Thảm Sát Huế

25 Tháng Hai 20184:48 CH(Xem: 322)

Thảm sát Huế

blank
James Jones * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Dù đạt được bất kỳ điều gì chăng nữa, thảm sát Huế trên thực tế đã làm cho đại đa số người dân Nam Việt thù ghét cộng sản Bắc Việt. Bất kỳ ta đi đâu ở Nam Việt vào năm 1973 này, từ Cần Thơ ở vùng châu thổ đến Tây Ninh đến Kon Tum ở phía bắc, và tất nhiên ở Huế, ta đều nghe người ta vẫn còn nói về những cuộc thảm sát vào dịp Tết năm 1968.


Trong 24 ngày trong tháng Hai, 1968, quân Bắc Việt và Việt Cộng đã bắn chết, đập chết, hay chôn sống một cách cố ý và đúng bài bản khoảng 2.800 người dân Huế-nhân viên chính quyền, nhân viên hành chánh, học sinh sinh viên, thầy cô giáo, linh mục, nhân viên phát triển nông thôn, cảnh sát, nhóm bác sĩ ngoại quốc; bất kỳ ai và tất cả những ai liên quan đến việc dạy dỗ thanh thiếu niên, điều hành thành phố, hay giúp đỡ dân chúng bất luận việc gì.


Rõ ràng những vụ giết người này thuộc về một chiến dịch đã dự định trước. Những kế hoạch được soạn thảo một cách chi tiết được phân phát mà chia thành phố ra thành những khu vực mục tiêu và liệt kê tên những mục tiêu con người sống trên mỗi đường phố. Những mục tiêu này phải bị bắt, phải đưa ra khỏi thành phố và phải bị giết. Họ cố lấy lòng Phật tử và người Pháp, nhưng những thường dân ngoại quốc khác, đặc biệt người Mỹ, người Đức và người Phi, cũng bị bắt đi và "bị trừng phạt".


Những người lãnh đạo Bắc Việt và Việt Cộng hiển nhiên biết họ không thể nào hy vọng giữ được Huế rất lâu. Thật khó thấy chính xác họ hy vọng đạt được những gì từ các vụ thảm sát này. Điều họ thực sự đã đạt được chính là lòng căm thù khôn nguôi của hầu như mỗi người dân miền Nam mà trước đây biết đâu có lẽ lưỡng lự chấp nhận họ.


Chính chỉ sau khi các vụ thảm sát ở Huế mà chính quyền Nam Việt có thể ban hành lệnh tổng động viên và quân dịch, một điều mà trước đây chưa từng bao giờ thực hiện, nhờ đấy sức mạnh quân sự của chính quyền miền Nam tăng gần gấp đôi. Huế, mỉa mai thay, lại khiến cho chính quyền Nam Việt càng mạnh hơn bao giờ hết.


Chiến trận Huế thực sự được truyền thông ở Mỹ vào năm 1968 tường thuật rất nhiều, nhưng hậu quả của nó thì không được tường thuật nhiều bằng. Hậu quả ấy chậm đưa ra ánh sáng, phần vì trong một thời gian khá dài dân chúng sợ nói về điều này, phần vì phải mất thời gian dài mới tìm ra được tất cả những thi hài, trong số ấy có nhiều thi hài của những người bị giải đi đến, nói một cách hình ảnh, "lò sát sanh"-vào những nơi đèo núi xa xôi trước khi bị sát hại. Ở Mỹ một vài bài báo tường thuật chuyện này nhưng chúng biến mất nhanh chóng.


Mãi tới năm sau nhiều hố chôn tập thể mới được khám phá. Rồi chính mãi tới tháng Mười Một, 1969, lúc một bài diễn văn của Nixon dùng Huế để biện minh cho việc rút lui chậm chạp ra khỏi Việt Nam thì chủ đề thảm sát mới nhận được thêm nhiều quan tâm trên báo chí. Nhưng vào lúc ấy, ít phóng viên Mỹ nào còn thấy thích hợp để nhận trách nhiệm điều tra cuộc thảm sát. Chẳng ai cố gắng viết bài tố cáo nghiêm túc. Huế không còn là tin tức nữa. Tâm trạng phản chiến chống Mỹ dâng cao ở trong nước. Tại sao cứ chống lại tâm trạng ấy nhân danh sự nghiệp của những sự thật không hợp lòng dân? Tập trung vào sự thối nát của chính chúng ta ở Mỹ Lai thì tốt hơn rất nhiều. Ít ra về chuyện ấy chúng ta có thể làm được điều gì đấy.


Một số tác giả người Mỹ, trong họ ít nhất một người từng sống ở Huế và sau đấy trở lại thăm Huế, đã viết nhiều bài để làm cho các cuộc thảm sát giảm xuống đến mức tối thiểu và chứng minh rằng những vụ giết người tập thể này không phải là chủ trương của Bắc Việt - Việt Cộng, mà chỉ là những hành vi của những người lính tức giận trong cuộc giao chiến ác liệt. Mặc dù có nhiều luận điệu bác lại cuộc nghiên cứu này, nhưng các vụ giết người ở Huế được cho là dù gì đi nữa cũng là mưu toan chính trị của Nixon. Không như nước Mỹ tự do nghĩ, những vụ giết người tập thể này đã không thật sự xảy ra.


