Trống Cơm Là Gì? Tại Sao Gọi Là Trống Cơm?

17 Tháng Tư 20184:06 CH(Xem: 2259)
Về nguồn gốc của Trống cơm, An Nam Chí Lược của Lê Tắc - bộ sử được xem là xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra viết về Việt Nam, đã nói khá rõ về trống cơm. Theo đó, trống cơm nguyên là nhạc khí của người Chiêm Thành (tức người Chăm)(1), sau đó du nhập vào nước ta. 

Tên gọi nguyên thủy của trống cơm là phạn - sĩ (2). Trống tròn và dài, “nghiền cơm, bịt hai đầu, cứ giữa mặt mà vỗ thì kêu tiếng trong mà rõ ràng”. Như vậy, cái tên trống cơm chính là có nguyên nhân như thế này đây. Ấy là do trong quá trình chế tạo, người ta đã nghiền cơm bịt vào hai đầu trống. 

Trong cuốn Cầm ca Việt Nam, Toan Ánh viết như sau: "Trống cơm là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, mình dài và nhỏ, khi đánh trống không dùng đến dùi mà dùng hai bàn tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai nắm cơm nếp này mà trống được mang tên trống cơm.

Ở miền nam Ấn Độ cũng có trống giống trống cơm của Việt Nam tên là Mridangam. Trên mặt trống có một ít cơm nghiền (hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh) dán lên định âm cho trống, làm cho tiếng trống êm ái hơn. 

Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc bình dân. Từ những nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều có nghe tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điệu nhạc.

Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh mà cũng không trầm như chìm xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài tình. Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bổng như nặng hồn dân tộc bên trong.


Trống cơm có nguồn gốc từ đâu
Múa trống cơm

Ngoài ra, sự ra đời của trống cơm cũng gắn liền với câu chuyện sau: 

"Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo, thi mãi không đỗ, túng cùng phải đi xin ăn. Hằng ngày, khi sang ngang nhà của một phú hộ thì có một cô bé ở chực sẵn đem cho cơm trắng canh ngon. Công việc đó cứ theo thời gian trôi qua một cách đều đặn. 

Suốt năm trời như thế, chàng nho sinh vô cùng cảm động nhưng không khỏi ngượng ngùng. Một hôm, chàng tỏ lời cám ơn cô bé và không nhận lãnh của cho nữa. Chàng lại từ giã, đi sang ở làng khác kiếm ăn. Cô bé thực thà cho biết việc làm của cô là vâng theo lời dạy của cô Hai, con gái của chủ nhà mà thôi. Ơn đó là ơn của cô chủ. 

Chàng cảm động, yêu cầu xin gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn và từ giã. Cô bé ở hẹn lại hôm sau, để xem cô chủ có bằng lòng không, rồi sẽ cho biết. Nếu cô chủ bằng lòng cho gặp mặt thì chàng cứ chờ tại chỗ này. 

Hôm sau, chàng vừa đến thì đã gặp ngay cô chủ nhà đứng đợi. Nàng rất đẹp. Chàng nho sinh cúi đầu, chấp tay xá nhưng nàng khoát tay vội nói: 

– Tôi đã hiểu ý chàng muốn nói gì rồi. Tôi ở đây lâu rất bất tiện, mà chàng cũng không cần phải nói ân nghĩa gì. Sở dĩ, tôi giúp chàng vì biết chàng lỡ vận và cảm thương người trong bước đường cùng mới ra nông nỗi, không lẽ chí của người con trai chịu cùng nhụt như vậy mãi sao? 

Đoạn, nàng trao cho chàng một cái bọc bằng giấy, nói tiếp: 

– Nay chàng từ giã đi, tôi xin tặng một số bạc và một cây thoa vàng để chàng tìm cách lập nghiệp. Một ngày nào thành đạt, chàng sẽ trở về quê. Chừng ấy… 

Nàng bỏ lửng lời nói, lại quày quả thoăn thoắt đi. 

Chàng nho sinh vô cùng cảm động. Theo lời người ngọc dặn dò, chàng cần phải tạo lấy một sự nghiệp, nhưng sự nghiệp gì? Chàng không duyên số với đường công hầu danh tướng thì chàng phải chuyển sang nghê khác. Bất cứ nghề gì cũng tốt đẹp cả miễn đừng làm điều gì phi nghĩa. Thế là chàng đeo đuổi môn âm nhạc, một nghệ thuật trong 7 nghệ thuật. 

