Thai Giáo

08 Tháng Ba 20191:02 SA(Xem: 676)

THAI GIÁO

Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, giải thích mục từ Thai giáo như sau:
blank
Thai giáo: Sự giáo dục cho con cái từ khi có mang = Khi có mang, phàm tư tưởng, ngôn ngữ, hành động của người mẹ đều có ảnh hưởng đến tính cách đứa con, nên người mẹ phải giữ gìn cẩn thận.

Từ lâu nay, tôi cũng đã nghe về việc thai giáo. Được nghe rằng, trong dòng tộc chúa Trịnh có hẳn một cuốn sách cổ, có tên là Thai giáo để truyền dạy trong gia tộc. Tuy nhiên, đến nay, chưa ai từng nhìn thấy cuốn sách cổ này. Các vị dòng Chúa Trịnh khắp nơi nếu ai đang giữ hoặc biết cuốn này ở đâu, xin cho chúng tôi biết với. 

Nhân một lần thăm Đền bà Man Thiện - mẹ của Hai Bà Trưng, ở thôn Nam An [hay Nam Man] (Nam Nguyễn), xã Cam Thượng, thị xã Sơn Tây (ngoại thành Hà Nội) chúng tôi bắt gặp hai chữ "thai giáo".

Đây là một ngôi đền nhỏ, nằm trên một gò cao giữa đê lớn và đê bao sông Hồng. Đền Bà Man Thiện cách Chùa Mía (xã Đường Lâm quê tôi) khoảng hơn 1 km. Hồi còn nhỏ tôi cũng đã đến đây vài lần, nhưng chưa để ý đến những đôi câu đối chữ Hán trong đền.

Tại đây, tôi bắt gặp hai chữ Thai giáo (ảnh dưới) trên đôi câu đối thờ trong đền. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy hai chữ Thai giáo bằng chữ Hán.
blank
Trước đây, một số nhà nghiên cứu đều đọc đôi câu đối này là:

Hát từ đĩnh xuất bằng di giáo 
Thạch động di lai hiển địa linh.


Nay, câu đối đó cần được đọc đúng là:

Hát từ dĩnh xuất bằng thai giáo
Thạch động di lai hiển địa linh 

(Hai người con ở đền Hát Môn sinh ra được giáo dưỡng ngay từ trong bào thai
Chốn Thạch động còn di tích để lại hiển hiện là đất thiêng)
*Thạch Động: Hiện tôi chưa rõ nói đến địa danh ở đâu.

Bên cạnh đó, còn đôi câu đối này:

Kiếm cung song mỹ quang từ phạm 
Trở đậu thiên thu hữu lệnh danh
 


(Sáng gương mẹ hiền, hai gái kiếm cung tài giỏi

Nổi tiếng truyền lưu, nghìn năm khói hương thành kính)
blank

Bà họ Man tên Thiện, là chắt ngoại của Hùng Vương. Sinh thời tài sắc nhất vùng, có tài ứng biến, tinh thông võ nghệ. Bà kết duyên với Ông Hùng Định (sau đổi là Trung Định, hay Trung Nghĩa Dũng) là Lạc tướng đất Mê Linh - dòng dõi vua Hùng. Hai ông bà sinh được hai người con gái là Trưng Trắc và Trưng Nhị; và một con trai là Chu Bá.

Bà Man Thiện đi khắp nơi chiêu mộ hào kiệt anh hùng, tích trữ lương thảo chờ ngày khởi nghĩa tế cờ. Mùa Xuân năm 40, bà cùng các con và tướng lĩnh kéo quân về Hát Môn (Phúc Thọ) lập đàn tế cờ khởi nghĩa ở bãi Trường Sa, rồi rầm rộ tiến quân đánh đuổi giặc Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước. Khi Trưng Trắc lên ngôi, xưng vương, phong mẹ là Man Hoàng hậu. Bà về đóng quân tại đồn Nam Nguyễn.

