Hát Ru Con Miền Bắc – Nét Nghệ Thuật Truyền Thống Đậm Đà Sâu Lắng

16 Tháng Tám 20184:30 CH(Xem: 396)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.

Đại Kỷ Nguyên hân hạnh gửi tới quý độc giả những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin trong “Hát Ru Con Miền Bắc”, kết hợp cùng những bức tranh nổi tiếng, về tình mẫu tử của người mẹ Việt Nam xưa, ngõ hầu đưa độc giả về với một miền ký ức xa xôi nhưng tràn đầy yêu thương.

blank
“Mẹ và em bé & Mẹ và em bé đang ngủ”. Chất liệu: tranh lụa. Họa sĩ: Mai Trung Thứ. Ảnh:luxevn.com

Hát ru là bài học giáo dục âm nhạc đầu tiên mà người mẹ truyền cho con. Cùng lúc với dòng sữa ấm nuôi thân thể của con thì một làn điệu thi ca dân gian, một nét nhạc dân tộc được rót vào trong tiềm thức của bé.

Dân tộc Việt Nam có nhiều loại hình văn học nghệ thuật dân gian, bao gồm : huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò, vè… mà trong đó Hát ru, hay còn gọi là “Hát ru em”, “Hò ru con” là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hát ru Việt Nam ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam có nét giống nhau, là thường dùng thể thơ lục bát, hoặc lục bát biến thể, với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều ngữ âm không có nghĩa cụ thể. Chỗ khác nhau thể hiện ở trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm…Một số đoạn hát ru điển hình hay gặp, có thể kể ra làm ví dụ:

À ơi… Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em… à…ơi…

À ơi… Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò… à…ơi…

**

À ơi… Gánh vàng đi đổ sông Thương
Đêm ngày mơ tưởng đi mò sông Thương… à…ơi…
**

À ơi… Thằng cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha thời cắt cỏ trên giời
Mẹ thời phóng ngựa đi mời quan viên… à…ơi…

**

À ơi… Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ mẹ yêu lấy thầy… à…ơi…
**

À ơi… Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Ai thương cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước cho chồng tôi lên… à…ơi…

**

À ơi… Cái cò mà đi ăn đêm
Đầu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông thương ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xào nước đục đau lòng cò con… à…ơi

blank
*Mẹ và con*. Họa sĩ: Lê Phổ. Chất liệu: Tranh lụa. (Ảnh: ape.gov.vn)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương Việt Nam, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ, mà các cháu bé trong tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin. Lực lượng biểu diễn của hát ru chưa bao giờ cạn qua chiều dài lịch sử của đất nước Việt Nam, các bà mẹ Việt Nam đã làm cho chúng trở thành một kho tàng văn học nghệ thuật bình dân sống động và trường tồn.

blank
“Cái bóng”. Hoa sĩ: Nguyễn Phan Chánh. Chất liệu: tranh lụa. (Ảnh: Printerest.com)

Clip tổng hợp các điệu hát ru con miền Bắc truyền thống rất hay từ xưa tới nay, mời quý độc giả cùng tham khảo và thưởng thức, ngõ hầu góp phần giữ gìn một nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của Việt Nam ta.

Nghe lại những điệu ru con của ông bà mình từ ngày xưa có thể khiến cho trái tim chúng ta tan chảy, bồi hồi cảm xúc dâng trào, những dòng ký ức thuở ấu thơ như những thước phim hiện về, giúp tâm hồn chúng ta dịu lại, buông bỏ bớt những suy tính bon chen ngoài xã hội vốn đang rất xô bồ này…

Hết phần 1

(Còn tiếp)

Thiện Lương ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
MUỐN CÓ NGƯỜI TÀI, TRƯỚC PHẢI DẸP BỌN TIỂU NHÂN - NGƯỜI XƯA NÓI VỀ VIỆC TIẾN CỬ, CHỌN LỰA VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Thưa chư vị, Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài văn làm trong kỳ thi Đình (làm tại sân triều đình) - do nhà vua ra đề bài, chấm bài, để phân hạng các tiến sĩ. Người đỗ đầu (đủ 10 phân) là Trạng nguyên. Đề bài thường hỏi về các vấn đề lớn của đất nước và về việc trị nước. Bài thi đó gọi là Sách văn đình đối.
Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ Tết truyền thống ở Việt Nam. Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch. Vậy năm 2018 Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày nào? Tết Đoan Ngọ năm 2019 được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch tức là rơi vào thứ 6 ngày 7/6 dương lịch. Tết Đoan Ngọ là cái Tết chung của một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ còn mang những ý nghĩa khác biệt. Hằng năm cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch) dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ còn gọi là Tết Đoan dương.
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Bảo Trợ