10 Pharaông Vĩ Đại Nhất Trong Lịch Sử

18 Tháng Bảy 20196:30 SA(Xem: 669)


Tại Ai Cập, các Pharaông là hiện thân của quyền lực tối cao của các vị vua trên mặt đất. Họ được biết đến với sự giàu có, hùng mạnh và cuộc đời nhiều bí ẩn mà cho tới ngày nay vẫn chưa được giải đáp.

Theo các học giả người Mỹ, Nobel Laureate và William Faulkner thì “Pharaông là hậu duệ của thần Amon vĩ đại, vị thần mặt trời cai quản thiên đường còn các Pharaông là người cai quản mặt đất”.

Trong từ Pharaoh (Pharaông) thì “Pha” có nghĩa là “ngôi nhà” và “oh” có nghĩa là “lớn”. Ban đầu từ này được sử dụng để chỉ các “cung điện” là các các công trình kiến trúc lớn. Vào thế kỷ 14 trước Công nguyên, dưới thời trị vì của Akhenaton, thuật ngữ "Pharaông" đã được sử dụng chỉ "vua, hoàng đế", và từ đó, Pharaông đã được tiếp tục sử dụng cho các vị vua Ai Cập.

Các nhà Ai Cập học đã chia thời gian cai trị của các Pharaông ra 10 giai đoạn, bao gồm 33 vương triều. Các Pharaông được mô tả nhiều trong sách sử.

Các vị Pharaông thường mang vương trượng hình dạng một cây gậy một đầu uốn cong, đội vương miện màu đỏ, trắng. Vương miện màu đỏ, còn được biết đến dưới cái tên vương miện Deshret dành cho những người cai trị Hạ Ai Cập. Các nhà lãnh đạo của Thượng Ai Cập mang chiếc vương miện màu trắng, được gọi là vương miện Hedjet. Vương miện màu có cả màu đỏ và trắng, hay vương miện Pschent là dành cho vị vua đứng đầu Ai Cập.

Các kim tự tháp Ai Cập, được xây dựng trong thời gian trị vì của các vị vua, đã mở ra cánh cửa để nhìn vào lịch sử của nền văn minh của con người trong quá khứ. Xác ướp của các vị vua cũng là một nguồn thông tin tư liệu quý báu về nền văn minh Ai Cập cổ đại.

Dưới đây là 10 Pharaông nổi tiếng nhất trong lịch sử:

1. Tutankhamun

Tutankhamun vị Pharaông nổi tiếng nhất của Ai Cập thời cổ đại
Tutankhamun vị Pharaông nổi tiếng nhất của Ai Cập thời cổ đại

Nebkheperure Tutankhaten Tutankhamun, được biết đến với cái tên Tutankhamun hoặc Vua Tut, là con trai của Pharaông Akhenaten và em gái của Pharaông Akhenaten, người hiện chưa xác định được tên, chỉ được biết dưới biệt danh “The Younger Lady". Ông sinh năm 1341 trước Công nguyên và qua đời năm 1323 trước Công nguyên. Ông là Pharaông Ai Cập của vương triều thứ 18 thời Tân Vương Quốc. Ông lên ngôi vua vào năm 9 tuổi, cai trị trong 10 năm, và qua đời khi chỉ mới 19, nên còn được gọi là vị vua thiếu niên.

Lăng mộ vua Tut nổi tiếng vì các lời nguyền và những cái chết xoay quanh nó.

Howard Carter và George Herbert, Earl Carnaryon V, phát hiện ra lăng mộ của vua Tut vào năm 1922 trong tình trạng gần như nguyên vẹn. Theo ghi chép, trong khi khám phá mộ Pha-ra-ông Tutankhamun, Huân tước Carnarvon đã thấy một dòng chữ: "Cái chết sẽ nhanh chóng đến với ngươi nếu dám xâm phạm sự thanh bình của Hoàng đế...".

Tutankhamun vị Pharaông nổi tiếng nhất của Ai Cập thời cổ đại. Xác ướp Tatankhamun và các đồ tạo tác trong lăng mộ của ông được trưng bày ở nhiều nước như: Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Úc, và nhiều nơi khác. Trong triển lãm của Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan tại Mỹ tổ chức diễn ra từ ngày 17 - 11 - 1976 và ngày 15 - 4 - 1979, xác ướp của vua Tut được hơn 8 triệu lượt khách viếng thăm. Trong ấn bản năm 1977 của cuốn sách “Khám phá lăng mộ Tutankhamun”, Jon Manchip White đã viết, "Đây là vị Pharaông khi còn sống ít được biết đến nay khi đã chết lại thực sự nổi tiếng”.

