Việt Nam Trong Tôi: Làng Chiếu Cẩm Nê Một Chiều Thu Nắng Vàng

26 Tháng Tư 20193:04 SA(Xem: 540)

Hồng trần cuồn cuộn, trong dòng chảy mang tên “tiến bộ và phát triển”, người Việt đang từng bước đặt chân trên con đường “hội nhập”. Tuy nhiên, thuận theo việc cởi mở đón nhận cái mới, những điều mang cốt cách và linh hồn dân tộc cũng dần phai nhạt và bị lãng quên.

Chuyên đề “Việt Nam trong tôi” mong muốn tìm lại một Việt Nam tươi đẹp với thiên nhiên trong trẻo, thơ mộng và hùng vĩ, một Việt Nam hồn nhiên, mộc mạc trong từng nếp nghĩ, nếp sinh hoạt, một Việt Nam mang nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã dưỡng thành những con người đẹp nhân cách, đẹp cả tấm lòng.

Với tất cả sự chân thành và nhiệt tâm, mời quý độc giả cùng Đại Kỷ Nguyên bước lên chuyến hành trình tìm lại Việt Nam trong mỗi chúng ta.

***

Ghé Cẩm Nê vào một ngày đầy nắng cuối tháng 10, khác xa với trí tưởng tượng của Hạ Mi về một làng quê rộn rã sắc màu, chiếu giăng đầy sân, cói lát đầy vườn, tiếng kẽo kẹt thoi đưa nhịp nhàng đều chân… Làng chiếu giờ đây buồn bã và lặng lẽ hơn những ngày xa xưa nhiều lắm.

Làng Cẩm Nê thuộc xã Hòa Vang huyện Hòa Tiến, thuộc phía Tây Nam, cách thành phố biển Đà Nẵng 14 km. Qua khỏi trung tâm, con đường đến làng chiếu trải dài thênh thang, hai bên vẫn là những cánh đồng đang nằm dài nghỉ đông sau vụ chiêm bận rộn. Mây trời trong xanh hòa cùng nắng và gió biển khiến quang cảnh trước mắt trở nên thật rộng lớn và mênh mông.

Từ nhiều thế kỷ trước, đây từng là nơi hàng trăm hộ gia đình cùng nhau sản xuất chiếu đưa đi các nơi buôn bán. Chiếu Cẩm Nê dày, bền và đẹp, khi xưa từng được dâng vào nội triều để bậc vua chúa và đế vương sử dụng. Nhiều nghệ nhân của làng chiếu Cẩm Nê đã được phong chức sắc, có người tới hàng cửu phẩm. Trải bao thăng trầm cùng biến cố lịch sử, quang cảnh làm chiếu xưa giờ chỉ còn hiện về trong kí ức, tất cả đều trở thành dĩ vãng của quá khứ đã qua.

blank
Làng chiếu những ngày cuối thu. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Giữa cái nắng của buổi chiều thu rực rỡ, những bó cói mới phơi đầy trước sân, bên trong căn nhà nhỏ, một cụ bà vẫn đang miệt mài thắt từng nút, từng nút cho chiếc chiếu mới. Cụ đã ngồi đó và làm công việc này suốt gần 8 thập kỷ. Năm tháng trôi đi, cuộc sống xoay quanh cơm áo gạo tiền có lẽ đã khiến nhiều người quên, nhưng cụ Đào vẫn nhớ, nhớ đến từng chi tiết và kỷ niệm.

Gặp cụ Phan Thị Đào, 80 tuổi, nghệ nhân cuối cùng của làng chiếu Cẩm Nê đối với Hạ Mi và những người bạn là một mảnh ghép của nhiều xúc cảm khó quên. Đó là kỷ niệm đầu tiên đối với Đà Nẵng, với làng quê và con người nơi đây.

