Phát Hiện Động Trời Về Cái Gọi Là "Thần Trống Đồng"

21 Tháng Tám 20204:12 SA(Xem: 716)

PHÁT HIỆN ĐỘNG TRỜI VỀ CÁI GỌI LÀ "THẦN TRỐNG ĐỒNG"

blank 
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC

LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? 
 
Hoàng Tuấn Công

Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo).


Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788), khảo về thần điện, quá trình tu sửa, bài trí đồ thờ và hoành phi, câu đối trong đền… 
.

blank
Kết quả đề tài khoa học "Sưu tầm khảo sát và phục dựng nghi lễ của đền Đồng Cổ"
được in thành sách. Ảnh: HTC

Tuy khảo sát, nghiên cứu công phu là vậy, nhưng sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” lại mắc phải sai lầm cơ bản khi cho rằng, đền Đồng Cổ thờ “thần Trống Đồng”.

Sử sách và các thư tịch cổ cho thấy, núi Đồng Cổ vốn có tên là Tam Thai, hoặc núi Khả Lao. Sau khi thần núi Tam Thai dùng binh khí là trống đồng phù trợ vua Hùng chiến thắng, vua đã đổi tên núi thành núi Đồng Cổ (núi Trống Đồng) và lập miếu thờ “Đồng Cổ sơn thần” 銅鼓山神 (thần Núi Đồng Cổ). “Đồng Cổ từ” 銅鼓山祠 (đền Đồng Cổ) chỉ là cách gọi tắt của “Đồng Cổ Sơn từ” 銅鼓山祠 (đền thờ [thần] núi Đồng Cổ). Vì có công lớn trong việc giúp vua Lý chiến thắng giặc, nên thần núi Đồng Cổ còn được rước về Thăng Long để thờ (đền ở Kẻ Bưởi - Hà Nội). Sau này thần báo mộng cho vua Lý tránh được loạn “Tam vương” và được phong là “Thiên Hạ Minh Chủ”.

.

blank
Đền Đồng Cổ ở Kẻ Bưởi (Hà Nội) cũng thường bị nhầm lẫn là đền thờ 
"thần Trống Đồng". Ảnh: ST

Trong “Đồng Cổ miếu bi ký” (Bia miếu Đồng Cổ, dựng ở đền Đồng Cổ) viết: “Trong thung lũng núi có miếu cổ, thờ thần núi” (nguyên văn: 中有古廟奉事山神 - trung hữu cổ miếu, phụng sự sơn thần). Nội dung tấm bia này còn cho biết “Năm Canh Thân (1800) bỗng ở phía sông Nam Ngạn được một chiếc trống đồng (…) quan đặc sai Đốc trấn Thanh Hoa bèn đem trống đồng mới được tặng lại miếu thần để xuân thu tế tự, để giúp thêm NHẠC KHÍ cho miếu thần.” (trích “Địa chí huyện Thiệu Hoá”).

Do không tìm hiểu đúng thần tích, lại thấy bên trong miếu có chiếc trống đồng (vốn được cung tiến để tưởng nhớ năm xưa vị thần núi đã dùng trống đồng để làm vũ khí phù trợ vua chiến thắng), nên Nhóm Lê Ngọc Tạo và nhiều người nhầm tưởng đền này “thờ thần Trống Đồng”, rồi gán cho “tín ngưỡng thờ thần trống đồng”, cho rằng “tục thờ trống đồng đã trở thành tín ngưỡng của người Việt cổ”. Đây là kết luận hoàn toàn suy diễn, bịa đặt.

.

blank
Đền thờ thần núi Đồng Cổ nhìn từ trên cao. Ảnh tư liệu HTC

Điều đáng ngạc nhiên là dù Nhóm Lê Ngọc Tạo cũng tiếp cận khá nhiều nguồn tài liệu, thư tịch cổ, nhưng lại không nhận ra các sách đều chép rõ ràng: đền Đồng Cổ thờ thần núi Đồng Cổ, chứ không phải thờ “thần Trống Đồng”. Cụ thể, sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” của Nhóm Lê Ngọc Tạo trích dẫn:

-“…Canh ba đêm đó, trong või mông lung, Thái tử chợt thấy một dị nhân cao 8 thước mày râu sắc nhọn, khoác chiến bào, tay cầm binh khí đứng trước Thái tử mà tâu rằng: “Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin ngài đi đánh giặc, tôi xin theo giúp.” (tr.42; HTC nhấn mạnh).

- “Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư – tập II, trang 251 ghi: “Tháng 3: phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề…” (tr.43).

Như vậy, dù Nhóm Lê Ngọc Tạo trích dẫn sử liệu chép rõ ràng là đền Đồng Cổ thờ “thần núi Đồng Cổ”, nhưng lại vẫn hiểu lầm thành đền thờ “thần Trống Đồng”. Thậm chí, điều kì lạ hơn, dường như soạn giả không phân biệt được đền thờ thần núi Đồng Cổ, và đền thờ thần Trống Đồng (thực tế không có vị thần này) khác nhau thế nào. Bởi vậy, đầu sách viết “đền Đồng Cổ thờ vị thần Trống Đồng”, nhưng đến giữa và cuối sách lại thành thờ “thần núi Đồng Cổ”. Cụ thể, phần đầu sách, các soạn giả viết:

-“…đền Đồng Cổ thờ vị thần Trống Đồng” (tr.10).

