Alexandre Yersin Ân Nhân Vĩ Đại Của Người Việt (phần Cuối): Nặng Tình Xứ An Nam…

23 Tháng Hai 20198:21 SA(Xem: 174)

Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa… Lịch sử đời đời nhớ đến ông – bác sĩ, nhà bác học Alexandre Yersin, không phải chỉ trong những trang giấy, mà còn trong cả trái tim những người ở lại.

Nếu bạn đã từng một lần được tiêm chủng, chích ngừa… hãy biết ơn người đã cứu mạng mình.

Nếu bạn đã từng được thưởng thức một ly cà phê hay ca cao nóng… hãy nhớ ơn người đã mang chúng về Việt Nam

Nếu bạn đã từng được ăn cà rốt, súp lơ, su su… hay ngắm nhìn vẻ đẹp của hoa lay-ơn, cẩm tú cầu… đừng quên người đã trồng nên chúng…

Đón xem: Phần 1Phần 2Phần 3Phần 4

***

Không chỉ là ân nhân của người Việt mà bác sĩ Alexandre Yersin còn là ân nhân của cả nhân loại. Biết bao trái tim thương mến và kính trọng dành cho ông – con người chỉ lặng lẽ sống và làm việc để cho đi chứ không mong nhận lại…

Một cuộc đời bình dị mà cao cả

Ở tuổi 27, giữa lúc đỉnh cao sự nghiệp trong môi trường học thuật đỉnh cao ở Paris, Alexandre Yersin đã quyết định từ bỏ tất cả. Người thân, bạn bè, cho đến những ai biết đến danh tiếng của vị bác sĩ trẻ xuất sắc, đều ngạc nhiên trước quyết định này của ông, ngoại trừ Pauster. Từng là thầy, đồng nghiệp của Yersin, Pauster hiểu rằng, chàng trai trẻ này không lấy thước đo sự nghiệp, danh vọng xã hội làm chuẩn mực cho cuộc đời mình, càng không màng người đời vinh danh tưởng thưởng mình ra sao. Anh ta chỉ quan tâm đi tìm sứ mệnh cuộc đời.

Và Alexandre Yersin đã tìm được gì? Chẳng có gì cả ngoài những khó khăn, túng thiếu ở xứ Đông Dương nghèo nàn, và đối đầu với nhiều thứ bệnh dịch nguy hiểm.

Yersin làm việc như một nhà bác học nhưng vẫn sống thầm lặng, bình dị như chính những người dân chài ở xóm Cồn (Nha Trang). Và ở cái xóm nghèo khó ấy, người ta không biết đến huyền thoại sống Alexandre Yersin – người đã đẩy lùi “cái chết đen” cho nhân loại – chỉ biết đến một vị bác sĩ Pháp tốt bụng, yêu quý trẻ con và nặng lòng với dân nghèo.

blank
Yersin làm việc như một nhà bác học nhưng vẫn sống thầm lặng, bình dị như chính những người dân chài ở xóm Cồn. (Ảnh tư liệu)

Có một giai thoại về ông được kể lại như sau:

Vào năm 1922, khi Alexandre Yersin đã rất nổi tiếng, nhưng ông vẫn bị bồi bàn trên tàu cấm cửa phòng tiệc vì thấy ông bận bộ kaki hở cổ và nhàu nhĩ. Họ yêu cầu ông phải thắt cà vạt mới được vào. Lặng lẽ quay ra, ông gắn chiếc huân chương Bắc đẩu bội tinh mà Chính phủ Pháp đã trân trọng trao tặng, đi vào bữa tiệc.

Một đám tang không điếu văn nhưng hàng ngàn người rơi lệ

Tấm lòng và việc làm của bác sĩ Yersin nhân ái đến mức khi ông mất, người dân Nha Trang đã xếp hàng dài từ Xóm Cồn bên bờ biển đến tận Suối Dầu trên núi để khóc, tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng! Họ còn kể lại, vào tối trước khi mất, bác sĩ Yersin vẫn cố xuống để lấy số liệu thủy văn giúp họ đi biển.

