Alexandre Yersin Ân Nhân Vĩ Đại Của Người Việt (phần Cuối): Nặng Tình Xứ An Nam…

23 Tháng Hai 20198:21 SA(Xem: 1321)

Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa… Lịch sử đời đời nhớ đến ông – bác sĩ, nhà bác học Alexandre Yersin, không phải chỉ trong những trang giấy, mà còn trong cả trái tim những người ở lại.

Nếu bạn đã từng một lần được tiêm chủng, chích ngừa… hãy biết ơn người đã cứu mạng mình.

Nếu bạn đã từng được thưởng thức một ly cà phê hay ca cao nóng… hãy nhớ ơn người đã mang chúng về Việt Nam

Nếu bạn đã từng được ăn cà rốt, súp lơ, su su… hay ngắm nhìn vẻ đẹp của hoa lay-ơn, cẩm tú cầu… đừng quên người đã trồng nên chúng…

Đón xem: Phần 1Phần 2Phần 3Phần 4

***

Không chỉ là ân nhân của người Việt mà bác sĩ Alexandre Yersin còn là ân nhân của cả nhân loại. Biết bao trái tim thương mến và kính trọng dành cho ông – con người chỉ lặng lẽ sống và làm việc để cho đi chứ không mong nhận lại…

Một cuộc đời bình dị mà cao cả

Ở tuổi 27, giữa lúc đỉnh cao sự nghiệp trong môi trường học thuật đỉnh cao ở Paris, Alexandre Yersin đã quyết định từ bỏ tất cả. Người thân, bạn bè, cho đến những ai biết đến danh tiếng của vị bác sĩ trẻ xuất sắc, đều ngạc nhiên trước quyết định này của ông, ngoại trừ Pauster. Từng là thầy, đồng nghiệp của Yersin, Pauster hiểu rằng, chàng trai trẻ này không lấy thước đo sự nghiệp, danh vọng xã hội làm chuẩn mực cho cuộc đời mình, càng không màng người đời vinh danh tưởng thưởng mình ra sao. Anh ta chỉ quan tâm đi tìm sứ mệnh cuộc đời.

Và Alexandre Yersin đã tìm được gì? Chẳng có gì cả ngoài những khó khăn, túng thiếu ở xứ Đông Dương nghèo nàn, và đối đầu với nhiều thứ bệnh dịch nguy hiểm.

Yersin làm việc như một nhà bác học nhưng vẫn sống thầm lặng, bình dị như chính những người dân chài ở xóm Cồn (Nha Trang). Và ở cái xóm nghèo khó ấy, người ta không biết đến huyền thoại sống Alexandre Yersin – người đã đẩy lùi “cái chết đen” cho nhân loại – chỉ biết đến một vị bác sĩ Pháp tốt bụng, yêu quý trẻ con và nặng lòng với dân nghèo.

blank
Yersin làm việc như một nhà bác học nhưng vẫn sống thầm lặng, bình dị như chính những người dân chài ở xóm Cồn. (Ảnh tư liệu)

Có một giai thoại về ông được kể lại như sau:

Vào năm 1922, khi Alexandre Yersin đã rất nổi tiếng, nhưng ông vẫn bị bồi bàn trên tàu cấm cửa phòng tiệc vì thấy ông bận bộ kaki hở cổ và nhàu nhĩ. Họ yêu cầu ông phải thắt cà vạt mới được vào. Lặng lẽ quay ra, ông gắn chiếc huân chương Bắc đẩu bội tinh mà Chính phủ Pháp đã trân trọng trao tặng, đi vào bữa tiệc.

Một đám tang không điếu văn nhưng hàng ngàn người rơi lệ

Tấm lòng và việc làm của bác sĩ Yersin nhân ái đến mức khi ông mất, người dân Nha Trang đã xếp hàng dài từ Xóm Cồn bên bờ biển đến tận Suối Dầu trên núi để khóc, tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng! Họ còn kể lại, vào tối trước khi mất, bác sĩ Yersin vẫn cố xuống để lấy số liệu thủy văn giúp họ đi biển.

