Những bức ảnh hiếm về người Mỹ bản địa cho thấy một lịch sử gần như đã bị lãng quên

10 Tháng Bảy 201911:27 SA(Xem: 324)

Người Mỹ bản địa là một phần của lịch sử Châu Mỹ. Thời đại huy hoàng của họ đã qua từ lâu, nhưng thật may, nhiếp ảnh gia người Mỹ Edward S. Curtis với 20 năm hành trình để chụp ảnh của hơn 80 bộ lạc, đã lưu lại rất nhiều ký ức về một lịch sử gần như đã bị lãng quên.

Khi nhiếp ảnh gia người Mỹ Edward S. Curtis lần đầu tiên chụp ảnh người da đỏ bản địa vào năm 1906, ông đã không ngờ rằng đó chỉ là khởi đầu của hành trình dài tới 20 năm để chụp ảnh của hơn 80 bộ lạc.

Niềm đam mê của ông đối với người bản địa đã biến thành một bộ sưu tập của hơn 40.000 bức ảnh, được đặt tên là Người da đỏ Bắc Mỹ. Ngày nay, chúng là một bộ nhớ đầy ấn tượng về cuộc sống, văn hóa và cuộc đấu tranh của người Mỹ bản địa xưa kia.

blank
Bộ lạc Navajo ở Canyon de Chelly, Arizona, năm 1904. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
“Dáng vẻ oai vệ”, bức chân dung chụp nửa người từ chuyến viếng thăm của các nhóm người Anh Điêng thuộc bộ lạc Apache, 1905. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Wayne L. Youngblood, một tác giả, cho biết Curtis đã ở độ tuổi gần 30 khi lần đầu tiên chụp ảnh cho một phụ nữ người Mỹ bản địa, Công chúa Angeline, theo tờ The Dispatch.

“Cô ấy là Kickisomlo, con gái của Thủ lĩnh Seattle (Sealth) thuộc bộ lạc Suquamish, tên ông sau này đã được đặt cho thành phố”, Youngblood nói.

Chính điều đó đã khởi đầu niềm đam mê của Curtis đối với văn hóa của người Mỹ bản địa trên khắp nước Mỹ.

blank
Cuộc trò chuyện, 1905. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Theo trang web của Edward Curtis, Trong thời giữa năm 1900 và 1930, Edward Curtis đã đi sâu vào các lãnh thổ của người Anh Điêng và sống cùng hàng chục bộ lạc bản địa.

Ông đã nắm bắt được cách sống xác thực của hơn 80 nền văn hóa bản địa, tạo ra hơn 40.000 bức ảnh âm bản, 10.000 bản ghi hình, 4.000 trang văn bản nhân học, và một bộ phim dài bằng cỡ phim truyện. Sự cống hiến của ông đạt đến đỉnh cao khi sản xuất bộ ảnh ‘The North American Indian (Người Anh Điêng vùng Bắc Mỹ)’, một dự án nhiếp ảnh lớn và đắt tiền nhất từng được thực hiện.

blank
Những người đứng đầu bộ lạc Sioux, 1905. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
Những người hái lượm trái cây thuộc bộ lạc Saguaro, Maricopa, Arizona, 1907. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
(Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Curtis cũng đã chụp nhiều bức ảnh về cuộc đua đi tìm vàng ở vùng Alaska và Yukon năm 1897.

Chính trong chuyến đi mang tính thám hiểm này, Curtis đã phát hiện ra niềm đam mê của chính mình trong việc ghi chép lại những cách sống của người bản địa. Trong thời gian này, ông đã tham gia vào phong trào Báo ảnh, là điều có ảnh hưởng ngày càng lớn đến công việc của ông.

blank
Thủ lĩnh cô đơn của bộ lạc Cheyenne, 1927. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
(Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Trong khoảng thời gian từ năm 1900 đến 1915, Curtis dành hầu hết thời gian của mình cho dự án nghiên cứu cuộc sống và văn hóa của người Mỹ bản địa, với thời gian dành cho việc vẽ chân dung trong phòng tranh ngày càng giảm.

Và sau đó, ông đã nỗ lực để hoàn thành và xuất bản bộ sách ‘Người Anh Điêng vùng Bắc Mỹ’, và tham gia một loạt phim hoạt hình của Hollywood.

blank
Quan sát, 1905. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
Người Anh Điêng có biệt danh “Thỏ chạy” (Running Rabbit), 1900. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Đôi nét về Edward S. Curtis

Curtis sinh ở Wisconsin năm 1868, là con trai của cựu chiến binh Nội chiến Reverend Johnson Curtis. Curtis và anh chị em của ông lớn lên trong cảnh nghèo khó, với cả gia đình thỉnh thoảng phải di chuyển trong nhiều ngày, hoặc thậm chí nhiều tuần vào những thời điểm sự sinh tồn chỉ dựa vào những củ khoai tây. Tuy nhiên, Reverend Curtis và vợ ông là Ellen đã gắng để nuôi sống gia đình có bốn đứa con; trong đó Edward là người con thứ hai.