2. Rameses II

Rameses II

Rameses II là con của Pharaông Seti I và Hoàng hậu Tuva, sinh năm 1300 trước Công nguyên. Không giống như vua Tut, ông sống rất lâu và qua đời trong năm 1213 trước Công nguyên, hưởng thọ 97 tuổi.

Rameses II là Pharaông Ai Cập thứ ba thuộc vương triều thứ 19 và còn được người đời biết đến dưới cái tên là Rameses Đại đế. Ông được vinh danh như Pharaông Ai Cập hùng vĩ đại, tôn quý và hùng mạnh nhất. Ông đã nhiếp chính khi mới 14 tuổi và lên ngôi khi mới vừa đi hết tuổi thiếu niên.

Rameses II được ghi nhận là một trong những vị vua vĩ đại, quyền lực và được ca tụng nhiều nhất trong lịch sử Ai Cập cổ.

Ông nổi tiếng với các di tích lớn được xây dựng lúc ông còn trị vì, bao gồm các ngôi đền Abu Simbel, Abydos, Ramesseum, Luxor, và Karnak. Rameses có rất nhiều con. Tuy không biết con số chính xác, nhưng các nhà Ai Cập học cho rằng ông có hơn 44 người con trai và hơn 40 con gái.

Sau khi qua đời, Pha-ra-ông Ramesses được chôn tại "Thung lũng các vị vua". Thi hài ông sau này đã được đưa tới nhà xác Hoàng gia, nơi nó được tìm thấy năm 1881, và hiện nay là tại bảo tàng Ai Cập ở Cairo.

3. Narmer

Narmer

Theo nhiều nhà Ai Cập học suy đoán, Narmer là vị vua đầu tiên thống nhất Ai Cập, thuộc vương triều đầu thế kỷ 31 trước Công nguyên. Danh tính của Narmer hiện vẫn đang được tranh luận, mặc dù hầu hết các nhà Ai Cập học ngày nay đã đồng nhất Narmer với vị pharaoh thuộc triều đại đầu tiên, Menes, người cũng được ghi nhận là đã thống nhất Ai Cập, và là pharaoh đầu tiên.

James E. Quibell đã phát hiện ra “Tấm bảng Narmer” nổi tiếng vào năm 1888..“Tấm bảng Narmer” là một tác phẩm điêu khắc trên đá vôi tại một vách núi và là phát hiện nổi tiếng của Quibell. Tấm bảng này đã mô tả Narmer như vị Pharaông đầu tiên thống nhất Ai Cập. Lăng mộ của Narmer bao gồm hai phòng liền kề nằm trong vùng lân cận với lăng mộ Ka.

4. Djoser

Djoser

Djoser là con trai của vua Khasekhemwy và nữ hoàng Nimaethap. Ông là vị vua của vương triều thứ 3 năm 2670 trước Công nguyên. Ông là người nối ngôi Khasekhemwy và là vị vua tiền nhiệm trước Sekhemkhet.

Ông nổi tiếng với công trình Kim tự tháp bậc thang do kiến trúc sư Imhotep thiết kế và xây dựng khi ông trị vì. Djoser đã được chôn cất trong kim tự tháp nổi tiếng này. Các bức tượng đá vôi sơn màu trong lăng mộ ông hiện được bảo quản tại Bảo tàng Ai Cập ở Cairo. Chúng là một trong những bức tượng Ai Cập cổ xưa nhất có kích cỡ tương đương vật thật. Các bức tượng này được khai quật phát hiện vào năm 1924. Người ta đã làm một bản sao thạch cao của bức tượng này và trưng bày ở vị trí khai quật được nó tại Saqqara.

5. Khufu

Khufu

Khufu là con trai của Pharaông Sneferu với Nữ hoàng Hetepheres I. Ông là Pharaông thứ hai của triều vua thứ 4, trị vì những năm 2589-2566 trước Công nguyên. Ông được biết đến với công trình kim tự tháp Giza là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại.

