Cải Lương Nghĩa Là Gì? Nguồn Gốc Của Cải Lương

25 Tháng Tư 20185:14 CH(Xem: 755)
Cải lương (改良) có nghĩa ban đầu là cải cách, đổi mới nghệ thuật hát bội. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của môn nghệ thuật này. Cái tên "cải lương" xuất hiện lần đầu tiên trên bảng hiệu gánh hát Tân Thịnh vào năm 1920 với câu đối như sau:
 
 CẢI cách hát ca theo tiến bộ
LƯƠNG truyền tuồng tích sánh văn minh.

Nhưng trước đó, khoảng đầu thập niên 1900, loại hình nghệ thuật này đã manh nha xuất hiện với sự ra đời của các ban tài tử đờn ca. Nếu trước kia "cầm" (trong "cầm, kỳ thi, họa") là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.

Vào khoảng thời gian này, khi người ta nghe “hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm"(1)thì việc xuất hiện các ban tài tử đờn ca có thể biểu diễn trên sân khấu, được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Trong đó, Mỹ Tho (tức tỉnh Tiền Giang hiện nay - ATABOOK) được xem là nơi khai sinh nghệ thuật cải lương với sự ra đời của ban nhạc tài tử đầu tiên ở Nam Bộ do ông Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia (tục gọi Tư Triều), lập ra.

 
Ban nhạc tài tử Tư Triều năm 1906
Ban nhạc tài tử của ông Tư Triều năm 1906

Trong thời kỳ này, do tỉnh Mỹ Tho đóng vai trò là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn nên khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé đây. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài " Bùi Kiệm - Nguyệt Nga", với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và "ca ra bộ". Ca ra bộ phát sinh từ đó, khoảng năm 1915 - 1916.

Vào năm 1917, ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc có gánh hát xiếc tên là Sadec Amis, sau khi xem đoàn xiếc của Mỹ sang Sài Gòn và lưu diễn tại các tỉnh miền Nam, ông đã nảy ra ý hay đem áp dụng cho Sadec Amis của mình bằng cách đệm màn phụ diễn như xiếc chen vào màn ca ra bộ. Bởi vậy nên gánh của ông luôn lôi kéo khán giả. Sau đó ông trương bảng: "Gánh hát thầy Thận Cirque jeune Annam - Ca ra bộ - Sadec Amis".

Qua năm 1918, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương. 


NSND Bảy Nam, Kim Cương, Thành Lộc, Phùng Hà
Từ trái qua phải: NSND Bảy Nam, NSND - kỳ nữ Kim Cương, NSƯT Thành Lộc, NSND Phùng Há chụp năm 2002

Tham khảo và trích dẫn

• Vương Hồng Sển - 50 năm mê hát (năm mươi năm cải lương), Nhà xuất bản Trẻ, tháng 4/2007
• Wikipedia.org ►Cải lương

Chú thích

(1) Trích trong cuốn "50 năm mê hát" (năm mươi năm cải lương) của học giả Vương Hồng Sển (sách đã dẫn)

Theo Atabook
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều: 1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Lật chồng báo cũ: QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TUYỆT VỜI 92 NĂM TRƯỚC - Quan điểm giáo dục tại Đông Dương năm 1926 Nguyễn Đình Thành - Đọc lại báo xưa từ năm 1926 triết lý đã rất rõ ràng: …Mục đích sơ học và và cao đẳng tiểu học là cốt dạy dỗ cho trẻ con ngày sau có đủ học thức mà đối phó với đời, và ngày sau biết quyến luyến xứ sở và chức nghiệp của mình, chớ không phải là đào tạo một hạng người cứ tưởng mình là giỏi giang xa hẳn khác đồng bào, vì biết giăm bảy chữ tây, không nhớ cổ tục là gì và không có giây liên lạc với nòi giống nữa.
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại. Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. "Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."
Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất . 1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC: - Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang . - Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng . HỎI + SẮC:
Miếu Công thần Vĩnh Long nhìn từ bên ngoài ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Nằm bên tả ngạn sông Cổ Chiên, miếu Công thần Vĩnh Long là hậu thân của miếu Hội đồng thờ các vị công thần triều Nguyễn. Di tích này được các nhà nghiên cứu quan tâm bởi nơi đây hiện còn giữ được nhiều đạo sắc
Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Bảo Trợ