Nỗi oan chôn chặt 40 năm của một gia đình vì pháp luật lỏng lẻo

27 Tháng Tư 201911:15 CH(Xem: 254)
  • Tác giả :

Nỗi oan chôn chặt 40 năm của một gia đình vì pháp luật lỏng lẻo

Diễm Thi, RFA
Các nạn nhân đến nhận và xem lại quyết định đình chỉ vụ án ở VKS Tây Ninh hôm 4/4/2019.
Các nạn nhân đến nhận và xem lại quyết định đình chỉ vụ án ở VKS Tây Ninh hôm 4/4/2019.
blank Photo courtesy of thanhnien

Một gia đình bị bắt oan, bị tù oan rồi được thả đã không thể kêu oan suốt 40 năm qua vì luật lúc bấy giờ không quy định phải cấp giấy trả tự do cho người bị tạm giam.

Bị bắt, bị tra tấn, được thả

Chỉ trong hai đêm gần cuối tháng 7 năm 1979, một gia đình tám người ở Tây Ninh đang yên ấm bỗng tan nát bởi bị nghi liên quan đến “vụ cướp năm chỉ vàng” tại nhà máy xay xát ở ấp Bùng Binh, xã Đôn Thuận, H.Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh.

Tám người bị bắt gồm vợ chồng ông Nguyễn Thành Nghị, bà Võ Thị Thương cùng con trai Nguyễn Văn Dũng (sinh năm 1961); vợ chồng ông Hồ Long Chánh, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan với bào thai 5 tháng tuổi; vợ chồng ông Nguyễn Văn Chiến, bà Nguyễn Thị Lan; ông Nguyễn Văn Dũng sinh năm 1958 là em bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Ông Nguyễn Văn Dũng sinh 1961 (Dũng nhỏ) nhớ lại:

“Cũng 40 năm rồi từ cái đêm 26-27/7/1979. Chỉ trong một đêm mà tám người trong thân tộc đau khổ cho tới bây giờ, tan nát đổ vỡ. Cả gia đình ly tán, con cái nhà cửa mất hết, tha phương cầu thực khắp nơi làm thuê làm mướn kiếm sống. Biết kêu ai vì mình là dân không rành về luật pháp. Đến bây giờ mọi người cũng trong hoàn cảnh khó khăn, bà già thì 94 tuổi rồi.”

Trong quyết định đình chỉ điều tra của cả tám người đều ghi bị nhục hình nên khai không đúng sự thật và bị tù oan.

Tại buổi gặp gỡ từng nạn nhân với đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao (VKSNDTC) sáng 25/4 vừa qua, những nạn nhân vẫn nhớ như in tên của những người đã đánh họ. Luật sư Phạm Công Út, một người trong nhóm luật sư đại diện cho bảy nạn nhân khẳng định:

“Từng nạn nhân thì họ đều khai đích danh hai ông Phùng Văn Tiết và Nguyễn Văn Rức đã dùng nhục hình với họ một cách tàn nhẫn để buộc họ phải nhận một cái tội mà họ không hề gây ra. Đây là cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự của hai người này. Vấn đề còn lại là thời hiệu. Trước mắt là cơ quan điều tra VKSNDTC sẽ khởi tố vụ án, khởi tố bị can.”

Ông Phùng Văn Tiết và Nguyễn Văn Rức là công an của đội Điều tra Công an huyện Trảng Bàng lúc bấy giờ.

Trò chuyện với RFA, ông Dũng sinh năm 1958 (Dũng lớn) cho rằng họ dùng nhục hình vì chuyên môn họ không có, sự phán đoán, nhận định sự việc không có cộng với tính độc đoán, mơ hồ họ bắt oan. Ông nhấn mạnh người dùng nhục hình với ông phải chịu trách nhiệm với ông vì chiếm đoạt tất cả tương lai sự nghiệp của ông.

