Dấu Hỏi, Dấu Chấm Hết Câu Và Dấu Ngoặc

23 Tháng Tư 201811:48 CH(Xem: 937)

DẤU HỎI, DẤU CHẤM HẾT CÂU VÀ DẤU NGOẶC

tieng_viet
Kính thưa Việt Bào,

Hiện nay, theo nhận xét của tôi, tuyệt đại đa số Việt Bào trong và ngoài Nước, kẻ cả rất nhiều người có học vị cao, đặc biệt Thầy-Cô dạy Việt văn cũng sơ ý phạm những lỗi (như đã nêu ở tựa đề) là điều thật đáng tiếc. Chính vì thế, nhắm đóng góp vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Mẹ Đẻ, tôi xin nêu từng câu phạm lỗi về dấu và, sau đó, xin chỉnh lại (các câu ấy) cho đúng với văn phạm.

Câu sai 1: Cô giáo hỏi Tí: ''Tại sao em không thuộc bài''?

Câu đúng: Cô giáo hỏi Tí: ''Tại sao em không thuộc bài?''

a- ''Tại sao em không thuộc bài?'' là câu hỏi trực tiếp. Cho nên, dấu hỏi phải nằm trong ngoặc kép bởi vì dấu hỏi ấy ''làm một với'' câu hỏi.

b- Có thể viết thế nầy: Cô giáo hỏi: Tại sao em không thuộc bài?

Hai chấm sau chữ ''hỏi'' giới thiệu ''câu hỏi trực tiếp'' (interrogation directe) mà cô giáo đặt ra cho Tí. (1)

Như vậy, không cần dấu ngoặc kép thì rõ ràng là dấu hỏi phải nằm trong câu hỏi! Trong bản Kinh Thánh (do Công Giáo và Tin Lành dịch chung), vì dấu ngoặc kép của tiếng Đức quá khác với ''thiên hạ'', cả hai Giáo Hội ấy không dùng ngoặc kép cho câu hỏi trực tiếp như đã nêu.

Câu sai 2: Tí trả lời: ''Thưa Cô, tại vì em bệnh''.

Câu đúng: Tí trả lời: ''Thưa Cô, tại vì em bệnh.''

a- ''Thưa Cô, tại vì em bệnh.'' là câu khẳng định. Cho nên, ''dấu chấm hết câu'' phải nằm sau câu ấy, chứ không ở ngoài ngoặc kép!

b- Có thể bỏ dấu ngoặc kép: Tí trả lời: Thưa Cô, tại vì em bệnh.

Câu sai 3: ''Không thể được! Chúng ta phải làm ngay'', chỉ huy trưởng ra lệnh.

Câu đúng: ''Không thể được! Chúng ta phải làm ngay.'', chỉ huy trưởng ra lệnh.

a- Sau chữ ''ngay'', phải có dấu chấm hết câu: point final.

b- Có thể viết như sau: Chỉ huy trưởng ra lệnh: ''Không thể được! Chúng ta phải làm ngay.''

Hôm nay, trong rất nhiều tiểu thuyết (bán chạy), người Anh, Pháp, Đức... cũng ghi sai dấu như vừa nêu.

Câu sai 4: Ông ta viết: ''Tốt danh hơn lành áo'' (Tục ngữ).

Câu đúng: Ông ta viết: ''Tốt danh hơn lành áo.'' (Tục ngữ)

a- Quá chừng người viết sai như sau: Chúa Giêsu phán: ''Em cô sẽ sống lại'' (Ga 11, 24). Dấu chấm hết câu phải nằm trong câu khẳng định, chứ không thể nằm sau ngoặc đơn!

b- Để làm sáng tỏ hơn luật văn phạm vừa nêu, tôi xin viết: Chúa Giêsu phán: ''Em cô sẽ sống lại!'' (Ga 11,24)


Câu sai 5: Ông ta hỏi tôi tại sao nó không đi học?

Câu đúng: Ông ta hỏi tôi tại sao nó không đi học.

a- Đó là MỘT câu có HAI mệnh đề: Mệnh đề chính ''Ông ta hỏi tôi'' ở thể xác định, chứ không phải thể nghi vấn! Cho nên, ''tại sao nó không đi học'' là mệnh đề phụ, động từ cũng ở thể xác định. Vì thế, phải ghi dấu chấm hết câu (point final) sau chữ ''học''. (2)


b- Muốn thêm dấu hỏi thì viết như sau: Ông ta hỏi tôi: ''Tại sao nó không đi học?'' Đây là HAI câu độc lập về hình thức, tức mỗi câu là mỗi mệnh đề riêng biệt mặc dù câu thứ hai hàm ý bổ nghĩa cho câu thứ nhất.


c- Quá chừng học giả (không nắm vững luật về dấu chấm), bèn viết thế nầy: Ông ta hỏi tôi: ''Tại sao nó không đi học?''. (Dấu ''chấm hết câu'' sau ngoặc kép là sai hoàn toàn!)

