Hát Ru Con Miền Bắc – Nét Nghệ Thuật Truyền Thống Đậm Đà Sâu Lắng

16 Tháng Tám 20184:30 CH(Xem: 269)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.

Đại Kỷ Nguyên hân hạnh gửi tới quý độc giả những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin trong “Hát Ru Con Miền Bắc”, kết hợp cùng những bức tranh nổi tiếng, về tình mẫu tử của người mẹ Việt Nam xưa, ngõ hầu đưa độc giả về với một miền ký ức xa xôi nhưng tràn đầy yêu thương.

blank
“Mẹ và em bé & Mẹ và em bé đang ngủ”. Chất liệu: tranh lụa. Họa sĩ: Mai Trung Thứ. Ảnh:luxevn.com

Hát ru là bài học giáo dục âm nhạc đầu tiên mà người mẹ truyền cho con. Cùng lúc với dòng sữa ấm nuôi thân thể của con thì một làn điệu thi ca dân gian, một nét nhạc dân tộc được rót vào trong tiềm thức của bé.

Dân tộc Việt Nam có nhiều loại hình văn học nghệ thuật dân gian, bao gồm : huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò, vè… mà trong đó Hát ru, hay còn gọi là “Hát ru em”, “Hò ru con” là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hát ru Việt Nam ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam có nét giống nhau, là thường dùng thể thơ lục bát, hoặc lục bát biến thể, với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều ngữ âm không có nghĩa cụ thể. Chỗ khác nhau thể hiện ở trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm…Một số đoạn hát ru điển hình hay gặp, có thể kể ra làm ví dụ:

À ơi… Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em… à…ơi…

À ơi… Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò… à…ơi…

**

À ơi… Gánh vàng đi đổ sông Thương
Đêm ngày mơ tưởng đi mò sông Thương… à…ơi…
**

À ơi… Thằng cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha thời cắt cỏ trên giời
Mẹ thời phóng ngựa đi mời quan viên… à…ơi…

**

À ơi… Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ mẹ yêu lấy thầy… à…ơi…
**

À ơi… Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Ai thương cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước cho chồng tôi lên… à…ơi…

**

À ơi… Cái cò mà đi ăn đêm
Đầu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông thương ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xào nước đục đau lòng cò con… à…ơi

blank
*Mẹ và con*. Họa sĩ: Lê Phổ. Chất liệu: Tranh lụa. (Ảnh: ape.gov.vn)

Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương Việt Nam, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ, mà các cháu bé trong tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm tin. Lực lượng biểu diễn của hát ru chưa bao giờ cạn qua chiều dài lịch sử của đất nước Việt Nam, các bà mẹ Việt Nam đã làm cho chúng trở thành một kho tàng văn học nghệ thuật bình dân sống động và trường tồn.

blank
“Cái bóng”. Hoa sĩ: Nguyễn Phan Chánh. Chất liệu: tranh lụa. (Ảnh: Printerest.com)

Clip tổng hợp các điệu hát ru con miền Bắc truyền thống rất hay từ xưa tới nay, mời quý độc giả cùng tham khảo và thưởng thức, ngõ hầu góp phần giữ gìn một nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của Việt Nam ta.

Nghe lại những điệu ru con của ông bà mình từ ngày xưa có thể khiến cho trái tim chúng ta tan chảy, bồi hồi cảm xúc dâng trào, những dòng ký ức thuở ấu thơ như những thước phim hiện về, giúp tâm hồn chúng ta dịu lại, buông bỏ bớt những suy tính bon chen ngoài xã hội vốn đang rất xô bồ này…

Hết phần 1

(Còn tiếp)

Thiện Lương ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Mấy năm trước đây, trên trang binhgia.net có nhiều bài viết bàn về tên gọi của quê hương yêu dấu chúng ta là Bình Giã hay Bình Giả. Chuyện chưa ngã ngũ, thế rồi chẳng ai bàn tiếp nữa. Có lẽ ai trong chúng ta cũng quan tâm và muốn biết về nguồn cội quê hương mình.
Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về thời kỳ chúa Nguyễn rằng, "từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa - dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau. Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng..."
Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Bên cạnh đó là khao khát sự trường tồn cuộc sống, sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân, sự gắn kết trong cộng đồng, gia tộc và gia đình. Tết Nguyên đán còn là dịp để hướng về cội nguồn. Đó là giá trị tâm linh, cũng là giá trị tình cảm sâu sắc của người Việt, trở thành truyền thống tốt đẹp.
ALEXANDRE YERSIN – ÂN NHÂN VĨ ĐẠI CỦA NGƯỜI VIỆT (3): NGƯỜI GHI TÊN ĐÀ LẠT VÀO BẢN ĐỒ VIỆT NAM - Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.
Nguồn: Carl O. Schuster, “Battle for Paracel Islands”, Historynet, 06/2017. - Biên dịch: Lê Đỗ Huy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp - Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.
Mẹ hỏi con có thích ngành y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến y học thành một cái nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống. (Trích Thư gửi mẹ của bác sĩ Alexandre Yersin)
Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.
Alexandre Yersin – ân nhân vĩ đại của người Việt (P1): Dong thuyền ra biển lớn ‘phụng sự nhân loại’....Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa… Lịch sử đời đời nhớ đến ông – bác sĩ, nhà bác học Alexandre Yersin, không phải chỉ trong những trang giấy, mà còn trong cả trái tim những người ở lại.
Bảo Trợ