Trẻ Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm Sẽ Có Nguy Cơ Chết Sớm?

14 Tháng Năm 20192:43 SA(Xem: 434)

Trẻ thụ tinh trong ống nghiệm sẽ có nguy cơ chết sớm?

Các nhà khoa học đã phát hiện ra một mối nguy cơ mới có thể ảnh hưởng lớn đến công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm.

Telegraph dẫn lời các chuyên gia về lĩnh vực sinh học tiến hóa đã cảnh báo trong một bài nghiên cứu gần đây rằng, trẻ em được sinh ra từ công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization - IVF) có thể sẽ có tuổi thọ ngắn hơn và sức khỏe kém hơn khi so sánh với những đứa trẻ thông thường. Nguyên nhân của hiện tượng này là vì công nghệ hỗ trợ sinh sản đã làm bỏ qua quá trình chọn lọc tự nhiên vô cùng quan trọng trong cơ thể.

Người lớn tuổi nhất thế giới được sinh sản bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là một phụ nữ người Anh tên là Louise Brown. Hiện nay, bà cũng chỉ mới 37 tuổi. Chính vì thế, sẽ phải mất một thời gian khá lâu nữa để lý thuyết trên có thể được kiểm chứng rõ ràng.

Theo Pascal Gagneux, Phó Giáo sư của trường Đại học California, San Diego cho rằng, những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe và tuổi thọ có thể phát sinh do tinh trùng khỏe mạnh nhất đã không được lựa chọn trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm.

Khi quá trình giao hợp hoàn tất, hàng triệu tinh trùng sẽ chiến đấu với nhau theo một cách thức rất đặc thù bên trong cơ quan sinh dục của phụ nữ. Từ đó, số tinh trùng sẽ được giảm xuống chỉ còn khoảng hơn một trăm. Và cuối cùng chỉ có tinh trùng khỏe mạnh nhất có thể tiếp cận được với trứng.

blank
Đã có hơn 5 triệu trẻ em được sinh ra từ "ống nghiệm" trên toàn thế giới.

Nhưng trong kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trứng có thể được đặt tùy ý giữa hàng triệu tinh trùng hoặc các nhà khoa học sẽ chọn ra một con tinh trùng bất kì và cấy vào trứng. Điều này sẽ làm dẫn đến nguy cơ có những tinh trùng yếu ớt hoặc phát triển không hoàn thiện có được cơ hội thụ tinh với trứng và cho ra đời những đứa trẻ không khỏe mạnh.

Thụ tinh trong ống nghiệm và những phương pháp hỗ trợ sinh sản khác vẫn còn ẩn chứa nhiều vấn đề phức tạp chưa được nghiên cứu sâu.

Tinh trùng muốn xuyên thủng màng sáng của trứng đòi hỏi phải trải qua quá trình biến đổi gọi là tiềm năng hóa (capacitation). Quá trình tiềm năng hóa cũng xảy ra trong điều kiện ống nghiệm (in vitro) khi tinh trùng được ủ trong chất dịch lấy ra từ tử cung hay ống dẫn trứng. Trước khi xảy ra quá trình này, tinh trùng động vật có vú ở trong tình trạng ít hoạt động mà chủ yếu là tích trữ năng lượng và chuẩn bị các điều kiện cho đến khi gặp trứng. Một tinh trùng có tiềm năng là tinh trùng có khả năng hoạt động và chuyển động của cơ quan vận chuyển. Cơ chế phân tử của quá trình tiềm năng hóa hiện chưa được biết nhiều. Người ta cho rằng chúng có thể làm thay đổi thành phần màng sinh chất của tế bào như làm giảm tỷ lệ photpholipid. Một quan điểm khác lại cho rằng kết quả của quá trình tiềm năng hóa là làm thay đổi tế bào chất trong phần đỉnh của tinh trùng.

Các nhà khoa học cho rằng, khi sử dụng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, quá trình tiềm năng hóa của tinh trùng sẽ không diễn ra đầy đủ và đúng theo quy luật giống như môi trường tự nhiên. Vì tinh trùng và trứng là những hạt mầm ban đầu của sự sống, nên bất kì một sự thay đổi nào dù là nhỏ nhất cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống sau này của sinh vật.

Hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm được sử dụng lần đầu tại Anh vào năm 1978. Từ thời điểm đó cho đến nay, đã có hơn 5 triệu trẻ em được sinh ra bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trên toàn thế giới.

Những thí nghiệm gần đây cho thấy, những con chuột được sinh ra bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sẽ xuất hiện hội chứng rối loạn chuyển hóa khi chúng lớn lên. Bên cạnh đó, một số con chuột đã xuất hiện tình trạng tiểu đường và béo phì kết hợp cũng như rối loạn chức năng nội tiết tố.

Một nghiên cứu trong năm 2015 của Trung tâm tim mạch của Thụy Sĩ ở Bern cũng phát hiện ra rằng, những trẻ em được sinh ra bằng công nghệ hỗ trợ sinh sản có sức khỏe tim mạch kém hơn so với các trẻ em bình thường.

Hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm được sử dụng lần đầu tại Anh vào năm 1978.
Hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm được sử dụng lần đầu tại Anh vào năm 1978.

Thụ tinh trong ống nghiệm là gì?

Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization – IVF) là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm.

Đây là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do gì đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên.

Sự rụng trứng được điều khiển bởi hormone và trứng đã thụ tinh sẽ được đưa vào tử cung. Người được thụ tinh được tiêm thuốc gonadotrophin để kích thích trứng lớn. Việc này được thực hiện dưới sự kiểm soát chặt chẽ về y tế, sử dụng lượng hormone vừa đúng, sau đó sẽ bác sĩ tiến hành siêu âm để phát hiện những trứng lớn.

Khi trứng lớn, chúng sẽ được hút ra khi đã chín nhưng chưa tự phóng. Hormone gondotropins, loại hormone gây tắt kinh nguyệtcủa người được dùng để kích thích rụng trứng. 36 giờ sau, bào tương (chứa tế bào trứng) sẽ được lấy ra bằng đường âm đạo (bằng kim và siêu âm). Các trứng trong bào tương sẽ được thụ tinh với tinh trùng đã lấy từ trước, và 2 trứng đã thụ tinh sẽ được đưa lại vào tử cung người phụ nữ.


Theo KhoahocTV - Khampha
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thành Venice nước Ý còn được gọi với một tên khác là Thành phố Nổi. Đó là vì Venice là một quần thể 118 hỏn đảo nhỏ kết nối với nhau bởi một loạt cây cầu và kênh rạch. Tuy vậy, Venice không phải được xây dựng trực tiếp trên các hòn đảo, mà là trên một hệ thống sàn gỗ được chống đỡ bởi các cọc gỗ đóng xuống dưới nước.
LAS VEGAS, Nevada (NV) – Tỷ phú giàu nhất thế giới năm 2019 trong danh sách của tạp chí Forbes với tổng tài sản $143 tỷ, gửi lời khuyên đến những người muốn bắt đầu kinh doanh riêng rằng: “Hãy sẵn sàng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm. Thất bại dù có nặng nề là một phần trên con đường đến thành công.”
Trước đây người ta thường cho rằng trí nhớ dài hạn là loại trí nhớ chỉ có ở loài người. Nhưng những kết quả nghiên cứu mới đây đã làm giới khoa học phải thay đổi cách nghĩ của mình về trí nhớ của động vật.
Lời tòa soạn: Việc cơ quan công lực Hoa Kỳ khám phá ra đường dây “kết hôn giả” liên quan tới hàng trăm người tại Houston, Texas và đưa ra tòa vào ngày 10 Tháng Năm, 2019, vừa qua đã gây rúng động trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Để độc giả hiểu rõ hơn về những hậu quả của “kết hôn giả” và những vấn đề liên quan đến luật pháp của việc này, nhật báo Người Việt đã có bài phỏng vấn cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ.
Ngoài tác dụng giảm cân, ớt còn là loại thực phẩm có thể giúp bạn kéo dài tuổi thọ. Ớt là thực phẩm có tác dụng giảm cân khá tốt, đồng thời kích thích cơ thể giải phóng endorphins (chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ có tác dụng tạo cảm xúc tích cực, cải thiện tâm trạng, giảm đau...).
Vẹt mào biết mở khóa, chó có khả năng nhận biết số học hay voi bắt chước tiếng Hàn Quốc là những đặc điểm thú vị về trí thông minh của động vật.
Bánh nướng, dầu thực vật, rượu vang trắng hay bỏng ngô... là những thực phẩm tưởng như lành mạnh nhưng lại chứa nhiều phụ gia không tốt cho sức khỏe. Chúng ta thường dễ dàng bị đánh lừa về một thực phẩm lành mạnh, nhiều dinh dưỡng bằng những hình ảnh quảng cáo bắt mắt. Thực tế, đó chỉ là chiêu trò tiếp thị. Thực phẩm trông ngon miệng và tưởng như "bổ dưỡng" lại có những tác hại tiềm ẩn.
Mỗi người được sinh ra cùng với trí tuệ và theo thời gian, nó được cải thiện qua kinh nghiệm và sự hiểu biết. Nhưng nếu chúng ta được sinh ra với trí thông minh vượt trội sẵn có thì liệu điều đó có phải do được thừa hưởng từ yếu tố di truyền?
Thời gian nào nên ăn sữa chua? Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, để tối đa hóa hiệu quả bổ sung canxi của sữa chua, chị em nên ăn sữa chua trong thời gian khoảng từ 30 phút đến 2 tiếng sau bữa ăn tối. Các chuyên gia phân tích, từ 12 giờ đêm đến sáng là thời gian mà lượng canxi trong máu hạ xuống thấp nhất, thời điểm này rất có lợi cho việc hấp thụ canxi trong thực phẩm.
Một báo cáo của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng 5 tỷ người trên toàn thế giới có thể bị thiếu nước sinh hoạt vào năm 2050. Một số yếu tố được cho là nguyên nhân chính như nhu cầu sử dụng nước gia tăng, nguồn cung bị ô nhiễm và tình trạng biến đổi khí hậu.
Bảo Trợ