Đại diện phía nguyên đơn (LS. Phạm Công Út) tại một phiên tòa.
Đại diện phía nguyên đơn (LS. Phạm Công Út) tại một phiên tòa. Photo courtesy of baomoi

Sau hơn 3 năm 9 tháng, ngày 11/5/1983, cả gia đình được thả nhưng chỉ duy nhất một người có quyết định đình chỉ điều tra là ông Nguyễn Văn Dũng sinh năm 1958. Bảy người còn lại mang mặc cảm bị can suốt bao năm qua. Đến nay một người đã mất là ông Nguyễn Thành Nghị, người cao tuổi nhất đã 94, người nhỏ tuổi nhất cũng đã 58.

Ông Dũng lớn cho biết lý do vì sao chỉ mình ông có được quyết định đình chỉ lúc được thả:

“Anh là người duy nhất nhận quyết định đình chỉ. Những người kia được thả vào buổi sáng, anh được thả khoảng hơn hai giờ chiều chứ không cùng lúc. Mới đầu anh cũng nghĩ mình không cần giấy tờ gì cả và mừng như chim sổ lồng. Nhưng vì anh là quân nhân nên anh sực nhớ mình phải có giấy tờ gì để chứng minh với đơn vị là mình là người bị oan nên anh quay lại nhờ quản giáo cho xin miếng giấy trả tự do chứ anh cũng không biết nó là giấy gì. Sau này anh mới biết đó là quyết định đình chỉ điều tra.”

Vì sao không thể kêu oan?

Trò chuyện với RFA, Luật sư Phạm Công Út nhớ chi tiết số phận từng con người. Ông chậm rãi kể rằng khi được thả ra sau 1.386 ngày bị giam cầm họ trở về nhà thì nhà đã mất, ruộng không còn. Họ trắng tay không còn gì ngoài tiếng đời là một gia đình bất lương. Họ xấu hổ, đau đớn, tủi nhục rời bỏ xứ sở lưu lạc để trốn tránh thân phận ‘bị can’, nhưng họ không thể kêu oan vì họ không có giấy tờ gì chứng minh mình bị oan:

Thời điểm năm 1983 chưa có Bộ luật tố tụng hình sự, tất cả áp dụng bằng sắc luật 03/1976. Sắc luật lúc đó rất sơ sài và hệ thống bộ máy tư pháp chưa hoàn thiện nên việc tống đạt một văn bản tố tụng không có  biên bản ký nhận.

Bên cơ quan giam giữ thì do luật pháp chưa hoàn thiện, không quy định thủ tục thả người bị giam thì phải đưa giấy tờ và phải ký tên. Chỉ một mình ông Dũng yêu cầu quyết định ra tù để về trình báo đơn vị do biến mất mấy năm trời. Còn bảy người kia như những con chim sổ lồng, họ không dám đòi hỏi gì hết, họ chỉ mơ ước tự do mà thôi.

Họ không có gì chứng minh họ bị oan nên họ không có cơ hội kêu oan. Chữ nghĩa thì không biết, tiền bạc thì không có.

Theo luật sư Phạm Công Út thì khi truyền thông trong và ngoài nước cũng như dư luận lên tiếng mạnh mẽ thì bảy người còn lại nhận được bảy bản photocopy quyết định đình chỉ được ký từ năm 1983.

Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (một trong các luật sư đại diện) cùng ông Nguyễn Văn Dũng (Dũng lớn)
Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (một trong các luật sư đại diện) cùng ông Nguyễn Văn Dũng (Dũng lớn) Photo courtesy of dantri

Vì trước đây chỉ có mình ông Dũng lớn có giấy tờ khi được thả nên chỉ mình ông có thể kêu oan, đòi bồi thường. Ông đã kiện, yêu cầu bồi thường hơn 10,4 tỉ đồng nhưng qua 2 cấp xét xử là TAND huyện Gò Dầu, TAND tỉnh Tây Ninh chỉ chấp nhận bồi thường 615 triệu đồng. Ông Dũng đang khiếu nại bản án trên. Ông cho biết khi giải quyết bồi thường không thỏa đáng thì ông đưa ngay ra tòa với mục đích lên tiếng cho những người còn lại:

“Mục đích anh đưa ra tòa để lên tiếng cho những người bị bắt chung trong vụ án này là thân tộc họ hàng, anh em ruột của anh.”