Tôi để lại cho Viện Pasteur ở Đông Dương tùy nghi sử dụng các cơ sở do tôi xây cất, toàn bộ đồ đạc trong nhà tôi, tủ lạnh, máy thu vô tuyến, các máy chụp ảnh, kể cả toàn bộ thư viện của tôi … Tôi muốn các người giúp việc già và trung thành người Việt của tôi được nhận những món tiền trợ cấp trọn đời trích từ tiền lãi của phiếu gửi tiền có kỳ hạn do tôi gửi ở Ngân hàng Hong Kong, Thượng Hải có trụ sở đặt tại Sài Gòn, nhằm sử dụng cho mục đích này. Phiếu này do ông Gallois ở Suối Dầu giữ. Ông Jacotot hãy vui lòng phân chia số tiền cấp dưỡng trên cho những người giúp việc của tôi, gồm có: trước hết là Nuôi, Dung, Xê, kế đến là người làm vườn Trịnh Chi, Du, người săn sóc bầy chim của tôi, Chút, một trong số những người con của người giúp việc cũ của ông Gallois và sau cùng là cho tất cả những người thân cận nào của tôi được ông Jacotot cho là xứng đáng. Tôi mong được chôn cất đơn giản, không tổ chức đám tang rình rang lẫn đọc phát biểu…

(Trích di chúc của bác sĩ Alexandre Yersin)

Làm sao người ta có thể không khóc khi mà cho đến tận giây phút cuối đời, vẫn có một người đau đáu lo cho họ, và thậm chí còn không quên cả con của một người đã nghỉ việc. Dù không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng Yersin đã xem Nha Trang như quê hương không thể rời xa. Và những người giúp việc, dù không phải máu mủ ruột già, nhưng ông đã xem như người thân thích. 

blank
Alexandre Yersin – người Pháp thương Việt Nam và yêu Nha Trang như chính ngôi nhà của mình! (Ảnh tư liệu)

Những lời dặn dò trước khi nhắm mắt (với ông Bùi Quang Phương) “Phương ơi, đừng cho người ta mang tôi đi chôn nơi khác, tôi muốn được ở lại Suối Dầu, Nha Trang…” đã khiến biết bao người không thể cầm lòng mà rơi lệ – Một người Pháp thương Việt Nam và yêu Nha Trang như chính ngôi nhà của mình!

Mấy ngày sau đó, cả Nha Trang không một chiếc ghe nào ra khơi. Chỉ có những giọt nước mắt, những tiếng khóc của những người đã từng được ông cưu mang…

Một trái tim không bao giờ chết luôn ở lại đất Việt

Có một câu chuyện rất đặc biệt rằng, trong những năm chiến tranh, nơi bác sĩ Alexandre Yersin yên nghỉ ở vùng núi rừng Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa là chiến địa rất ác liệt, thường xuyên bị oanh tạc và cài mìn dày đặc. Tuy nhiên, mộ phần của ông không bao giờ bị trúng một viên đạn, trái bom nào. 

Người ta nói rằng, tất cả mọi người, dù là binh lính của chiến tuyến nào cũng đều kính trọng bác sĩ Yersin nên không ai muốn đạn rơi bom nổ vào nơi ông yên nghỉ. Cũng có người nói, vì Yesin là thiên sứ Chúa gửi đến cho nhân loại nên Ngài đã che chở cho ông.

blank
Mộ phần bác sĩ Yersin luôn được người dân nơi đây chăm nom (Ảnh tư liệu)

Còn một hình ảnh vô cùng xúc động nữa. Bất cứ khi nào thăm mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu, Nha Trang, người ta luôn thấy có bó hoa tươi tắn được đặt bên nấm mộ, dù nơi ông yên nghỉ nằm hẻo lánh trên ngọn đồi rậm rạp, xa dân cư.

Nhà thơ Giang Nam gắn bó với Nha Trang tâm sự: Đó chính là tấm lòng của những người dân bình thường nhất trao cho ông, có khi chỉ là nhánh hoa rừng của cậu bé chăn bò, cô nông dân làm rẫy gần đó. Không chỉ thời bình, mà ngay thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất cũng có hoa tươi trên nấm mộ ông do những người lính cả hai bên chiến tuyến hái đặt lên”.

Yersin đã ra đi nhưng trái tim vẫn còn ở lại mãi nơi này…

Trần Phong DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient).../08 Tháng Sáu 2012(Xem: 4337) Bình Nguyên Lộc - Vantuyen/
Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau...nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. /1 Tháng Bảy 2012 (Xem: 2909) Phạm Cao Dương - vanchuongviet.org
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Bảo Trợ