Hát Ru Con Miền Bắc – Nét Nghệ Thuật Truyền Thống Đậm Đà Sâu Lắng

16 Tháng Tám 20184:30 CH(Xem: 185)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.

Đại Kỷ Nguyên hân hạnh gửi tới quý độc giả những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin trong “Hát Ru Con Miền Bắc”, kết hợp cùng những bức tranh nổi tiếng, về tình mẫu tử của người mẹ Việt Nam xưa, ngõ hầu đưa độc giả về với một miền ký ức xa xôi nhưng tràn đầy yêu thương.

blank
“Mẹ và em bé & Mẹ và em bé đang ngủ”. Chất liệu: tranh lụa. Họa sĩ: Mai Trung Thứ. Ảnh:luxevn.com

Hát ru là bài học giáo dục âm nhạc đầu tiên mà người mẹ truyền cho con. Cùng lúc với dòng sữa ấm nuôi thân thể của con thì một làn điệu thi ca dân gian, một nét nhạc dân tộc được rót vào trong tiềm thức của bé.

Dân tộc Việt Nam có nhiều loại hình văn học nghệ thuật dân gian, bao gồm : huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò, vè… mà trong đó Hát ru, hay còn gọi là “Hát ru em”, “Hò ru con” là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hát ru Việt Nam ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam có nét giống nhau, là thường dùng thể thơ lục bát, hoặc lục bát biến thể, với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều ngữ âm không có nghĩa cụ thể. Chỗ khác nhau thể hiện ở trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm…Một số đoạn hát ru điển hình hay gặp, có thể kể ra làm ví dụ:

À ơi… Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em… à…ơi…

À ơi… Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò… à…ơi…

**

À ơi… Gánh vàng đi đổ sông Thương
Đêm ngày mơ tưởng đi mò sông Thương… à…ơi…
**

À ơi… Thằng cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha thời cắt cỏ trên giời
Mẹ thời phóng ngựa đi mời quan viên… à…ơi…

**

À ơi… Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ mẹ yêu lấy thầy… à…ơi…
**

À ơi… Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Ai thương cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước cho chồng tôi lên… à…ơi…

**

À ơi… Cái cò mà đi ăn đêm
Đầu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông thương ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xào nước đục đau lòng cò con… à…ơi

blank
*Mẹ và con*. Họa sĩ: Lê Phổ. Chất liệu: Tranh lụa. (Ảnh: ape.gov.vn)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương Việt Nam, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ, mà các cháu bé trong tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin. Lực lượng biểu diễn của hát ru chưa bao giờ cạn qua chiều dài lịch sử của đất nước Việt Nam, các bà mẹ Việt Nam đã làm cho chúng trở thành một kho tàng văn học nghệ thuật bình dân sống động và trường tồn.

blank
“Cái bóng”. Hoa sĩ: Nguyễn Phan Chánh. Chất liệu: tranh lụa. (Ảnh: Printerest.com)

Clip tổng hợp các điệu hát ru con miền Bắc truyền thống rất hay từ xưa tới nay, mời quý độc giả cùng tham khảo và thưởng thức, ngõ hầu góp phần giữ gìn một nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của Việt Nam ta.

Nghe lại những điệu ru con của ông bà mình từ ngày xưa có thể khiến cho trái tim chúng ta tan chảy, bồi hồi cảm xúc dâng trào, những dòng ký ức thuở ấu thơ như những thước phim hiện về, giúp tâm hồn chúng ta dịu lại, buông bỏ bớt những suy tính bon chen ngoài xã hội vốn đang rất xô bồ này…

Hết phần 1

(Còn tiếp)

Thiện Lương ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trước khi có chợ Đông Ba, bên ngoài cửa Chánh Đông (tức cửa Đông Ba theo cách gọi dân gian) dưới thời Gia Long có một cái chợ lớn mang tên "Qui giả thị". Tên cái chợ này đánh dấu sự kiện trở lại Phú Xuân của quan quân nhà Nguyễn. Thời Quang Toản loạn lạc, nhân dân chạy tứ tán, đến đầu triều Nguyễn thái bình, nhân dân trở lại từ khắp nơi. Qui Giả là ngôi chợ của những người trở về.
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh) - Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
NHỮNG BỨC THƯ ĐỂ ĐỜI (KỲ 5): LÊ THÁI TỔ LÊ LỢI ‘THÀ NGƯỜI PHỤ TA, TA CHỚ PHỤ NGƯỜI’ - Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏ Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin). Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi "Baixos de Chapar ou de Pulls Scir", tức là Bãi cát Chămpa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.
Giới tiến hóa đã cố gắng làm bất cứ cái gì có thể, kể cả việc tạo dựng bằng chứng giả nhằm lừa đảo về tiến hóa, cốt chứng minh thuyết tiến hóa là một khoa học thực sự. Nhưng họ khó mà che đậy được các sự kiện lịch sử và xã hội phơi bày tác hại của học thuyết Darwin đối với xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỷ 20 và hiện nay. Đó là một trong những lý do chủ yếu giải thích vì sao đạo đức xã hội đã và đang ngày càng xuống cấp…
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
ĐI GIA ĐỊNH ĐỂ NGHỊ HÒA VÀO NĂM NHÂM TUẤT (1862) Đại Nam thực lục ghi chép về việc nghị hòa năm Nhâm Tuất (1862) Tháng tư năm Nhâm Tuất (1862) “Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na sai Xuy Mông (1) chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An để đưa thư bàn về việc hòa. Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên…”; “Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (2) xin đi.
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Bảo Trợ