Ông Dũng nhỏ cho biết sau khi được thả vài năm cũng từng nghĩ đến chuyện đi kêu oan nhưng vô vọng:

“Mấy năm đầu có lên Viện kiểm sát hỏi thì họ nói giờ chưa có luật bồi thường nên về đi khi nào có thì họ gọi. Sau đó ông ở Viện kiểm sát chết rồi cũng không biết gì hết, không biết nhờ ai…

Trước kia thì tuyệt vọng vì tiếng kêu không thấu được ở trên. Đơn đi thì có mà đơn về thì không, không một ai trả lời hết. Nhiều năm tuyệt vọng rồi. Khi gặp được các luật sư thì tui tụi hy vọng có ngày mình được giải oan, được trả lại sự công bằng, trả lại quyền công dân.”

Bồi thường

Những nạn nhân chúng tôi được trao đổi qua điện thoại đều cho biết trước đây họ chưa bao giờ dám nghĩ đến ngày được minh oan chứ nói gì đến bồi thường. Bây giờ bồi thường với họ bao nhiêu cũng không thể bù đắp những mất mát quá lớn trong cuộc đời họ.

Luật sư Phạm Công Út cũng cho biết nguyện vọng lớn nhất của các nạn nhân là được minh oan một cách công khai:

Họ đòi hai vấn đề: Thứ nhất phải xin lỗi công khai tại địa phương nơi cư trú; phải cải chính trên báo chí trong ba số liên tiếp, báo trung ương và báo địa phương mà trường hợp này họ chỉ định báo Thanh Niên vì đã đồng hành cùng họ phủi lớp bụi thời gian của vụ án. Báo địa phương là báo tây Ninh.

Trong bảy người này có ba nơi cư trú. Một là xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Số còn lại lưu lạc ở hai xã khác thuộc huyện Dầu Tiếng. Viện kiểm sát phải đến những nơi này tổ chức xin lỗi công khai các nạn nhân.

Thứ hai là phải bổi thường danh dự, sức khỏe, uy tín của họ bằng tiền và trả lại tài sản mất mát bằng hiện kim theo quy định của Nhà nước.”

Cụ bà Võ Thị Thương.
Cụ bà Võ Thị Thương. Photo courtesy of Thanhnien

Bà Võ Thị Thương năm nay đã 94 bày tỏ nguyện vọng của mình với luật sư là bà muốn được minh oan để ngày bà về nơi chín suối bà sẽ nói với ông Nguyễn Thành Nghị rằng gia đình mình đã được minh oan. Bà giờ như ngọn nến trước gió không biết sẽ tắt lúc nào. Luật sư Phạm Công Út cho biết các luật sư đã cảnh báo với bên cơ quan làm oan (Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Tây Ninh) rằng phải làm đúng luật. Ông cho biết bất cứ sự chậm trễ nào trong việc minh oan cho người dân khi một trong những người này qua đời, sẽ tạo sự phẫn nộ ghê gớm. Nói về thủ tục minh oan, bồi thường, luật sư Phạm Công Út cho biết:

“Thủ tục bồi thường đã gởi cho bên cơ quan làm oan. Với sáu người còn sống thì bồi thường tính đến ngày 4/4/2019, riêng ông Nguyễn Thành Nghị thì tính đến ngày 23/4/2019 do thủ tục hành chánh.

Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước sửa đổi bổ sung 2015 thì sau khi thụ lý họ chỉ có 15 ngày để xác minh thiệt hại về tinh thần, thể chất, tài sản. Nếu phức tạp thì có thể kéo dài đến 30 ngày hoặc phải thỏa thuận với người bị oan về thời gian xác minh.