Thời gian 3 năm, chàng đã thành tài và lãnh đạo một giáo phường. Chàng hớn hở, vui tươi vội quay về quê xưa mong gặp mặt người ân nhân yêu quý. Nhưng thảm thay, chàng vừa đặt chân về nhà nàng, thì gia đình nàng đương làm đám táng cho nàng. Nàng vừa chết trong một cơn bạo bịnh! 

Chàng nhạc sĩ tài hoa vô cùng đau đớn. Chàng muốn đưa đám táng cho nàng. Chàng muốn khóc kể nàng. Chàng muốn để tang cho nàng. Nhưng phải làm sao để mọi người đừng biết việc làm của chàng đối với con người đã khuất? Chàng liền xin cha nàng cho chàng đem phường nhạc của chàng đến để đưa vong linh người chết. Chàng sáng tạo một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nhỏ, để nhắc lại kỷ niệm sâu xa cao đẹp là ngày xưa, nàng đã cho cơm chàng ăn. Sợi dây trống đeo lên cổ bằng vải trắng là chàng để tang nàng. 

Lúc đưa đám chàng mang trống cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ trên mặt trống, phát thành tiếng kêu bi ai, tha thiết: 

– “Tình tang, tang tình! Tình tang, tang tình!…” 


Đó là tiếng khóc kể kín đáo của chàng đối với người yêu có một tâm tình cao thượng, thanh khiết. Đó là tiếng nức nở ở cõi lòng của một nghệ sĩ đối với mối tình đầu đã tan vỡ, mà chàng chỉ còn mượn lấy âm thanh của “Trống cơm” để tiễn vong linh nàng."

Tham khảo và trích dẫn

• Lê Tắc - An Nam Chí Lược - Viện Đại học Huế, 1961
• Toan Ánh - Cầm ca Việt Nam - Lá Bối, Sài Gòn 1970
• Dotchuoinon.com ►Trống cơm
Chú thích:

(1) Tất nhiên, cần hiểu rằng Chiêm Thành xưa là vùng đất thuộc địa bàn Trung và Nam Trung Bộ (có thể bao gồm cả Nam Bộ nữa) ngày nay. Còn nước ta khi ấy chỉ trải rộng trên địa bàn Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay mà thôi.

(2) Cũng có tài liệu viết là phạn - cổ, trong đó phạn nghĩa là cơm, còn cổ nghĩa là trống.

