Về bộ sưu tập nghệ thuật của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp

29 Tháng Bảy 20202:00 CH(Xem: 3780)

Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể.
blank

Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực.

Thứ nhất, đó là những mảng đề tài ít được chú ý; nhất là đề tài mỹ thuật miền Nam và mỹ thuật Công giáo. Có thể nói, bao nhiêu năm qua, mảng mỹ thuật miền Nam gần như đã bị bỏ quên. Ít nhất là trong sử sách. Với hầu hết công chúng mỹ thuật Việt Nam hiện tại, mỹ thuật miền Nam chỉ còn là mảng “mỹ thuật kháng chiến” và mảng “mỹ thuật phản chiến”. Những tên tuổi như Lê Văn Đệ, Tạ Tỵ, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Nguyễn Siên, Văn Đen, Nguyễn Văn Rô, Nguyễn Anh, Nguyễn Thương, Lê Văn Bình, Tố Phượng, Tố Oanh... hiếm khi được nhắc đến. Nếu có chăng, thì họ chỉ được nhắc đến trong câu chuyện “trà dư tửu hậu” của các họa sĩ trưởng thành ở miền Nam trước 1975. Mà số người này, do tuổi tác, càng ngày càng thưa thớt.

Thứ hai, ngay cả khi chú ý thì người ta cũng không có tác phẩm để thưởng thức và để đánh giá. Nói đến nghệ thuật là nói đến tác phẩm. Tác phẩm mỹ thuật khác tác phẩm của các loại hình nghệ thuật khác ở tính chất độc bản. Một tập thơ hay một cuốn tiểu thuyết có thể được in cả hàng ngàn bản; mất bản này thì còn bản khác. Nhạc cũng vậy. Chỉ có tác phẩm mỹ thuật là độc nhất và bất khả thay thế. Các ảnh chụp chỉ có ý nghĩa rất tương đối. Huống gì, riêng ở Việt Nam, không phải tác phẩm mỹ thuật đặc sắc nào cũng có ảnh chụp. Còn các viện bảo tàng thì, do nhiều lý do từ kinh tế đến lịch sử, hiếm khi lưu giữ và trưng bày các tác phẩm mỹ thuật ở miền Nam cũng như liên quan đến tôn giáo, đặc biệt Công giáo.

Trong tình hình ấy, muốn tìm hiểu và thưởng thức mỹ thuật miền Nam cũng như mỹ thuật Công giáo, người ta chỉ có thể tìm đến một địa điểm duy nhất: các bộ sưu tập cá nhân.

Bộ sưu tập của cố Linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp (1926 – 1992) chính là một trong một sưu tập quý báu ấy.

Xin thú nhận là tôi biết đến bộ sưu tập nghệ thuật của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp một cách hoàn toàn tình cờ. Đó là những năm đầu thập niên 1980. Qua trung gian của giáo sư Nguyễn Đăng Trúc. Với tôi, đó là một phát hiện bất ngờ và đầy thú vị. Bao nhiêu năm sau, tôi vẫn còn nhớ như in từng tác phẩm trong bộ sưu tập ấy.

Thật ra, bộ sưu tập của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp không lớn lắm. Tổng cộng chỉ gần một trăm tranh, tượng. Tuy vậy, phần lớn là những tác phẩm chọn lọc và tiêu biểu, có thể mang lại một hình dung tương đối về phần diện mạo bị bỏ quên của mỹ thuật miền Nam, đặc biệt là mỹ thuật Công giáo. Hơn nữa, chúng là duy nhất, không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.

Ví dụ, trước đây, lúc bắt đầu tìm hiểu mỹ thuật miền Nam, tôi loáng thoáng nghe đến cái tên họa sĩ Nguyễn Anh. Được biết, ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1935; tu nghiệp tại trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris (Atelier Jean Dupas) trong khoảng thời gian từ 1947 đến 1950; là giáo sư trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn từ 1962 đến 1967, và đảm nhiệm chức vụ giám đốc trường này năm 1967-1968; đã có nhiều triển lãm trong nước và quốc tế v.v… Nhưng, tìm kiếm khắp nơi, tôi vẫn không thấy một tài liệu nào về ông, không thấy một hình ảnh nào về tác phẩm của ông.