Nhìn mái tóc đã ngả màu bạc, đôi mắt đã đục mờ, làn da nhăn nheo của tuổi già, nhưng đôi bàn tay vẫn thoăn thoắt ghì mạnh từng mối nút cho chiếc chiếu mới khiến người xem có cảm giác say mê đến lạ. Cái nghề đối với cụ như là mối duyên nợ. Cuộc đời cụ vất vả, từ ngày còn nhỏ do cuộc sống khó khăn nên cụ Đào đã theo cha đi học làm chiếu cho tới tận khi con đàn cháu đống như bây giờ mà cũng không khá lên là bao. Cái nghề cùng cụ lớn lên, cùng cụ vui buồn và rồi cũng theo cụ mà già đi.

blank
Cụ Phan Thị Đào, nghệ nhân cần mẫn với nghề của làng chiếu Cẩm Nê. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Con trai cụ, anh Lê Tân kể lại:  

“Ngày đó thuê xe chở cả trăm chiếc chiếu đi đổ hàng ở vùng khác, khắp làng trên xóm dưới đều làm chiếu, vui lắm!”, nhưng “vui thì có vui nhưng mà cũng cực lắm”. Vì làng Cẩm Nê không trồng đay và lát nên người trong làng phải đến nơi khác mua nguyên liệu. Anh nhớ ngày đó phải ra tận Phú Lộc ngoài Huế mua lát. Mỗi lần đi là rất nhiều đàn ông trong làng cùng đi một chuyến mang theo cơm nắm cơm đùm. Ra Huế mua cả mảnh, cả ruộng rồi chia nhau cắt. Ai chăm thì cắt được nhiều, ai biếng thì cắt được ít hơn.

blank
Những bó lát được đem phơi dưới nắng. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Lát đưa về làng là mọi người phải thức đêm để chẻ, vì nếu cây khô sẽ không chẻ được. Sau công đoạn chẻ lát là phơi lát, lát cần được phơi nắng cho chuyển thành màu trắng, sợi lát càng trắng càng dễ bắt màu nhuộm.

Không giống như cách làm chiếu ở nhiều nơi, sợi lát của Cẩm Nê sau khi phơi nắng sẽ được đưa đi thay màu áo mới, tức là nhuộm màu trực tiếp, những sắc xanh, đỏ, tím, vàng… để chuẩn bị đưa lên khung dệt. Từng bó lát với những sắc màu khác nhau được đem ra phơi nắng tạo nên một khung cảnh vui tươi và sống động cho làng chiếu Cẩm Nê.

blank
Nhuộm lát là một công đoạn đặc biệt của chiếu Cẩm Nê. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Khung dệt chiếu gồm nhiều kích thước khác nhau để phục vụ nhu cầu của khách hàng, có loại mét tư, có loại mét sáu, mét tám. Ứng với mỗi loại chiếu, người thợ dệt sẽ chọn loại khung phù hợp. Mỗi lần dệt chiếu cần 2 người thợ, một người giữ khổ, một người cầm thoi, từng nhịp thoi đưa, khổ dệt đẩy qua đẩy lại đều tay như vậy, một chiếc chiếu hoàn thành cần mất khoảng 1 ngày là người ta có thể làm xong, chưa kể công đoạn bẻ biên và ghim đầu dây đay sao cho sợi lát không bị sụt ra. Không giống như nhiều loại chiếu nhiều vùng chỉ dùng vải may đùm, biên chiếu Cẩm Nê được làm rất công phu và cẩn thận tới từng sợi lát.

blank
Dù mắt đã mờ, tuổi đã cao nhưng đôi tay cụ Đào vẫn rắn chắc và khỏe mạnh ghì mạnh từng mối nút. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Nếu nhiều nơi, người ta chỉ dùng vải may đùm lên biên chiếu để giữ cho sợi lát không bị sụt ra. Nghệ nhân làng chiếu Cẩm Nê sẽ dùng cách đút ghim và bẻ biên. Kỹ thuật này khá công phu và tỉ mỉ, yêu cầu người nghệ nhân phải dùng lực, sự nhanh tay và kiên nhẫn.