Theo Atabook

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hoàng đế Duy Tân sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý 1900, là một trong những bậc quân vương nổi bật nhất của triều đình nhà Nguyễn. Mặc dù chỉ tại vị 10 năm nhưng ông đã đi vào lòng dân tộc như một vị vua trẻ thông minh thiên bẩm, có ý chí mạnh mẽ, và đặc biệt là có tấm lòng ái quốc yêu dân. Dưới đây là một vài giai thoại thú vị kể về vị hoàng đế từ những ngày niên thiếu cho tới năm cuối đời, qua đó thể hiện khí phách anh hùng của một bậc đế vương.
Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã có những chuyển biến phi thường. Văn hóa Thiên Chúa Giáo đã góp gì vào những thay đổi ngoạn mục ấy? Đây là điều vẫn còn ít được giới nghiên cứu tại Việt Nam chú ý. Dịp Noel năm nay, mời quý vị theo dõi một số chia sẻ của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân (Hà Nội). Trong cuộc trả lời phỏng vấn RFI, ngày Noel 25/12/2019, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân giới thiệu bốn trong số các nhà văn Việt Nam, mà dấu ấn văn hóa Thiên Chúa Giáo in đậm. Hàn Mặc Tử với ''sự thăng hoa của cái đam mê tội lỗi'', khát khao vươn tới ''Phục Sinh và Khải Huyền''.
Các nhà khảo cổ, nhà sử học nhận định việc bãi cọc Cao Quỳ lộ thiên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, giúp thay đổi nhận thức trước đây về chiến dịch Bạch Đằng cũng như giai đoạn quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần. Phát hiện của người dân xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) về một bãi cọc cổ trên cánh đồng Cao Quỳ của xã gây chấn động giới sử học, khảo cổ học trong nước. Khảo cứu bãi cọc Cao Quỳ sẽ làm rõ nhiều bí ẩn trong lịch sử về cách dụng binh và tổ chức quân sự do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và quân dân nhà Trần thực hiện để ngăn bước xâm lăng quân Nguyên Mông.
Giáo sỹ Công Giáo Alexandre de Rhodes (1591-1660) là người đã soạn cuối từ điển Việt - Bồ - La Có những lý do về mặt tâm lý xã hội hay có màu sắc 'chính trị' phía sau cuộc tranh luận nóng lên trở lại gần đây về nhân vật lịch sử, giáo sỹ Công giáo Alexandre de Rhodes (1591-1660), và vai trò lịch sử, văn hóa của ông ở Việt Nam, mà tâm điểm xoay quanh việc Đà Nẵng có nên lấy tên ông đặt cho một đường phố hay không.
28 Tháng Mười Một 2014 (Xem: 1602) Vào khoảng thế kỷ 16-17, một tộc người thường được gọi là Pilgrim ở Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa
06 Tháng Bảy 2012 (Xem: 1786) Diễm Ca là sách độc đáo nhất trong toàn bộ Thánh Kinh ở chỗ tuy được kể là sách thánh, nhưng theo nhà chú giải thời danh thế kỷ 17-18 là Matthew Henry, nó là sách duy nhất, trong đó, tên Thiên Chúa không được nhắc đến (1), không được Tân Ước trích dẫn, không có bất cứ biểu thức nào
03 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 2573) - Lý Thường Kiệt vốn có họ và tên thật là Ngô Tuấn, người làng Bắc Biên, xã Phúc Xá (nay thuộc xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội), sau ông dời nhà về định cư phường Thái Hòa (nay thuộc nội thành Hà Nội).Ngô Tuấn tự là Thường Kiệt...
Nhìn lại 4 thế kỷ phát triển của thể loại tranh phong cảnh phương Tây Hòa BìnhHòa Bình | ĐKN 7 giờ tới Tranh phong cảnh Phương Tây trải qua 4 thế kỷ phát triển mạnh mẽ, đạt độ chín muồi vào thế kỷ 19. Từ chỗ chỉ làm nền cho những câu chuyện cổ, tranh phong cảnh đã có một chỗ đứng riêng được trân trọng trong dòng chảy nghệ thuật. Tranh phong cảnh đặt cảnh vật thiên nhiên trong bối cảnh nghệ thuật. Các bức tranh phong cảnh thường mô tả các ngọn núi, thung lũng, vùng nước, cánh đồng, rừng và bờ biển, cũng có thể bao gồm các cấu trúc nhân tạo và con người. Mặc dù các bức tranh từ thời cổ đại và cổ điển sớm nhất đã bao gồm các yếu tố phong cảnh thiên nhiên, tranh phong cảnh như một thể loại hội họa độc lập của phương Tây chỉ xuất hiện từ thời kỳ Phục hưng vào thế kỷ 16. Trải qua 3 thế kỷ phát triển, tới thế kỷ 19 tranh phong cảnh đã đạt tới đỉnh cao. “Phong cảnh Lærdalsøren trên Vịnh Sogne”. Họa sĩ: Themistokles von Eckenbrecher (1842-1921) Thế kỷ 19 – thời kỳ đỉnh cao và phát
Cali Today News – Hiện nay tại Việt Nam cách gọi tên và cách phát âm 23 mẫu tự tiếng Việt vô cùng lộn xộn. Thí dụ: Trên chương trình Thời Sự Quốc Phòng, thiết vận xa M.113 có cô đọc: em mờ 113. Có cô đọc mờ 113. - 9/5/2018
19-4-2017 - Nhìn vào lịch sử Việt Nam, Nghệ Tĩnh (cũng có khi gọi là An-Tĩnh, theo các tư liệu của Tạp chí Bulletin Des Amis Du Vieux Hué viết tắt BAVH) là một kết hợp của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nói chung là đất của văn hóa và lò lửa của cách mạng, nhất là trong thế kỷ XX. Những con người xuất thân từ vùng đất này sở dĩ nổi tiếng là vì một nguyên tắc phong thủy bất di bất dịch đó là “địa linh” tất phải sinh “nhân kiệt”.
Bảo Trợ