ đại của thành phố Athens, nơi mà con người sống liên tục hàng ngàn năm.
Tiếng Ý là một ngôn ngữ nồng say được tạo ra để làm say mê, quyến rũ và mê hoặc. Các nhà văn và nhà thơ đã gọt rũa văn phong và từ vựng cho nó qua nhiều thế kỷ, với vẻ đẹp và âm thanh coi đó như một số trong số những điều quan tâm chính yếu của họ. Nó lại xảy ra một lần nữa hôm vừa rồi. Tôi đang đi dạo phố ở thành phố quê hương tôi ở Mỹ thì tôi nghe thấy nó; một cặp vợ chồng nói tiếng Ý. Tôi vội vã theo kịp họ, đi gần để có thể nghe lén. Theo tôi hiểu thì họ đang nói về việc tu sửa ngôi nhà của họ. Một chủ đề không phải thanh lịch nhất. Nhưng những lời đó nghe thật đẹp đến mức tôi đã khóc.
Trong phần đầu của cuốn sách ‘Những Cuộc Phiêu Lưu của Gulliver’ của Jonathan Swift, Lemuel Gulliver trôi dạt vào bờ biển đảo Lilliput, nơi ông gặp những người Lilliput, chỉ cao hơn 15 cm một chút. Trong khi người Lilliput chỉ là sự tưởng tượng thì một làng có thể so sánh được đã tồn tại ở phía cực Đông của Iran. Cho đến khoảng một thế kỷ trước, một số cư dân của Makhunik, một ngôi làng 1500 năm tuổi cách biên giới Afghanistan khoảng 75 km, chỉ cao 1 mét, khoảng 50 cm thấp hơn chiều cao trung bình người thời đó.
Okinawa ở Nhật Bản có một trong những nơi tập trung cao nhất thế giới về người hơn 100 tuổi Dan Buettner đã nghiên cứu 5 địa điểm trên thế giới nơi mà người dân nổi tiếng sống lâu: Okinawa ở Nhật Bản, Nicoya ở Costa Rica, Icaria ở Hy Lạp, Loma Linda ở California và Sardinia ở Ý.
Vào một buổi sáng thời gian gần đây trên Đảo Shodoshima, Nhật Bản, thế hệ thứ năm trong gia đình làm xì dầu này mở cửa nhà kho gỗ của gia đình để lộ ra 68 thùng lớn làm bằng gỗ tuyết tùng phong kín trong lớp vỏ phủ đầy nấm mốc.
Bảo Trợ