Tất cả các bức tượng của Khufu và phù điêu khác liên quan đến ông được tìm thấy đều bị vỡ hoặc trong tình trạng hư hỏng. Bức tượng nguyên vẹn duy nhất về Khufu là một bức tượng bằng ngà voi dài tầm 3 inch được phát hiện trong một ngôi đền đổ nát ở Abydos vào năm 1903. Khufu đã được nhắc đến trong "Westcar Papyrus", một cuốn sách nổi tiếng về ma thuật và bùa phép thuộc Vương triều thứ 3.

6. Userkaf

Userkaf

Cái tên "Userkaf", có nghĩa là linh hồn hùng mạnh. Ông là Pharaông sáng lập vương triều thứ năm của Ai Cập và cũng là người đầu tiên bắt đầu xây dựng ngôi đền mặt trời ở Abusir. Ông trị vì từ năm 2994 trước Công nguyên đến năm 2487 trước Công nguyên, và trong thời gian này, ông đã xây dựng Kim tự tháp Userkaf, nơi sau này ông được chôn cất.

Đền thờ mặt trời của ông tại Abugorab được phát hiện lần đầu bởi Richard Lepsius trong thế kỷ 19, được Ludwig Borchardt nghiên cứu trong thế kỷ 20 và được Herbert Ricke khai quật vào năm 1954. Naguib Mahfouz, người mang giải Nobel về cho Ai Cập cũng đã xuất bản một câu chuyện liên quan đến Userkaf trong năm 1934. Cuốn sách này được đặt tên là “AFW al-malik Userkaf: uqsusa misriya” và theo như Raymond Stock tạm dịch thì tựa đề cuốn sách có nghĩa là: Sự tha thứ của vua Userkaf.

7. Nebhepetre Mentuhotep II

Nebhepetre Mentuhotep II

Nebhepetre Mentuhotep II là con của Intef III và Iah. Ông sinh năm 2061 trước Công nguyên và qua đời năm 2010 trước Công nguyên. Ông là một Pharaông thuộc vương triều thứ 11. Thời gian trị vì của ông là 51 năm từ năm 2061 đến năm 2010 trước Công nguyên.

Mentuhotep II có nhiều người vợ trong đó: Nữ hoàng Neferu II với cái tên có nghĩa là "người đẹp nhất", Kawit - “vợ yêu của nhà vua”. Bốn bà phi của ông có tên là Sadeh, Ashayet, Henhenet, và Kemsit. Họ đều là những bà vợ xinh đẹp của Nebhepetre Mentuhotep II.

Khi Pharaông băng hà, nữ hoàng Neferu II được chôn cất cùng với ông trong lăng mộ tại Deir-el-Bahri,và bốn người còn lại được chôn cất trong một huyệt chung tại tầng hầm của ngôi đền Mentuhotep II.

8. Khakhaure Senusret III

blank

Khakhaure Senusret III là con của Pharaông Senusret II và vợ Khnemetneferhedjet I. Ông có hai người vợ, Khenemetneferhedjet I và Neferthenut, họ được chôn tại những khu lân cận kim tự tháp lăng mộ của nhà vua ở Dahshur.

Ông trị vì những năm 1878-1839 trước Công nguyên và là Pharaông thứ 5 của vương triều thứ 12 thuộc thời kỳ Trung Vương quốc. Ông được biết đến là người đã cho xây dựng kênh đào Senostris. Ông còn nổi tiếng với các pháo đài hùng vĩ như Buhen, Toshka, Semna, và Uronatri.

Trong thời gian trị vì, ông đã mở rộng lãnh thổ của đất nước nhắn nhủ với các con rằng, "Người đấu tranh cho ta, người bảo vệ lãnh thổ do ta khai phá thì mới đúng là những đứa con của ta. Còn những kẻ thoái thác trách nhiệm, không chiến đấu cho vương quốc thì không phải là con do ta sinh ra".

Senusret III là một trong số ít các vị vua được phong thần và thờ phụng tôn kính trong suốt cuộc đời của mình.

9. Akhenaten

Akhenaten

Akhenaten là con trai của Pharaông Amenhotep III và bà Tiye. Ông là Pharaông thuộc vương triều thứ 18 của Ai Cập. Akhenaten trị vì trong 17 năm (1353-1336 trước Công nguyên). Ông có 5 người vợ trong đó có nữ hoàng Nefertiti - người vợ nổi tiếng nhất và có danh tiếng nhất cho đến bây giờ. Nguyên nhân có thể là vì phong thái độc nhất và tính sáng tạo trong việc cải tổ tôn giáo của bà. Cả vua và nữ hoàng đều không khuyến khích thuyết đa thần mà hai vị đều tập trung thờ phụng một vị thần duy nhất là Aten.

