Bia Đá Trên Đảo Hoàng Sa

15 Tháng Sáu 20184:06 CH(Xem: 1604)

Bia đá trên đảo Hoàng Sa

Viên Linh/Người Việt

blank
Một góc đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. (Hình: STR/AFP/G

WESTMINSTER, California (NV) – Quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, gồm có 120 đảo san hô rải rác nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý. Về danh xưng thời Nguyễn Huệ gọi là Đảo Cát Vàng, Trung Hoa gọi là Tây Sa, Âu Tây gọi Paracel hay Parcels, Nhật gọi Hirata Gunto.

Trong thời gian trước sau 1975, khi có tin ngoài thềm biển Việt Nam có mỏ dầu, các nước trong vùng thay nhau tuyên bố quần đảo đó, nhiều hay ít, thuộc chủ quyền của họ. Trong một bản tin vào Tháng Bảy, 1999, có đến chín nước tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc lãnh hải của mình, trong có Philippines, Brunei, Mã Lai, Đài Loan, Trung Cộng, và Việt Nam, đương nhiên vì đảo đó thuộc về nước ta từ biết bao nhiêu thế kỷ rồi.

Hoàng Sa có hai nhóm đảo chính nằm cách nhau 20 hải lý, là nhóm Amphitrite trong có đảo chính là Phú lâm (Woody) dài 3.7 cây số và nhóm Cresent mà đảo chính là Hoàng Sa (Pattly) dài một cây số, rộng hơn 700 mét. Cuộc tranh chấp ngày càng ráo riết. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa từng đóng doanh trại ở đây từ năm 1959. Gần đây (1999), Trung Cộng tới xây cất, cắm cờ, cho chiến thuyền tuần tiễu xung quanh. Đây có lẽ là cuộc tranh chấp chủ quyền đất đai, có nhiều nước tranh nhất thế giới và kéo dài, dai dẳng nhất thế giới.

Cách đây cả nửa thế kỷ, nằm trong diễn tiến cuộc tranh giành này, Trung Hoa phái 132 binh sĩ hải quân tới chiếm đóng một hòn đảo nhỏ trong vùng gọi là đảo Mẹ Hiền, rồi bỏ quên họ trên đó. Tài liệu tôi có trong tay lại không xác định đó là binh sĩ Tàu Cộng hay Tàu quốc gia. Đây là một vụ bỏ quên thảm khốc nhất trong số những vụ bỏ quên trong chiến sử.

Gần 50 năm sau, Vương Ấu Hoa (Wang Yo-hua), một nhà giáo trung học ở Đài Loan kiêm nhà văn thuộc Trung Tâm Văn Bút Đài Bắc, tình cờ khám phá ra sự việc khi theo một chiếc tàu đánh cá lênh đênh nhiều ngày trên Biển Đông, ghi chép tài liệu để viết bài cho một tạp chí địa dư.

Vụ này được thuật lại dưới nhan đề “The Stone Tablet on the Cove of Loving Mother” (Tấm bia đá trong Vịnh Mẹ Hiền) và được cô Ngô Mẫn Gia dịch ra tiếng Anh, đăng trên phụ trang văn học của tờ Independent Evening Post, và trên trang nhất của tờ tạp chí The Chinese PEN (Taiwan) (2), mà Tiến Sĩ Yu Kwang-chung (Vũ Quang Chung), chủ tịch Văn Bút Đài Bắc, gửi tặng cho chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Viên Linh cuối thế kỷ trước. (The Chinese PEN là danh xưng của tờ tạp chí, viết bằng Anh Ngữ, còn trên thực tế, Trung Tâm Văn Bút xuất bản tờ báo đó có tên chính xác là The Taipei Chinese Center, International P.E.N. – Trung Tâm Đài Bắc Trung Hoa thuộc Văn Bút Quốc Tế).

Trường Sa! Trường Sa!
Đảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.
……
Đất liền ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc,
Con chim động giấc gào cô đơn.
……
San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm người.
(Tô Thùy Yên – Trường Sa Hành)


Truyện “Tấm bia đá trong Vịnh Mẹ Hiền” ra sao? Tác giả câu chuyện là Vương Ấu Hoa, sinh năm 1956 tại Miêu Lý, người Sơn Đông, đã xuất bản các cuốn “Đất, Quần đảo xáo trộn.” Tác giả kể chuyện đã đi theo một con tàu đánh cá tới Biển Đông, rồi con tàu trục trặc máy móc, dạt vào một hòn đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa.

Đảo nhỏ này có một vũng vịnh gió thổi rất gắt, nghe như tiếng hú gọi mẹ của những đứa con lạc đàn nào đó. Trong khi tàu nằm ụ để sửa, tác giả đi theo một thủy thủ già và một anh trẻ tuổi đi thăm thú hòn đảo. Lão thủy thủ già có hành vi hơi khác thường. Đoạn khám phá ra tấm bia và sự việc xảy ra như sau (những câu chữ trong hai dấu ngoặc do anh Ng. Phương Tuấn (quá cố) dịch từ Anh Ngữ):

“Ông ta dường như chẳng xa lạ gì với nới này. Ông nhìn quanh quất,… rồi đi nhanh tới một ụ cát trước dãy nhà, ngồi sụp xuống và bắt đầu dùng hai tay đào bới… Người thủy thủ già từ từ làm lộ ra một tấm bia đá bị vùi chôn trong cát. Tôi ngồi ngay xuống xem xét tấm bia… Tấm bia đá rộng khoảng hai thước và cao ba thước. Ta có thể thấy những chữ khắc mầu nâu đậm. Cứ xét tình trạng bề ngoài của tấm bia và các chữ khắc, tôi có thể biết được là nó dựng lên cách đây chưa lâu lắm. Tôi đã tình cờ thấy hơn hai mươi tấm bia đá cùng loại trên những hải đảo quanh vùng biển này… Dòng chữ khắc trên mặt đá “Tưởng niệm một trăm ba mươi chiến sĩ can trường đã kiên trì ở lại căn cứ và hiến đời mình cho tổ quốc.”