blank
Một đám cưới, bộ lạc Qagyuhl, (1914). (Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Trước ngày sinh nhật thứ năm của ông, gia đình ông chuyển đến vùng nông thôn Cordova, bang Minnesota, nơi cha ông tiếp tục làm một công việc của một nhà truyền giáo lưu động. Mặc dù Curtis đã tiếp xúc với những người Anh Điêng da đỏ khi ông lớn lên ở Minnesota, nhưng hầu hết cảnh sống truyền thống của người Anh Điêng đã biến mất trước khi ông và gia đình đến đó vào những năm 1870, và ông không có tiếp xúc nào với các tài liệu ghi chép cụ thể về cuộc sống của người Mỹ Anh Điêng trong thời gian ông ở đó.

blank
Cô gái thuộc bộ lạc Wisham, 1910. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
Ba người Anh Điêng thuộc bộ lạc Piegan cùng bốn con ngựa đứng trên sườn đồi ven sông, năm 1910. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
Một người đàn ông thuộc bộ lạc Crow, biệt danh “Lies Sideway”, 1908. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)
blank
Yurok – Vùng nước yên tĩnh, 1923. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Gia đình Curtis sau đó buộc phải di chuyển đến một nơi ấm áp hơn, hướng đến phía Tây Bắc, nơi giáp với Thái Bình Dương.

Theo tiểu sử của ông, thì việc chuyển nhà đến khu vực Puget Sound gần với Seattle sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trong mối quan tâm của Curtis đối với người da đỏ châu Mỹ. Tuy nhiên, lúc ban đầu Curtis không thể theo đuổi tình yêu của ông đối với nhiếp ảnh. Sức khỏe của cha ông đã bị suy yếu thêm sau cuộc hành trình, và ông đã chết không lâu sau khi tới nơi ở mới. Trách nhiệm tìm kiếm thu nhập cho gia đình chủ yếu rơi lên vai Edward. Trong nhiều năm, gia đình ông đã phải sống một cuộc sống vật lộn để sinh tồn; Edward và em trai ông là Asahel phải đi kiếm cá và thu hái rau quả. Đôi khi các công việc mang tính thời vụ cũng có; đến năm 1890, gia đình ông đã xoay sở để mua được một ngôi nhà nhỏ.

blank
Người Anh Điêng săn đại bàng thuộc bộ lạc Hidatsa, 1908. (Ảnh: Edward S. Curtis / Thư viện Quốc hội)

Theo Ingrid Longauerova và Jack Phillips (theepochtimes.com)