- “..xứ Thanh (…) là địa phương tìm thấy trống đồng nhiều nhất nước cũng chính là nơi có đền thờ Trống Đồng đầu tiên biểu trưng cho quốc hồn dân tộc. Tục thờ trống đồng đã trở thành tín ngưỡng của người Việt cổ còn lưu lại bên cạnh các tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo ngoại lai.” (tr.11).

.

blank
Đầu trang "thờ thần núi Đồng Cổ"
cuối trang "thờ trống đồng ở Đồng Cổ" 
.
blank
Trang sau khẳng định "thờ thần Trống Đồng"

Đến trang 99 (phần “Thay lời kết”), đầu trang viết là thờ “thần núi Đồng Cổ”, nhưng đến giữa và cuối trang, lại thành thờ “thần Trống Đồng”.

Cũng từ sai lầm này mà Hội Cổ vật Thanh Hoa đã từng làm lễ rước 100 cái trống đồng mới đúc lên đền thờ này để xin “thần Trống Đồng” nhập linh, trước khi đem ra Thăng Long cung tiến!

Thế là thay vì tưởng nhớ công lao phù trợ, đánh đuổi giặc ngoại xâm của thần núi Đồng Cổ - Tinh khí chung đúc của núi sông, người ta lại cúi đầu khấn vái và tụng ca cái trống đồng - nguyên là thứ binh khí lúc xung trận của Ngài[*].

HTC/2020

Chú thích:

[*]-Nếu lần giở lại tất cả các thư tịch cổ ghi chép về đền Đồng Cổ, chúng ta sẽ thấy không hề có bất cứ tài liệu nào nói đền này thờ “thần Trống Đồng”:

- “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên, biên soạn năm 1329, ghi chép về đền Đồng Cổ với cái tên được sắc phong và gia phong “Minh chủ linh ứng bảo hựu Đại vương”. Sách này viết: “Theo truyện Báo cực chép: Vương là thần núi Đồng Cổ (ở Thanh Hoá tục gọi là núi Khả Phong-HTC). Khi xưa, Lý Thái tông còn là thái tử, phụng mạng vua cha là Thái tổ, đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu, đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, trong cõi mông lung, nhà vua chợt thấy một dị nhân, thân cao 8 thước, mày râu cứng nhọn, mặc chiến bào, tay cầm binh khí, đến trước cúi đầu tâu rằng: “Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin thái tử sang đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc, lập chút công nhỏ”.(tr. 83- NXB Văn học - 1972).

-Trong “Lĩnh Nam chích quái” - tập sách ghi chép những truyền thuyết và truyện cổ tích của của Vũ Quỳnh-Kiều Phú, biên soạn từ thời Trần, mục “Truyện thần núi Đồng Cổ” (Đồng Cổ sơn thần) chép: “Thần núi Đồng Cổ là linh thần thượng đẳng ở nước ta. Núi ở xã Trì Nê thượng, huyện Yên Định. Khi Lý Thái tông còn là Thái tử đi đánh Chiêm Thành tới Trường Châu, đêm quá canh ba mộng thấy một dị nhân mặc giáp phục, tự xưng là sơn thần nghe vua Nam chinh xin theo quân vua lập chiến công. Vua nhớ rõ những lời nói chuyện trong mộng”(tr.149- NXB Văn học - 1990).

-“Thanh Hóa kỷ thắng” của Vương Duy Trinh viết: “Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng (…) Xưa Hùng Vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:

- Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.

Đến khi lâm trận, cứ nghe trong không trung mơ hồ âm thanh của trống đồng và đao kiếm. Quả nhiên thu được toàn thắng. Đến thời Lý Thái tổ, người Chiêm Thành xâm nhập bờ cõi. Khi ấy, Thái tôn đang là Thái tử. (….) Canh ba, vua mộng thấy một người dáng dấp rất to lớn, mình mặc chiến bào, tay cầm bảo kiếm nói rằng: “Ta là thần núi Đồng Cổ, nay nghe Thánh giá nam chinh, nguyện đi theo lập công”. Vua đồng ý cho. Đến khi tỉnh dậy, vua lệnh cho viết bài vị để trong kim xa. Bề tôi theo đó mà làm, quả nhiên đến sau thu được toàn thắng.” (Mật Đa tự tàng bản - HTC dịch).

Bài minh trong miếu thờ thần núi Đồng Cổ còn ca ngợi:“Có núi thiêng Đồng Cổ/Ở Yên Định, Đan Nê/Dưới giữ gìn cõi đất/Trên chống đỡ cột trời/Cao vượt lên ngàn núi/Thiêng hun đúc muôn đời…”.(Địa chí huyện Thiệu Hoá).
Theo Blog Teu
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Bảo Trợ