Gần đây, khi xem lại bộ sưu tập của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp, tôi mới giật mình nhận ra, bốn bức tranh chủ đề “Giáng Sinh” mà lúc trước tôi rất thích, còn nhớ đến bây giờ, lại chính là tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Anh.

Không phải riêng tôi mà cả những họa sĩ từng trải ở miền Nam cũng có nhận xét tương tự. Cách đây mấy tháng, tôi mời họa sĩ Nguyễn Lâm cùng đến tham quan bộ sưu tập. Họa sĩ Nguyễn Lâm là một trong vài học trò cũ của họa sĩ Nguyễn Anh. Chính ông cũng bất ngờ, bởi đây là lần đầu tiên được nhìn thấy tranh của thầy mình. Ông giải thích: “Thầy Nguyễn Anh tuy dạy rất giỏi, nhưng sinh viên lúc đó, rất ít người được xem tác phẩm của ông. Một phần, do ông toàn triển lãm ở nước ngoài, phần khác, cũng như thầy Lê Văn Đệ, tranh ông lúc đó cũng đã thuộc hàng qúy hiếm”.

Hôm đó, họa sĩ Nguyễn Lâm cũng săm soi rất kỹ hai bức tranh sơn mài - một bức có chủ đề “Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng”, bức kia chủ đề “Truyền tin” - của họa sĩ Nguyễn Phước, một họa sĩ cùng thời với ông, nổi tiếng với bút pháp tài hoa và bảng màu lạ, lung linh, huyền ảo. Ông nói, đây cũng là lần đầu tiên ông được nhìn thấy mảng tranh Công giáo của bạn mình. “Hai bức tranh sơn mài và cả ba bức sơn dầu của Nguyễn Phước ở đây đều rất đẹp!”, ông nhận định.

Tất cả những điều vừa kể cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của bộ sưu tập nghệ thuật của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp. Đó thực sự là một kho tàng hiếm và quý. Hiếm vì, khác với truyền thống Tây phương, người Việt không có thói quen xây dựng các bộ sưu tập nghệ thuật cá nhân, nhất là trước năm 1975, khi Việt Nam đang có chiến tranh và khi việc sưu tập nghệ thuật không hứa hẹn mang lại nguồn lợi nào về kinh tế. Quý vì, so với các bộ sưu tập nghệ thuật khác từng hiện hữu ở Việt Nam, đây là một bộ sưu tập có nhiều tác phẩm mỹ thuật về đề tài Công giáo. Bởi vậy, việc khai thác bộ sưu tập này là một công việc lâu dài đối với các nhà phê bình cũng như lịch sử mỹ thuật. Trước mắt, chúng tôi xin tạm thời tự giới hạn ở một mục tiêu khiêm tốn: giới thiệu một số tác phẩm chủ đề Công giáo trong bộ sưu tập nghệ thuật quý hiếm này.

“Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng”, tranh sơn mài, 42 x 35 cm, của Nguyễn Phước, 1990

blank

“Truyền tin”, tranh sơn mài, 80 x 69 cm, của Nguyễn Phước, 1990

blank


“Hiển linh”, tranh sơn dầu, 150 x120 cm, của Nguyễn Phước, 1988
blank


“Giáng sinh”, tranh sơn dầu, 92 x 67 cm, của Nguyễn Anh, 1971
blank

“Giáng sinh”, tranh sơn dầu, 100 x 80 cm, của Nguyễn Siên, 1971
blank

“Dưới chân Chúa”, tranh lụa, 90 x 60 cm, của Tôn Thất Văn, 1981
blank


“Đức Mẹ bồng con”, tranh lụa, 65 x 42 cm, của Lê Văn Bình, 1990
blank

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao./post 31 Tháng Mười Hai 2012 (Xem: 1951) - Nguon http://e-cadao.com Ts. TRẦN VĂN NAM /
Bảo Trợ