Theo luật mới thì bên yêu cầu bồi thường sẽ kèm theo yêu cầu tạm ứng kinh phí bồi thường trong vòng hai ngày làm việc sau khi thụ lý hồ sơ. Tôi hy vọng trong vài ngày tới thì những nạn nhân sẽ được nhận tạm ứng.

Vụ án oan 40 năm đã khép lại nhưng những tổn thất của những nạn nhân thì không thể nào bù đắp được bằng vật chất như lời ông Hồ Long Chánh:

Quá đau khổ, bây giờ có bồi thường bao nhiêu cũng không thể giải quyết được về tinh thần. Mấy chục năm mất mát từ tinh thần, vật chất, con người…đau cả thể xác lẫn tâm hồn.

Ông nói thêm rằng được minh oan con người trong sáng, trong sạch là một danh dự quá lớn lao và ông mang ơn những luật sư, họ là những đại ân nhân của gia đình ông.
Theo RFI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) hôm 13/5/2019 công bố một bản danh sách gồm 128 Tù nhân lương tâm VN hiện đang bị giam giữ, đây là những người bị chính quyền VN cầm tù vì biểu lộ niềm tin theo lương tâm của họ một cách bất bạo động. Trong bản danh sách này có anh Nguyễn Văn Hóa, phóng viên Đài Á Châu Tự Do, người bị bắt giữ hồi tháng 1/2017 khi đang ghi nhận những hình ảnh người dân miền Trung biểu tình liên quan đến thảm họa môi trường do công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra và bị kết án 7 năm tù giam.
Dự án đường sắt Cát Linh Hà Đông được khởi công từ năm 2011 với vốn ban đầu là 419 triệu đô la với dự kiến hoàn tất vào năm 2013 nhưng đã không thể hoàn tất theo dự kiến và còn bị đội vốn lên 886 triệu đô la. Trong số này có đến hơn 600 triệu đô la là tiền vay của Trung Quốc. Truyền thông trong nước những ngày gần đây đưa tin và hình ảnh cho thấy một số hạng mục công trình đã bị hư hại dù chưa đi vào hoạt động.
Như mọi người đã biết, từ ngày 04 đến 08/01/2019, Đoàn cưỡng chế của chính quyền quận Tân Bình đã tiến hành san ủi phá hủy hàng trăm căn nhà và tài sản trong nhà, đuổi người dân ra khỏi khu đất VRLH. Đây là khu đất mà người dân đã sử dụng để canh tác trồng rau, sau đó cất nhà để ở, kinh doanh - trong suốt thời gian từ 1954 đến 2018, trên 60 năm. Vì chính quyền tiến hành cưỡng chế mà không có quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế và thông báo cưỡng chế theo quy định của pháp luật, cũng như chưa hề làm việc, thỏa thuận với người dân
Nhà hoạt động Lê Anh Hùng hiện đang bị đưa vào Bệnh viên Tâm Thần Trung Ương I tại Hà Nội. Thân nhân của nhà hoạt động Lê Anh Hùng gồm mẹ là bà Trần Thị Niêm, em trai, được cho thăm gặp và thông báo cho các bạn bè của nhà hoạt động này. Theo đó thì ông Lê Anh Hùng trông rất phờ phạc, yếu đi. Gia đình cho biết ông Lê Anh Hùng bị cưỡng bức tiêm thuốc điều trị tâm thần. Bản thân ông này ý thức được biện pháp đó và nhờ thân nhân chuyển lời kêu cứu đến các nhà hoạt động khác đang ở bên ngoài lên tiếng giúp đỡ.