Ba năm sau, vua Hán sai Mã Viện sang đánh. Hai Bà Trưng cự lại không nổi, bị vây hãm ở núi Vua Bà. Bà Man Thiện đi giải vây cho con thì bị đánh úp. Bà dũng cảm chống cự, nhưng không cự được, bèn gieo mình xuống sông tuẫn tiết để khỏi sa vào tay giặc. Đó là ngày 10 tháng Chạp (al). Thi hài bà trôi về đến bến đò Nam Nguyễn thì dạt vào bờ, sắc diện vẫn hồng hào như đang còn sống. Nhân dân và quân sĩ vớt thi thể bà lên để làm lễ an táng trọng thể tại gò đất cao, nay gọi là gò Mả Dạ (Mả Dạ là từ Việt cổ chỉ một bà già được kính trọng). Nhân dân lập miếu thờ bà, gọi là Miếu Mèn (Miếu bà Man Thiện). Từ đó hàng năm cứ đến ngày 10 tháng Giêng (ngày sinh của bà) thì mở hội để tưởng nhớ công ơn. (Tham khảo bài của Hà Kỉnh (1924 - 1995) trong sách Người quê ta - Đất quê ta).

Như vậy, việc Thai giáo không phải chỉ riêng của dòng chúa Trịnh mới có, mà các nhà Nho ta xưa cũng đã rất hiểu và quan tâm đến việc Thai giáo. Đây là một vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em cần được nghiên cứu sâu hơn. 

Xin giới thiệu 14 kỹ năng thai giáo cơ bản:.
- Ru và hát
- Nựng nịu
- Dỗ dành
- Xoa vỗ bụng người mẹ thật dịu dàng với tâm trạng yêu thương
- Nghe nhạc thích hợp, du dương, nhẹ nhàng.
- Đọc và nói diễn cảm, rành rọt, chuẩn mực, tận dụng ngữ điệu tiếng Việt nhịp nhàng, nhiều thanh điệu.
- Nghĩ về và nghĩ đến thai nhi với tâm trạng trân trọng, chờ mong.
- Tư thế đi đứng, nằm ngồi đàng hoàng, vững vàng.
- Thầm kể, chuyện trò, khuyên nhủ thai nhi.
- Luôn luôn hỏi han bé: Hôm nay bé khỏe không, bé ngoan chứ? Bé có thấy bàn tay của ba sờ bé không?
- Miêu tả, bình phẩm tranh nghệ thuật
- Quan tâm chăm sóc thai phụ, tránh căng thẳng, kịp thời hoá giải những ưu phiền, mặc cảm.
- Tạo không khí, khung cảnh, quan hệ tốt đẹp trong gia đình.
- Đồng bộ cả nhà cùng làm thai giáo.

(Tham khảo website Chơi cùng bé).

Nguyễn Xuân Diện bổ sung thêm:

Về ăn uống:
- Không ăn đồ lạnh hoặc đồ quá nóng. Không ăn đồ ôi thiu, đồ để tủ lạnh quá lâu ngày.
- Hạn chế ăn đồ gỏi, sống, hoặc trứng lộn.
- Không ăn quá cay, quá đắng, quá chua.
 
Kính chúc các độc giả là các bà mẹ mang thai nhiều sức khỏe và niềm vui, sinh nở được "mẹ tròn con vuông", nuôi dạy con cái nên người! 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
MUỐN CÓ NGƯỜI TÀI, TRƯỚC PHẢI DẸP BỌN TIỂU NHÂN - NGƯỜI XƯA NÓI VỀ VIỆC TIẾN CỬ, CHỌN LỰA VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Thưa chư vị, Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài văn làm trong kỳ thi Đình (làm tại sân triều đình) - do nhà vua ra đề bài, chấm bài, để phân hạng các tiến sĩ. Người đỗ đầu (đủ 10 phân) là Trạng nguyên. Đề bài thường hỏi về các vấn đề lớn của đất nước và về việc trị nước. Bài thi đó gọi là Sách văn đình đối.
Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ Tết truyền thống ở Việt Nam. Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch. Vậy năm 2018 Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày nào? Tết Đoan Ngọ năm 2019 được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch tức là rơi vào thứ 6 ngày 7/6 dương lịch. Tết Đoan Ngọ là cái Tết chung của một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ còn mang những ý nghĩa khác biệt. Hằng năm cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch) dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ còn gọi là Tết Đoan dương.
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Bảo Trợ