Phan văn Phước


Ghi chú:

(1) Vì thế, không thể tùy tiện như nhiều tác giả Anh viết về văn phạm, chẳng hạn: So he comes into the pub and says 'I'll have a pink'. (Dấu chấm hết câu nằm ngoài dấu ngoặc! x. Practical English Usage – Michael Swan, tr. 533.) Trong khi đó, nơi ''Comprehensive English Grammar – C.E. Eckersley and J.M. Eckersley'' thì: Shelly said: 'Life, like dom of many-coloured glass, Stains the white radiance of Eternity.'

(2) Ở trên, tôi có viết: Vì thế, phải ghi dấu chấm hết câu (point final) sau chữ ''học''. (Dấu chấm hết câu sau ngoặc kép bởi vì hai ngoặc kép ấy nhấn mạnh chữ HỌC. Ví dụ khác: Ông ta nói rằng cô ấy đi ''hôm qua''.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5 nhằm tôn vinh những người mẹ trên khắp thế giới, thể hiện tình yêu thương của con với người đã sinh ra mình. Vậy ngày của Mẹ xuất phát từ đâu và có ý nghĩa như thế nào?
Vào thời cha Đắc Lộ đặt chân đến đất Việt, tức là những năm 1625, tên gọi Việt Nam chưa có trong ngôn ngữ sử dụng của người châu Âu cũng như chưa được sử dụng giữa người Việt. Tên gọi Việt Nam mới xuất hiện dưới thời hoàng đế Gia Long (1802-1819) thống nhất đất nước. Vào thời truyền giáo của các tu sĩ Dòng Tên, có hai vương quốc trên đất Việt: vương quốc Đàng Ngoài với kinh đô là Thăng Long (nay là Hà Nội), và vương quốc Đàng Trong với kinh đô từ năm 1636 là Kim Long (nay là Huế).
Phần 1 - NỖI BUỒN LÀM HƯ TIẾNG VIỆT: ''Phải làm gì nếu bạn quá xấu hổ ĐỂ đi xưng tội?'' Kính thưa Việt Bào, Cách đây chừng vài tháng, được Nhóm Thân Hữu nọ gởi cho bài dịch ''Phải làm gì nếu bạn quá xấu hổ ĐỂ đi xưng tội?'',
Cải lương (改良) có nghĩa ban đầu là cải cách, đổi mới nghệ thuật hát bội. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của môn nghệ thuật này. Cái tên "cải lương" xuất hiện lần đầu tiên trên bảng hiệu gánh hát Tân Thịnh vào năm 1920 với câu đối như sau:
Về nguồn gốc của Trống cơm, An Nam Chí Lược của Lê Tắc - bộ sử được xem là xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra viết về Việt Nam, đã nói khá rõ về trống cơm. Theo đó, trống cơm nguyên là nhạc khí của người Chiêm Thành (tức người Chăm)(1), sau đó du nhập vào nước ta.
Nam Kỳ là cái nôi của nền báo chí Việt Nam - với một loạt công báo tiếng Pháp và tờ báo quốc ngữ đầu tiên, Gia định báo, ra đời năm 1865, sau đó là sự phát triển của báo chí tư nhân, bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Báo chí xuất hiện ở Bắc Kỳ từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ công báo, sau đó là những tờ báo tư nhân nhưng cũng là cơ quan ngôn luận của chính phủ thuộc địa.
"THÁNGTƯ ĐAU BUỒN" gồm hơn 200 bài viết, 100 thơ nhạc và nhiều hình ảnh video
Mùng 8 tháng 3 vừa qua là Ngày phụ nữ quốc tế. Tại Italia và 70 quốc gia trên thế giới nữ giới đã tổ chức một cuộc đình công lớn để phản đối chống lại mọi hình thức bất bình đẳng cũng như những kỳ thị bất công mà hàng tỷ phụ nữ toàn thế giới vẫn còn đang phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình, ngoài xã hội.
Xin gởi đến quí vị nhóm Liên kết các thế hệ tài liệu ngắn gọn của mười hai vị vua Việt Nam chống Tàu từ đời nhà Tần đến nhà Thanh: 1-/An dương Vương- Nhà Tần 2-/Lý Nam Đế- Nhà Lương 3-/Triệu việt Vương- Nhà Lương, nhà Tùy 4-/Ngô Quyền-Nhà Nam Hán 5-/Đinh tiên Hoàn- Nhà Ngô 6-/Lê đại Hành- Nhà Tống 7-/Lý thánh Tông-Nhà Tống 8-/Trần nhân Tông- Nhà Nguyên Mông 9-/Lê thái Tổ- Nhà Minh 10-/Lê thánh Tông- 11-/Nguyễn Hoàng- 12-/Quang Trung-Nguyễn Huệ-Nhà Mãn Thanh
Phụ nữ là phần quan trọng nhất trong xã hội loài người, không có họ thì sẽ không có nhân loại hôm nay bởi vì bất kỳ ai cũng phải do mẹ sinh ra. Vì thế nên những gì bao la vĩ đại và đẹp đẽ nhất đều có thể ví với phụ nữ.
Bảo Trợ