10. Cleopatra VII Philopator

Cleopatra VII Philopator

Cleopatra VII Philopator, trong lịch sử nổi tiếng với cái tên là Nữ hoàng Cleopatra. Bà là Pharaông cuối cùng của Ai Cập cổ đại. Vương triều Ptolemy của bà tồn tại sau cái chết của Alexander Đại đế - người đứng đầu đế chế Hy Lạp nắm quyền cai trị Ai cập lúc bấy giờ.

Trong Vương triều của bà, tiếng Ai Cập không thịnh hành bằng tiếng Hy Lạp. Tiếng Hy Lạp được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các văn bản chính thức. Tuy nhiên, Cleopatra có học tiếng Ai Cập và bà tự nhận mình là hiện thân của nữ thần Ai Cập Iris. Ban đầu, bà cai trị vương quốc cùng với cha, sau đó là với các anh em trai, rồi cuối cùng bà nắm quyền độc lập và trở thành vị Pharaông cuối cùng của Ai Cập cổ đại.

Đến ngày nay, Cleopatra là một hình tượng nổi tiếng trong văn hóa phương Tây. Danh tiếng của bà được truyền tải dưới hình thức nhiều câu chuyện được sân khấu hoá, là đề tài của những tác phẩm hội họa, sân khấu, kịch và âm nhạc.
Theo KhoahocTV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thái Thanh Đã Ra Đi (5/8/1934-17/3/2020) Thái Thanh giọng hát vượt thời gian Giã biệt từ nay khuất dặm ngàn “Yêu tiếng nước tôi” người nhắc nhở Vĩnh hằng cung bậc mãi âm vang Vẫn biết ra đi là cách biệt Hỏi lòng dân Việt mấy người quên Thăng Long gánh hát thời danh tiếng Vận nước nổi trôi phận gắn liền Đêm Màu Hồng vũ trường ghi nhớ Những dặm trường ca dấu khắc ghi Tiền chiến hoài mơ cùng nhạc trẻ Diva bất khuất lẫn nhu mì Ấm áp thanh âm thật diệu huyền Ru hồn khả ái bóng thuyền quyên Từ năm mười bốn danh trình diễn Chi bảo cầm ca trọn ước nguyền Thái Huy Long
Tại sao loài ngựa vằn lại có sọc Yao-Hua Law BBC Future
Khu vực Bắc Mỹ Châu nổi tiếng có năm hồ nước ngọt lớn, thường được người Việt biết qua cái tên “ngũ đại hồ” gồm có Lakes Superior, Michigan, Huron, Erie, và Ontario. Trong số đó Lake Ontario là hồ có diện tích nhỏ nhất trong năm hồ, nhưng về dung lượng nước thì lại được xếp vào hạng thứ tư trong nhóm. Hồ nằm về phía Đông của lục địa Bắc Mỹ và tuôn chảy ra biển Atlantic qua con sông Saint Lawrence. Ngoài ra, hồ Ontario cũng là đường biên giới phân chia giữa tiểu bang New York của Mỹ và tỉnh Ontario của Canada. Điểm đặc biệt hồ Ontario cũng là thượng nguồn của đầu sông St. Lawrence, một con sông có độ dài gần 1,200 cây số chảy từ hồ Ontario tuôn đổ ra biển Atlantic Ocean. Cũng giống như hồ Ontario, con sông St. Lawrence cũng chính là đường phân chia biên giới của Mỹ và Canada.
Vào sáng ngày 17/03, giới yêu nhạc Việt Nam nhận thêm một tin buồn: nữ ca sĩ Thái Thanh đã về cõi vĩnh hằng tại miền Nam Cali trong tình thương yêu của con cháu, gia đình, hưởng thọ 86 tuổi. Như vậy là Tiếng Chim Thanh đã chính thức vượt khái niệm thời gian để sống với đời sống không có tuổi tác trong lòng hàng triệu người ngưỡng mộ. Tiếng Chim Thanh là cách gọi riêng của nhạc sĩ Phạm Duy đối với giọng hát gắn liền với nhiều ca khúc bất tử của ông. Còn Tiếng Hát Vượt Thời Gian là biệt danh của nhà văn Mai Thảo, sau này cũng gắn liền với cái tên Thái Thanh như một định ngữ chính xác nhất dành cho tiếng hát của bà. Có thể nói rằng, cũng giống như nhạc sĩ Phạm Duy trong giới sáng tác ca khúc, giọng hát của ca sĩ Thái Thanh có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong giới ca sĩ Việt Nam của mọi thời đại. Mọi sự so sánh đều khập khiễng.
