Diễn Văn: Của Dân, Do Dân Và Vì Dân – Tổng Thống Abraham Lincoln

03 Tháng Ba 20194:58 CH(Xem: 1469)

Abraham Lincoln 1Diễn văn tại Gettysburg (The Gettysburg Address) được tổng thống Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia ở Gettysburg, Pennsylvania trong cuộc Nội chiến Mỹ vào ngày 19/11/1863 – hơn 4 tháng sau khi quân đội Liên bang miền Bắc chiến thắng quân đội Liên minh miền Nam tại trận Gettysburg.

Mặc dù chỉ gói gọn trong vòng vài phút đồng hồ, và được tổng thống Abraham Lincoln đọc trong một trạng thái mỏi mệt do bị ốm, nhưng Diễn văn tại Gettysburg đã trở thành một trong những bài diễn văn nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của lịch sử nước Mỹ, được nhiều thế hệ người Mỹ học thuộc lòng trong trường học. Đáng tiếc thay, toàn văn chính xác của nó lại chưa được các sử gia Mỹ thống nhất, và 5 phiên bản khác nhau của nó hiện vẫn đang được lưu hành.

Bản dịch Trí Thức VN sử dụng dưới đây là phiên bản “Bliss” – phiên bản được sử dụng nhiều nhất, nhưng chưa hẳn đã là phiên bản chính xác nhất của Diễn văn tại Gettysburg. Phần thu âm trong video không phải là thu âm thực tế của tổng thống Abraham Lincoln, mà được người đi sau diễn lại.

Phần thu âm:

Bản dịch:

Tám mươi bảy năm về trước, những vị cha lập quốc đã sáng lập nên một quốc gia mới trên lục địa này, thai nghén trong tự do và dâng hiến cho lời tuyên bố rằng mọi con người được tạo ra (*) bình đẳng.

(*) Dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ. Từ tiếng anh là “create”, ở đây được dịch là “tạo ra”, tín ngưỡng phương Tây tin rằng Chúa Sáng Thế tạo ra con người. Tín ngưỡng phương Đông về bà Nữ Oa, hay mẹ Âu Cơ, cũng vậy. Có nhiều nguồn dịch là “sinh ra”.

Ngày hôm nay, chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc nội chiến lớn, để thử thách xem một quốc gia như vậy, hay bất cứ một quốc gia nào được thai nghén [trong tự do] và dâng hiến [cho sự bình đẳng] đến mức như vậy, có thể trường tồn được hay không.

Chúng ta hội ngộ trên chiến trường lớn của cuộc nội chiến ấy.

Chúng ta tới đây để dâng hiến một phần của chiến trường này thành nơi an nghỉ cuối cùng cho những con người đã ngã xuống để tổ quốc được sống.

Đó là một điều phù hợp và nên làm.

Nhưng, theo một ý nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không thể dâng hiến, không thể thờ cúng, không thể thần thánh hóa mảnh đất này [hơn nữa].

Những con người dũng cảm, dù còn sống hay đã khuất, đã nỗ lực để thần thánh hóa mảnh đất này vượt trên khả năng nhỏ bé của chúng ta, chúng ta đã không thể góp phần hay làm lu mờ bớt đi nỗ lực ấy.

Thế giới sẽ không ghi nhớ những gì mà chúng ta đang nói tại đây ngày hôm nay, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên điều mà những con người dũng cảm ấy đã làm được.

Đối với chúng ta, những con người đang sống, chúng ta cần phải dâng hiến bản thân cho những công việc dang dở, mà những con người đã chiến đấu ở đây đang thúc đẩy một cách cao thượng.

Chính chúng ta cần phải dâng hiến cho nhiệm vụ trọng đại mà chúng ta đang phải đối diện –

nhiệm vụ mà chúng ta nhận lấy từ những người đã khuất đáng kính, để dâng hiến hơn nữa cho chính nghĩa mà họ đã tận lực hiến dâng;

nhiệm vụ mà chúng ta phải kiên tâm để những người đã ngã xuống không ra đi một cách uổng phí;

nhiệm vụ khiến cho đất nước này, dưới bàn tay của Chúa, được tái sinh trong tự do;

nhiệm vụ để cho một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ không biến mất khỏi mặt đất này.

Quang Minh biên dịch

Trong quá trình biên dịch, chúng tôi cố gắng khiến bản dịch sát nghĩa và thể hiện được tinh thần của bài diễn văn trong khả năng tốt nhất của mình, tuy nhiên để mang được cái hồn của những áng văn tới độc giả là một điều không dễ. Chúng tôi trân trọng mọi ý kiến giúp cho bản dịch hoàn chỉnh và hay hơn.

Tham khảo thêm bản dịch của Nguyễn Xuân Xanh do độc giả Binh Nguyen Nhu giới thiệu.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.
Nguồn: Carl O. Schuster, “Battle for Paracel Islands”, Historynet, 06/2017. - Biên dịch: Lê Đỗ Huy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp - Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.
Mẹ hỏi con có thích ngành y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến y học thành một cái nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống. (Trích Thư gửi mẹ của bác sĩ Alexandre Yersin)
Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.
Alexandre Yersin – ân nhân vĩ đại của người Việt (P1): Dong thuyền ra biển lớn ‘phụng sự nhân loại’....Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa… Lịch sử đời đời nhớ đến ông – bác sĩ, nhà bác học Alexandre Yersin, không phải chỉ trong những trang giấy, mà còn trong cả trái tim những người ở lại.
Toghon hay Thoát Hoan (chữ Hán: 脫歡, chữ Mông Cổ: ᠲᠣᠭᠠᠨ, Тогоон, Toγan) là hoàng tử con trai thứ 9 của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, vị Hoàng đế lập ra triều đại nhà Nguyên trong lịch sử Trung Quốc. Là con trai của Hoàng đế lập quốc nhà Nguyên, lẽ ra ông ta sẽ có một cuộc đời với chiến công oanh liệt nếu như không đem quân xuống phương Nam.
Trước khi có chợ Đông Ba, bên ngoài cửa Chánh Đông (tức cửa Đông Ba theo cách gọi dân gian) dưới thời Gia Long có một cái chợ lớn mang tên "Qui giả thị". Tên cái chợ này đánh dấu sự kiện trở lại Phú Xuân của quan quân nhà Nguyễn. Thời Quang Toản loạn lạc, nhân dân chạy tứ tán, đến đầu triều Nguyễn thái bình, nhân dân trở lại từ khắp nơi. Qui Giả là ngôi chợ của những người trở về.
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh) - Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
NHỮNG BỨC THƯ ĐỂ ĐỜI (KỲ 5): LÊ THÁI TỔ LÊ LỢI ‘THÀ NGƯỜI PHỤ TA, TA CHỚ PHỤ NGƯỜI’ - Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Bảo Trợ