Mọi sự đã rõ ràng thế mà ông nhà báo quốc tế vẫn còn tiếp tục nói đã gửi hồ sơ tới tổ chức quốc tế để họ gửi công hàm sang Việt Nam làm rõ trắng đen. Khi được phóng viên Tiền Phong hỏi đó là tổ chức nào, ông Tuấn trả lời: “Đó là Chủ tịch Hiệp hội đối ngoại châu Âu -cơ quan chủ quản của Tạp chí chống tham nhũng và hợp tác quốc tế mà tôi đang phụ trách, có chỉ số ISSN quốc tế, trung tâm tại Pháp cấp, có giấy phép xuất bản của Bộ văn hóa Cộng hòa Séc.”
Một đóng góp rất ý nghĩa, to lớn khác của người Công giáo - mà đến giờ nhiều người ở Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ vẫn không biết - là chữ quốc ngữ. Nếu không có cha Alexandre de Rhodes và các giáo sỹ phương Tây khác, chắc nhiều người Việt đã, đang và sẽ phải mù chữ vì chữ Hán hay chữ Nôm rất khó học. Và nếu không có Tiếng Việt, một ngôn ngữ riêng cho chính mình, chắc chắn Việt Nam còn lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc và như vậy vấn đề thoát Trung đối với Việt Nam đã khó lại càng khó. Nhưng, phần lớn vì hiềm khích hay nghi kỵ, vai trò, đóng góp của Giáo hội tại Việt Nam thường bị xem nhẹ, lãng quên.
“Điều nguy hiểm là Formosa cố tình giấu nhẹm các cơ quan hữu trách, nhập nhèm không minh bạch trong vấn đề xử lý chất thải độc hại và người lãnh đủ sẽ là người dân Việt Nam, tài nguyên Việt Nam và môi trường Việt Nam. Trong khi đó, những kẻ mở cửa rước Formosa về giày mả tổ thì vẫn ung dung hưởng thụ những đồng tiền tanh bẩn từ việc bán đứng một vùng quê cho Formosa vùng vẫy.”
Trạm BOT Hòa Lạc – Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình buộc phải xả trạm vào khoảng 10 giờ sáng ngày 7/5, sau khi bị ùn tắc kéo dài do nhiều người dân dừng xe phản đối.- Truyền thông trong nước loan tin trong cùng ngày.- Theo đó, người dân tại các xã lân cận trạm thu phí đã tụ tập tại trạm BOT Hòa Lạc – Hòa Bình để yêu cầu miễn giảm 100% cho các hộ dân xung quanh, kể cả hơn 200 xe không chính chủ, tức xe chưa đổi tên chủ sở hữu.
“Chính phủ Việt Nam có phải là một chính phủ phục vụ vì dân, phục vụ cho nhân dân hay không? Nếu đúng như vậy thì tại sao những người lao động đến từ các nước như Indonesia, Thái Lan hay Philippines, họ chỉ phải trả mức phí từ 1.000 đến 3.000 đô la, mà người Việt chúng ta phải trả mức phí cao ngất ngưởng đến như vậy? Hay chính phủ Việt Nam là chính phủ chỉ biết quan tâm đến thuế phí, tham nhũng, o ép người dân, chỉ biết bắt tay với công ty môi giới bóc lột và hút máu của người lao động”.
Với những dẫn chứng có thể thấy, khi Luật An ninh mạng vấp phải sự phản đối từ cộng đồng quốc tế, nhà cầm quyền đã thay đổi chiến thuật bắt người nhằm gieo rắc sự sợ hãi ở các tỉnh, thành phố khác nhau. Điều đáng quan ngại là sự gia tăng bắt bớ này diễn ra rất khéo léo. Và quan trọng hơn, tiến trình kiểm soát sự tự do trên không gian mạng đang diễn ra từng ngày sau khi Luật ANM có hiệu lực. Chắc hẳn khi đọc đến đây, người đọc đã có câu trả lời cho câu hỏi liệu Việt Nam có sao chép mô hình quản lý công dân từ Trung Quốc hay không.
Bảo Trợ