Bài hát là những lời nhớ thương da diết của một cô gái gửi đến người yêu của mình – sống ở thành phố Scarborough, Ai Len. Họ đã chia tay nhau, và giờ đây – ở một nơi xa rất xa – cô gái hát cho chàng trai nghe. Nàng đưa ra những công việc “không thể thực hiện” cho chàng, nếu thực hiện được thì “chàng sẽ mãi là tình yêu chân thành của tôi”.
Đa số người Việt đều có thể lúc này lúc khác thốt ra vài câu có vần có điệu nào đó. Không xét đến nội dung, nhưng nó làm nhiều người phải nhắc lại câu cảm thán đã lưu truyền từ rất lâu "Tộc Việt quả là dân tộc thi sĩ". Dĩ nhiên, họ nhắc lại với nhiều sắc thái khác nhau, trong đó bông đùa hay châm biếm cũng không hiếm thấy.
Hòn đảo Ikaria ở Hy Lạp không chỉ nổi tiếng vì sở hữu vẻ đẹp yên bình với nước biển xanh ngọc mà còn bởi cư dân trên đảo có tuổi thọ trung bình rất cao. Có khoảng 10,000 người sinh sống trên đảo, trung bình họ có tuổi thọ cao hơn mức trung bình của Mỹ từ 8-10 tuổi. Tỷ lệ những người có tuổi thọ trên 90 của hòn đảo này cao gấp 10 lần so với công dân các nước châu Âu. Không chỉ vậy, người dân nơi đây có tỷ lệ mắc bệnh ung thư và bệnh tim, trầm cảm, mất trí nhớ thấp hơn hẳn, họ khỏe mạnh cả khi đã già.
Người Bắc Âu có thể nói là những người “biết sống” bậc nhất trên thế giới này. Họ sống tự nhiên, đơn giản, hạnh phúc – chính là những điều mà con người hiện đại mong muốn hướng tới. Nếu để ý một chút, chúng ta sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu không có nhà cao tầng, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ và ăn những món ăn đơn giản. Sau 7 giờ tối, gần như trên đường đều rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa trụy lạc” vào ban đêm, cũng không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích thần kinh con người. Vậy, hạnh phúc của những người dân Bắc Âu đến từ đâu?
Các thủy thủ Hoa Kỳ cùng Đô đốc Aquilino và Đại sứ Kritenbrink đã thăm trẻ em tại Trung tâm từ thiện và bảo vệ trẻ em -. Hải quân mỹ đến nha trang hát bài nối vòng tay lớn -Jan 20, 2019/ Cận cảnh lính hải quân tàu sân bay Mỹ thăm Trung tâm Hướng nghiệp Từ thiện tại Đà Nẵng Mar 8, 2020
Dịch viêm phổi Vũ Hán Covid 19 lan rộng trên toàn thế giới không khỏi làm người ta nhớ tới dịch cúm Tây Ban Nha (Spanish flu) quét qua thế giới trong thế kỷ trước. Chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, nó đã sát hại hàng chục triệu người trên hành tinh, vượt qua mọi căn bệnh truyền nhiễm quy mô lớn trong lịch sử bao gồm cả Dịch Cái chết đen thời trung cổ. Đợt dịch năm 1918 này đã cướp đi sinh mạng của gần 700.000 người Mỹ, trong đó có Frederick Trump, ông nội của đương kim Tổng thống Mỹ. Theo Sanli News, dịch cúm Tây Ban Nha có thể được chia thành ba đợt: đợt đầu tiên xảy ra vào mùa xuân năm 1918, đợt thứ hai xảy ra vào mùa thu năm 1918 và đợt thứ ba xảy ra vào mùa đông năm 1919 đến mùa xuân năm 1920. Đợt dịch xảy ra vào mùa thu năm 1918 có tỷ lệ tử vong cao nhất đã giết chết 200.000 người Mỹ chỉ trong tháng 1
Bảo Trợ