Chiếu Cẩm Nê không yêu cầu cao về thẩm mỹ mà chú trọng nhiều vào độ bền và chắc, kỹ thuật nhuộm và màu nhuộm cũng cần được chú trọng sao cho sắc màu lâu phai. Với những công đoạn như vậy, người ta thường mất 2 ngày để dệt nên một chiếc chiếu hoàn chỉnh với điều kiện đã chuẩn bị xong nguyên liệu từ trước đó nhiều ngày. Vì sức khỏe giờ đây đã yếu đi nhiều, cụ Đào có thuê thêm 2 người trong làng đến nhà phụ cụ dệt chiếu, sau đó cụ sẽ làm công đoạn cuối cùng là bẻ biên và thắt nút chiều cho chắc. 

Chiếu Cẩm Nê bao đời vẫn vậy chẳng đổi, vẫn cách dệt đó, vẫn những sắc màu đó, vẫn chung thủy và tận tình với giấc ngủ của con người bao năm tháng.

Thiết nghĩ, cái chiếu Cẩm Nê quý không chỉ ở đường biên, mũi chỉ hay độ dày bằng gấp đôi chiếc chiếu của những nơi khác mà quý ở cái tâm của người làm chiếu. Họ mong mỏi chiếc chiếu mình làm ra đem bán cho người khác dùng cũng phải thật êm, thật bền, thật chắc. Ở đó, người ta không có tư duy làm sao được nhanh, được nhiều, thu được nhiều lợi. Có lẽ cũng bởi thế mà chiếu Cẩm Nê trở thành món hàng xưa đã hiếm nay càng hiếm hơn, hiếm cả về mặt hàng lại hiếm cả cái tâm của người làm ra chiếc chiếu. 

blank
Chiếu Cẩm Nê sau những ngày dài vất vả. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Đến Cẩm Nê, Hạ Mi và những người bạn thấy sức bền của sự kiên trì cố gắng. Năm tháng rồi có thể khiến đôi mắt ta mờ đi, làn da nhăn lại, mái tóc ngả màu bạc, nhịp đập trái tim yếu hơn nhưng chẳng thể khiến tâm người thay đổi. Gần 8 thập kỷ trôi qua, cụ Đào vẫn cần mẫn với công việc của mình, cụ vẫn ngồi đó dệt nên những câu chuyện, kỷ niệm, ký ức cho nghề chiếu nơi làng quê này.

Đến Cẩm Nê, những kí ức của làng tranh Đông Hồ lại ùa về, đó cũng là một làng nghề từng rất phát triển, nhưng rồi giờ đây chẳng ai thấy hình bóng của giấy dó đâu nữa. Là tranh thay đổi, là màu chiếu phai mờ, hay là do lòng người nay đã khác?