Nhưng cách lập luận ấy tưởng đúng nhưng thực ra giả dối: áp dụng đạo đức phim cao bồi Mỹ của chúng ta, chúng ta xác định rằng nếu như chúng ta là những kẻ xấu, thì phe bên kia ắt hẳn là những người tốt. Cộng sản đã giải quyết vụ này gần như hoàn hảo, nhưng câu trả lời suy ra từ đấy không nhất thiết là đúng.


Một trong những mồ tập thể cuối cùng tìm được ở Huế là một khe suối trong núi với nước chảy trong veo róc rách ở tận sâu hàng cây số trong vùng căn cứ địa miền núi. Dưới lòng khe suối trong rừng thẳm ấy là núi xương cốt của độ 400 thi hài, tất cả xương cốt đều bị dòng nước trong veo, ngọt mát cuốn đi rồi dồn lại một đống. Qua xem xét những cái sọ riêng biệt tìm thấy ấy (sọ tròn, thịt đã thối rửa hết) chứng tỏ rằng hầu như không có ngoại lệ tất cả những người dân nạn nhân này đều đã bị đập chết, có lẽ bằng báng súng hay thanh gỗ. Không ai biết họ giết người như thế là để tiết kiệm đạn hay là dấu hiệu của sự khinh bỉ. Tất cả những xương cốt bị dồn một đống lại với nhau, hầu như không có một thi hài nào còn có thể nhận dạng được. Tất cả cuối cùng được mai táng chung với nhau trong ngôi mộ tập thể lớn.


Đây chắc chắn không phải là kết quả của "cuộc giao tranh ác liệt". Khi ta ngồi suy tưởng đến tình cảnh như thế nào chắc phải xảy ra khi họ bị giải đi trên đường, ta cảm thấy gần như kinh hoàng. Những người dân thường nam lẫn nữ, không có tập luyện thể dục, không quen bị giải đi nặng nhọc, hai tay bị trói ra đằng sau, đi hàng biết bao nhiêu cây số trong suốt biết bao nhiêu giờ, leo lên những con đường mòn núi đá dốc đứng dưới cái nắng khủng khiếp ấy, rồi lại đi xuống núi, mà lại càng mệt mỏi hơn, đi mà hầu như biết chắc kết cục rồi sẽ thế nào.


Thật không dễ dàng gì đập ngã 400 người. Không thể nào đập chết họ cùng một lúc, nếu không có mỗi người lính cho mỗi người tù. Ta tự hỏi người lính áp giải trên chuyến đi ấy phải là người như thế nào. Cho đến nay theo như người ta biết không có một người lính Việt Cộng nào hay một cựu chiến binh Bắc Việt nào đứng ra phản đối chính thức với chính quyền mình về tội ác này, hay làm phim về cảm tưởng của mình về tội ác ấy. Cho đến nay theo như người ta biết Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Cộng và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Bắc Việt đều không có cuộc điều tra chính thức nào về tội ác ấy, hay cũng không kết án bất kỳ những ai can dự.