-“Ông Trình, do đâu những người lính kia lại táng mạng nơi đây?

Ông Trình ngồi xuống trên tấm bia đá vừa được đào lên… Đôi mắt nhìn xa vắng.

-“Từng có đánh nhau ở đây à?” Tôi không thấy dấu vết gì của một trận đánh nhau cả… Toán quân làm sao sống ở một nơi không có gì để ăn uống như thế này… Đó là một hòn đảo tí hon. Khó mà tưởng được rằng một số nhiều người đến thế lại tới chôn thây ở nơi này.

-“Không hề có đánh nhau gì cả. Thời đó nhà nước phái hơn một trăm lính tới đảo. Họ bảo Việt Nam, Phi Luật Tân, và Mã Lai Á đều muốn hiện diện nơi đây, thế là họ đưa chúng tôi đến chiếm đảo. Ai tới trước thì giành được trước. Dân các nước tới dựng cột, kéo cờ lên… Chúng tôi đi trên hai tàu chiến đầy súng ống đạn dược. Chúng tôi bắn bừa vào bất cứ ai muốn tiến vào đảo. Các nước khác đâm ra hoảng, không lính nước nào còn dám mon men lên đảo… Không có cây cỏ nào mọc trên đảo… Cứ mỗi tháng một lần tàu chở đồ tiếp tế tới. Đó là nguồn thực phẩm và nước uống duy nhất của chúng tôi.”

-“Thế sao họ lại chết? Bị bệnh tật gì chăng?”

“Đồ tiếp tế không tới nữa. Cả đám chết đói. Anh có biết chết đói nó như thế nào không?” “Chắc ông nói giỡn. Sao lại có thể như vậy được?”…“Ấy đó là vào thời hỗn loạn nhiễu nhương. Người ta đang tranh giành quyền lực… Hải quân thì rối beng… Không ai ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy, và người ta quên béng mất chúng tôi.” “Ồ… Tôi ôn nhớ lại thời kỳ chính trị bát nháo đó (1)”

“Mãi cả năm sau tàu mới tới… Lính tráng chết đói hết, một trăm ba mươi mốt anh em cả thảy, chỉ trừ được một mạng. Gã ta sống sót và dở điên dở khùng. Ngày nào gã cũng kéo cờ lên và nổ súng vào những thuyền tàu nào tiến gần đảo.”

“Vậy một người sống sót… Khoan đã, ông Trình, do đâu mà ông biết rõ hết mọi chi tiết. Ông dùng chữ “chúng tôi,” là những ai vậy?”

“Các ông ơi…” Ông Trình liệng mẩu thuốc lá xuống mặt cát, đứng dậy trên tấm bia… nụ cười thiểu não, ông đi về phía chiếc tàu, không nói một lời nào.”

“…Ai đã ra lệnh phái những người lính đó tôi đây?… Những người lính bị mất luôn số quân tên tuổi… Gia đình họ có biết rằng họ đã bị bỏ đói chết trên đảo này? Chắc là không… Và giả như tôi khám phá được những người chết đó là ai thì làm gì đây? Người ta thích xây tượng đài. Nhưng những tượng đài không đem lại cho ta bài học nào đáng chiêm nghiệm. Triều đại nào thời nào cũng có tượng đài được xây cất. Nhưng con người vẫn tái phạm những tội ác giống nhau ở bản chất, chỉ khác kiểu cách thực hiện…” (3)

Đó là kết luận của Vương Ấu Hoa. Với chúng ta, câu hỏi là 131 lính Hải Quân trên đây thuộc Tàu Cộng hay Tàu Tưởng? Nói như nhà cách mạng Lý Đông A trong Chu Tri Lục, thì Tàu nào cũng là Tàu nào, Tôn Văn từng coi Việt Nam cũng chỉ là một tỉnh nhỏ của Tàu…. 
Viên Linh NV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏ Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin). Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi "Baixos de Chapar ou de Pulls Scir", tức là Bãi cát Chămpa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.
Giới tiến hóa đã cố gắng làm bất cứ cái gì có thể, kể cả việc tạo dựng bằng chứng giả nhằm lừa đảo về tiến hóa, cốt chứng minh thuyết tiến hóa là một khoa học thực sự. Nhưng họ khó mà che đậy được các sự kiện lịch sử và xã hội phơi bày tác hại của học thuyết Darwin đối với xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỷ 20 và hiện nay. Đó là một trong những lý do chủ yếu giải thích vì sao đạo đức xã hội đã và đang ngày càng xuống cấp…
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
ĐI GIA ĐỊNH ĐỂ NGHỊ HÒA VÀO NĂM NHÂM TUẤT (1862) Đại Nam thực lục ghi chép về việc nghị hòa năm Nhâm Tuất (1862) Tháng tư năm Nhâm Tuất (1862) “Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na sai Xuy Mông (1) chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An để đưa thư bàn về việc hòa. Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên…”; “Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (2) xin đi.
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam… Chiến tranh luôn đem lại khổ đau và tai nạn cho nhân loại. Dù cho kẻ thắng hay người thua đều vì nó mà phải thương tâm. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã từng có thơ rằng: “Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân
KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều: 1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Bảo Trợ