Tôi để lại cho Viện Pasteur ở Đông Dương tùy nghi sử dụng các cơ sở do tôi xây cất, toàn bộ đồ đạc trong nhà tôi, tủ lạnh, máy thu vô tuyến, các máy chụp ảnh, kể cả toàn bộ thư viện của tôi … Tôi muốn các người giúp việc già và trung thành người Việt của tôi được nhận những món tiền trợ cấp trọn đời trích từ tiền lãi của phiếu gửi tiền có kỳ hạn do tôi gửi ở Ngân hàng Hong Kong, Thượng Hải có trụ sở đặt tại Sài Gòn, nhằm sử dụng cho mục đích này. Phiếu này do ông Gallois ở Suối Dầu giữ. Ông Jacotot hãy vui lòng phân chia số tiền cấp dưỡng trên cho những người giúp việc của tôi, gồm có: trước hết là Nuôi, Dung, Xê, kế đến là người làm vườn Trịnh Chi, Du, người săn sóc bầy chim của tôi, Chút, một trong số những người con của người giúp việc cũ của ông Gallois và sau cùng là cho tất cả những người thân cận nào của tôi được ông Jacotot cho là xứng đáng. Tôi mong được chôn cất đơn giản, không tổ chức đám tang rình rang lẫn đọc phát biểu…

(Trích di chúc của bác sĩ Alexandre Yersin)

Làm sao người ta có thể không khóc khi mà cho đến tận giây phút cuối đời, vẫn có một người đau đáu lo cho họ, và thậm chí còn không quên cả con của một người đã nghỉ việc. Dù không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng Yersin đã xem Nha Trang như quê hương không thể rời xa. Và những người giúp việc, dù không phải máu mủ ruột già, nhưng ông đã xem như người thân thích. 

blank
Alexandre Yersin – người Pháp thương Việt Nam và yêu Nha Trang như chính ngôi nhà của mình! (Ảnh tư liệu)

Những lời dặn dò trước khi nhắm mắt (với ông Bùi Quang Phương) “Phương ơi, đừng cho người ta mang tôi đi chôn nơi khác, tôi muốn được ở lại Suối Dầu, Nha Trang…” đã khiến biết bao người không thể cầm lòng mà rơi lệ – Một người Pháp thương Việt Nam và yêu Nha Trang như chính ngôi nhà của mình!

Mấy ngày sau đó, cả Nha Trang không một chiếc ghe nào ra khơi. Chỉ có những giọt nước mắt, những tiếng khóc của những người đã từng được ông cưu mang…

Một trái tim không bao giờ chết luôn ở lại đất Việt

Có một câu chuyện rất đặc biệt rằng, trong những năm chiến tranh, nơi bác sĩ Alexandre Yersin yên nghỉ ở vùng núi rừng Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa là chiến địa rất ác liệt, thường xuyên bị oanh tạc và cài mìn dày đặc. Tuy nhiên, mộ phần của ông không bao giờ bị trúng một viên đạn, trái bom nào. 

Người ta nói rằng, tất cả mọi người, dù là binh lính của chiến tuyến nào cũng đều kính trọng bác sĩ Yersin nên không ai muốn đạn rơi bom nổ vào nơi ông yên nghỉ. Cũng có người nói, vì Yesin là thiên sứ Chúa gửi đến cho nhân loại nên Ngài đã che chở cho ông.

blank
Mộ phần bác sĩ Yersin luôn được người dân nơi đây chăm nom (Ảnh tư liệu)

Còn một hình ảnh vô cùng xúc động nữa. Bất cứ khi nào thăm mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu, Nha Trang, người ta luôn thấy có bó hoa tươi tắn được đặt bên nấm mộ, dù nơi ông yên nghỉ nằm hẻo lánh trên ngọn đồi rậm rạp, xa dân cư.

Nhà thơ Giang Nam gắn bó với Nha Trang tâm sự: Đó chính là tấm lòng của những người dân bình thường nhất trao cho ông, có khi chỉ là nhánh hoa rừng của cậu bé chăn bò, cô nông dân làm rẫy gần đó. Không chỉ thời bình, mà ngay thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất cũng có hoa tươi trên nấm mộ ông do những người lính cả hai bên chiến tuyến hái đặt lên”.

Yersin đã ra đi nhưng trái tim vẫn còn ở lại mãi nơi này…

Trần Phong DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
MUỐN CÓ NGƯỜI TÀI, TRƯỚC PHẢI DẸP BỌN TIỂU NHÂN - NGƯỜI XƯA NÓI VỀ VIỆC TIẾN CỬ, CHỌN LỰA VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Thưa chư vị, Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài văn làm trong kỳ thi Đình (làm tại sân triều đình) - do nhà vua ra đề bài, chấm bài, để phân hạng các tiến sĩ. Người đỗ đầu (đủ 10 phân) là Trạng nguyên. Đề bài thường hỏi về các vấn đề lớn của đất nước và về việc trị nước. Bài thi đó gọi là Sách văn đình đối.
Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ Tết truyền thống ở Việt Nam. Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch. Vậy năm 2018 Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày nào? Tết Đoan Ngọ năm 2019 được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch tức là rơi vào thứ 6 ngày 7/6 dương lịch. Tết Đoan Ngọ là cái Tết chung của một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ còn mang những ý nghĩa khác biệt. Hằng năm cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch) dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ còn gọi là Tết Đoan dương.
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Bảo Trợ