James Jones (1921-1977) là nhà văn Mỹ nổi tiếng thế giới với tác phẩm đầu tay "From Here to Eternity " được đoạt giải National Book Award vaò năm 1952.
Nguồn:
Trích dịch từ bài viết "In the shadow of peace" viết từ Huế của nhà văn Mỹ James Jones đăng trong tờ The New York Times số ra ngày 10 tháng Sáu 1973.
blank
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) hôm 13/5/2019 công bố một bản danh sách gồm 128 Tù nhân lương tâm VN hiện đang bị giam giữ, đây là những người bị chính quyền VN cầm tù vì biểu lộ niềm tin theo lương tâm của họ một cách bất bạo động. Trong bản danh sách này có anh Nguyễn Văn Hóa, phóng viên Đài Á Châu Tự Do, người bị bắt giữ hồi tháng 1/2017 khi đang ghi nhận những hình ảnh người dân miền Trung biểu tình liên quan đến thảm họa môi trường do công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra và bị kết án 7 năm tù giam.
Dự án đường sắt Cát Linh Hà Đông được khởi công từ năm 2011 với vốn ban đầu là 419 triệu đô la với dự kiến hoàn tất vào năm 2013 nhưng đã không thể hoàn tất theo dự kiến và còn bị đội vốn lên 886 triệu đô la. Trong số này có đến hơn 600 triệu đô la là tiền vay của Trung Quốc. Truyền thông trong nước những ngày gần đây đưa tin và hình ảnh cho thấy một số hạng mục công trình đã bị hư hại dù chưa đi vào hoạt động.
Như mọi người đã biết, từ ngày 04 đến 08/01/2019, Đoàn cưỡng chế của chính quyền quận Tân Bình đã tiến hành san ủi phá hủy hàng trăm căn nhà và tài sản trong nhà, đuổi người dân ra khỏi khu đất VRLH. Đây là khu đất mà người dân đã sử dụng để canh tác trồng rau, sau đó cất nhà để ở, kinh doanh - trong suốt thời gian từ 1954 đến 2018, trên 60 năm. Vì chính quyền tiến hành cưỡng chế mà không có quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế và thông báo cưỡng chế theo quy định của pháp luật, cũng như chưa hề làm việc, thỏa thuận với người dân
Nhà hoạt động Lê Anh Hùng hiện đang bị đưa vào Bệnh viên Tâm Thần Trung Ương I tại Hà Nội. Thân nhân của nhà hoạt động Lê Anh Hùng gồm mẹ là bà Trần Thị Niêm, em trai, được cho thăm gặp và thông báo cho các bạn bè của nhà hoạt động này. Theo đó thì ông Lê Anh Hùng trông rất phờ phạc, yếu đi. Gia đình cho biết ông Lê Anh Hùng bị cưỡng bức tiêm thuốc điều trị tâm thần. Bản thân ông này ý thức được biện pháp đó và nhờ thân nhân chuyển lời kêu cứu đến các nhà hoạt động khác đang ở bên ngoài lên tiếng giúp đỡ.
Mọi sự đã rõ ràng thế mà ông nhà báo quốc tế vẫn còn tiếp tục nói đã gửi hồ sơ tới tổ chức quốc tế để họ gửi công hàm sang Việt Nam làm rõ trắng đen. Khi được phóng viên Tiền Phong hỏi đó là tổ chức nào, ông Tuấn trả lời: “Đó là Chủ tịch Hiệp hội đối ngoại châu Âu -cơ quan chủ quản của Tạp chí chống tham nhũng và hợp tác quốc tế mà tôi đang phụ trách, có chỉ số ISSN quốc tế, trung tâm tại Pháp cấp, có giấy phép xuất bản của Bộ văn hóa Cộng hòa Séc.”
Một đóng góp rất ý nghĩa, to lớn khác của người Công giáo - mà đến giờ nhiều người ở Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ vẫn không biết - là chữ quốc ngữ. Nếu không có cha Alexandre de Rhodes và các giáo sỹ phương Tây khác, chắc nhiều người Việt đã, đang và sẽ phải mù chữ vì chữ Hán hay chữ Nôm rất khó học. Và nếu không có Tiếng Việt, một ngôn ngữ riêng cho chính mình, chắc chắn Việt Nam còn lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc và như vậy vấn đề thoát Trung đối với Việt Nam đã khó lại càng khó. Nhưng, phần lớn vì hiềm khích hay nghi kỵ, vai trò, đóng góp của Giáo hội tại Việt Nam thường bị xem nhẹ, lãng quên.
“Điều nguy hiểm là Formosa cố tình giấu nhẹm các cơ quan hữu trách, nhập nhèm không minh bạch trong vấn đề xử lý chất thải độc hại và người lãnh đủ sẽ là người dân Việt Nam, tài nguyên Việt Nam và môi trường Việt Nam. Trong khi đó, những kẻ mở cửa rước Formosa về giày mả tổ thì vẫn ung dung hưởng thụ những đồng tiền tanh bẩn từ việc bán đứng một vùng quê cho Formosa vùng vẫy.”
Trạm BOT Hòa Lạc – Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình buộc phải xả trạm vào khoảng 10 giờ sáng ngày 7/5, sau khi bị ùn tắc kéo dài do nhiều người dân dừng xe phản đối.- Truyền thông trong nước loan tin trong cùng ngày.- Theo đó, người dân tại các xã lân cận trạm thu phí đã tụ tập tại trạm BOT Hòa Lạc – Hòa Bình để yêu cầu miễn giảm 100% cho các hộ dân xung quanh, kể cả hơn 200 xe không chính chủ, tức xe chưa đổi tên chủ sở hữu.
“Chính phủ Việt Nam có phải là một chính phủ phục vụ vì dân, phục vụ cho nhân dân hay không? Nếu đúng như vậy thì tại sao những người lao động đến từ các nước như Indonesia, Thái Lan hay Philippines, họ chỉ phải trả mức phí từ 1.000 đến 3.000 đô la, mà người Việt chúng ta phải trả mức phí cao ngất ngưởng đến như vậy? Hay chính phủ Việt Nam là chính phủ chỉ biết quan tâm đến thuế phí, tham nhũng, o ép người dân, chỉ biết bắt tay với công ty môi giới bóc lột và hút máu của người lao động”.
Với những dẫn chứng có thể thấy, khi Luật An ninh mạng vấp phải sự phản đối từ cộng đồng quốc tế, nhà cầm quyền đã thay đổi chiến thuật bắt người nhằm gieo rắc sự sợ hãi ở các tỉnh, thành phố khác nhau. Điều đáng quan ngại là sự gia tăng bắt bớ này diễn ra rất khéo léo. Và quan trọng hơn, tiến trình kiểm soát sự tự do trên không gian mạng đang diễn ra từng ngày sau khi Luật ANM có hiệu lực. Chắc hẳn khi đọc đến đây, người đọc đã có câu trả lời cho câu hỏi liệu Việt Nam có sao chép mô hình quản lý công dân từ Trung Quốc hay không.
Bảo Trợ