Trái Đất, năm Mậu Tuất, tháng Ất Sửu, ngày Tân Hợi 

Hạ Mi DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mùa thứ nhất của chương trình truyền hình 'The Good Place', Chidi Anagonye, giáo sư về triết học đạo đức luân lý, lâm vào tình huống khó xử khi một đồng nghiệp hỏi ý kiến của ông về đôi ủng mới. Chidi rõ ràng là không thích đôi ủng màu đỏ sặc sỡ có nạm những viên pha lê. Nhưng để không làm cho người đồng nghiệp buồn, ông nói rằng ông thích.
Nằm gần biên giới xứ Wales trên sông Wye, Nhà thờ Hereford của Anh đã thu hút những người thờ phụng kể từ cuối Thế kỷ thứ 7. Cấu trúc ngày nay được xây dựng lại vào những năm 1100 và được coi là một trong những ví dụ điển hình nhất của Vương quốc Anh về kiến ​​trúc nhà thờ Norman.
Thức ăn đường phố là một phần quan trọng trong thực đơn hàng ngày của người dân Bangkok. Khi chính phủ Thái Lan dọa cấm các quầy hàng trên đường phố, các người bán quà rong ở khu vực Ari của Bangkok đã áp dụng một thông lệ cổ về phối hợp màu sắc. Khi Vua Bhumibol Adulyadej của Thái Lan băng hà vào tháng 10/2016, các thần dân mặc đồ tang màu đen trong nhiều tháng để thể hiện lòng tôn trọng.
Mái tóc bạc trắng mỏng kẹp sang một bên, chiếc kính dày tựa trên sống mũi, cụ bà Ioanna Proiou luồn bàn tay nhăn nheo có những đốm đồi mồi lên những cuộn len màu xanh nhạt được căng ra trên chiếc khung cửi gỗ nặng nề. Cụ kéo chiếc đòn bẩy lên phía trước trên chiếc khung cửi được đóng thủ công và cụ cứ lặp đi lặp đi lặp động tác này - một kỹ thuật mà cụ đã thực hiện tới mức hoàn hảo trong suốt hơn 90 năm qua.
VOV.VN - Trước dòng sông chảy xiết và đàn cá sấu hung dữ, mẹ con ngựa vằn đã phải xoay xở và vùng vẫy hết sức để sinh tồn và vượt qua các mối đe dọa này. Kiều Anh/VOV.VN (biên tập) Theo BBC Earth
Trái ngược với nô lệ châu Phi, nô lệ da trắng có vị trí đảo ngược: chủ nô là những người Hồi giáo Bắc Phi vùng Địa Trung Hải, nô lệ là người da trắng châu Âu, nhưng không phải chỉ có vậy… Phải chăng chỉ có nô lệ da đen? Người ta thường kết tội nhiều về thảm kịch nô lệ châu Phi diễn ra từ giữa thế kỷ XVI tới tận thế kỷ XIX. Tuy nhiên, một hoạt động kinh doanh buôn bán người khác, cũng khủng khiếp tương tự như vậy, đã diễn ra cùng thời điểm đó ở khu vực Địa Trung Hải.
Người dân xác định 'philoxenia' (sự mến khách) là một sự nhiệt tình khiến người nước ngoài cảm thấy được chào đón ngay lập tức. Người dân định nghĩa khái niệm 'philoxenia' (mến khách) của Hy Lạp là một sự nhiệt tình khiến người nước ngoài ngay lập tức cảm thấy được chào đón. Ít thành phố trên thế giới cạnh tranh được với sự cổ đại của thành phố Athens, nơi mà con người sống liên tục hàng ngàn năm.
Tiếng Ý là một ngôn ngữ nồng say được tạo ra để làm say mê, quyến rũ và mê hoặc. Các nhà văn và nhà thơ đã gọt rũa văn phong và từ vựng cho nó qua nhiều thế kỷ, với vẻ đẹp và âm thanh coi đó như một số trong số những điều quan tâm chính yếu của họ. Nó lại xảy ra một lần nữa hôm vừa rồi. Tôi đang đi dạo phố ở thành phố quê hương tôi ở Mỹ thì tôi nghe thấy nó; một cặp vợ chồng nói tiếng Ý. Tôi vội vã theo kịp họ, đi gần để có thể nghe lén. Theo tôi hiểu thì họ đang nói về việc tu sửa ngôi nhà của họ. Một chủ đề không phải thanh lịch nhất. Nhưng những lời đó nghe thật đẹp đến mức tôi đã khóc.
Trong phần đầu của cuốn sách ‘Những Cuộc Phiêu Lưu của Gulliver’ của Jonathan Swift, Lemuel Gulliver trôi dạt vào bờ biển đảo Lilliput, nơi ông gặp những người Lilliput, chỉ cao hơn 15 cm một chút. Trong khi người Lilliput chỉ là sự tưởng tượng thì một làng có thể so sánh được đã tồn tại ở phía cực Đông của Iran. Cho đến khoảng một thế kỷ trước, một số cư dân của Makhunik, một ngôi làng 1500 năm tuổi cách biên giới Afghanistan khoảng 75 km, chỉ cao 1 mét, khoảng 50 cm thấp hơn chiều cao trung bình người thời đó.
Okinawa ở Nhật Bản có một trong những nơi tập trung cao nhất thế giới về người hơn 100 tuổi Dan Buettner đã nghiên cứu 5 địa điểm trên thế giới nơi mà người dân nổi tiếng sống lâu: Okinawa ở Nhật Bản, Nicoya ở Costa Rica, Icaria ở Hy Lạp, Loma Linda ở California và Sardinia ở Ý.
Bảo Trợ