Hòa Bình biên dịch DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
« Nông nghiệp đô thị » không còn là khái niệm quá mới mẻ ở Paris. Thủ đô nước Pháp ngày càng có nhiều « nông dân thành phố », « nông trại đô thị ». Những nông dân đô thị, ấp ủ mong muốn góp phần sản xuất và đưa nông phẩm, chủ yếu là rau quả, tới tay người tiêu dùng ngay trong thành phố, tìm lại truyền thống « tự cung, tự cấp » rau quả như thời trước đây ở Paris.
Ảnh phong cảnh đẹp thì ai cũng thích xem ngắm. Nhưng một khảo sát nhu cầu thị trường về ảnh để sử dụng cho mục đích biên tập sẽ gợi ý cho chúng ta về những ý tưởng ảnh được người dùng ưa chuộng nhất. Nếu bạn đang hướng tới mục tiêu gửi ảnh phong cảnh mà bạn chụp lên một kho ảnh để cung cấp cho thị trường, bạn cần biết thị trường đang có nhu cầu về loại ảnh nào, vì tất cả những nỗ lực của bạn có thể bị lãng phí nếu bạn không chụp được những hình ảnh phù hợp với nhu cầu thị trường. Dưới đây cung cấp 10 ý tưởng ảnh phong cảnh được ưa chuộng nhất, dựa trên những hình ảnh được mua thường xuyên nhất trong danh mục ảnh phong cảnh.
Ngoài việc truyền đạo, khai hóa và kiến thiết, các chế độ thực dân cũng tàn phá văn hóa bản địa, bóc lột nô lệ và còn gây tội ác diệt chủng như ở Brazil. Nhưng khi Pháp sang Việt Nam vào thế kỷ 19, văn minh tại châu Âu và ý thức về dân quyền cũng đã được nâng cao. Paris cho sang Đông Dương không ít nhà cai trị có uy tín về văn hóa, khoa học. GS Trịnh Văn Thảo trong 'L'ecole francaise en Indochine' nói Gustave Domoutier, Paul Bert đều là những nhà cải cách theo trường phái Jules Ferry.
Lê Uyên Phương là nghệ danh của một cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng từ trước năm 1975 với những tình khúc ca ngợi tình yêu nồng nàn, lãng mạn như chính cuộc tình của họ: nữ ca sĩ Lâm Phúc Anh và cố nhạc sĩ Lê Văn Lộc. Ca sĩ Lâm Phúc Anh sinh tại Hà Nội năm 1952, trong một gia đình gốc Hoa. Ba mẹ Phúc Anh gặp nhau tại Hà Nội vào giữa thập niên 1940 và sau đó di cư vào miền Nam năm 1954. Gia đình giàu có, Lâm Phúc Anh được theo học chương trình Pháp từ nhỏ, từ trường tiểu học ‘Sans Famille’ đến trường ‘Regina Pacis’ và sau đó là nội trú ở trường ‘Franciscaine’ Đà Lạt.
Cựu Chủ tịch Hạ Viện Hoa kỳ Newt Ringrich đầu tuần này có viết bài về “Câu chuyện Lễ Tạ Ơn đầu tiên ở Mỹ ra sao”? Ông viết như sau: Khi chúng ta tụ tập với gia đình và bạn bè vào cuối tuần này cho ngày lễ Tạ ơn, tôi muốn dành một buổi nói chuyện trên Podcast "Thế giới Newt" của tôi cho lịch sử thực sự đằng sau truyền thống độc đáo này của nước Mỹ. Khi hầu hết mọi người tưởng tượng Lễ Tạ ơn đầu tiên, họ nghĩ về những người hành hương (Pilgrims) Mayflower, đội những chiếc mũ đen cao có khóa lớn trên giày, tụ tập ngoài trời với những người thổ dân da đỏ mặc áo lông ngồi tại bàn dài gần Plymouth Rock. Họ đang ăn mừng với một bữa tiệc lớn với gà tây, bánh mì và rau mùa thu.
BANDUNG, West Java (NV) — Một thành phố ở Indonesia hiện đang cho mỗi học sinh – trong khoảng 2,000 học sinh trường tiểu học và trung học cấp 1- một con gà con, nhằm chống lại tình trạng “nghiện” Internet và điện thoại di động, theo bản tin của hãng thông tấn UPI hôm Thứ Ba, 26 Tháng Mười Một. Chính quyền địa phương tại thành phố Bandung, tỉnh West Java, loan báo rằng học sinh tại 12 trường tiểu học và trung học cấp 1 được chọn làm thí điểm để cho các con gà con nuôi làm thú cưng, tạo ra các sinh hoạt mới nhằm giúp những học sinh này không bị cột vào Internet hay điện thoại di động của chúng.
Ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) của người Hoa Kỳ năm nay rơi vào ngày Thứ Năm của tuần lễ thứ tư Tháng 11 là ngày 28-11-2019. Lễ Tạ Ơn Thanksgiving đã được nhân dân Hoa Kỳ đón mừng bằng một thời gian nghỉ cuối tuần dài ngày (long-week-end), với những bữa tiệc vui không bao giờ thiếu món gà tây nướng truyền thống. Gia đình, bạn bè tụ họp, tặng quà, chúc tụng nhau, để kỷ niệm một ngày mà từ thời lập quốc, Tổ Tiên họ đã dành để bầy tỏ sự cảm tạ và biết ơn Thượng Đế đã ban cho gặt hái được mùa màng tốt tươi và đời sống ấm no hạnh phúc.
22 Tháng Mười Một 2018 (Xem: 1124) Ngày Lễ Tạ Ơn đã trở thành một phần không thể thiếu đối với người dân Mỹ. Hằng năm , cứ tới ngày này người Mỹ lại háo hức chuẩn bị mọi thứ để đón một ngày lễ thật long trọng. Vậy các bạn biết bao nhiêu về ngày lễ này. Một chuyến khám phá nho nhỏ về ngày lễ này nhé.
Khách sạn kiểu nhà nghỉ cổ truyền của Nhật Bản với sàn lót chiếu tatami, giường trải nệm và phục vụ ẩm thực địa phương, Hoshi Ryokan được thành lập vào năm 718, được xem là một trong những khách sạn lâu đời nhất thế giới, với tuổi đời lên đến 1300 năm. Nó thuộc về duy nhất một gia tộc đã tồn tại 46 thế hệ. Bí quyết gì đã giúp khách sạn này trường tồn mãi với thời gian như vậy? Nguồn gốc về vị nhà sư xây dựng nên Hoshi Ryokan
Có lẽ sẽ bất ngờ hơn nữa nếu chúng ta biết rằng, vùng đất an yên đó có tên là Hunza, nó nằm trong đất nước bất an bậc nhất trên thế giới – Pakistan. Có lẽ, mọi người trên thế giới sẽ không ai biết đến khổ đau hay vất vả nếu chúng ta biết đủ, biết hài lòng với cuộc sống mà mình đang có. Bù lại đó, chúng ta sẽ có một cuộc sống vô cùng bình an không lo âu cùng nụ cười luôn nở trên môi và một sức khỏe thanh khiết tuyệt vời. Nghe có vẻ mơ hồ khó chạm tới, bởi làm sao có một người bình thường trên hành tinh này có thể đạt được "cảnh giới" đó?
Bảo Trợ