Kim Môn Kiều

29 Tháng Năm 20122:00 CH(Xem: 4004)


Kim Môn Kiều

Tưởng không bao giờ trở lại.

blank

1987, kỷ niệm 50 năm cầu Kim môn, 300.000 đã đi bộ trên cầu.

Năm 1962, có anh sĩ quan trẻ đi du học một mình. Học về môn chiến tranh sinh hóa tại Fort Mc.Clellan, tiểu bang Alabama. Từ Việt Nam phi cơ cánh quạt vượt Thái bình Dương phải ghé đảo Guam, đảo Wake rồi Hawaii. Trạm dừng chân đầu tiên là San Francisco. Tuy đi một mình với khóa học 3 tháng cô đơn nhưng trên đường bay vào Mỹ có các bạn học lớp đại đội trưởng ở Fort Benning. Chúng tôi cùng cư ngụ tại hotel nằm ngay cửa ngõ lối vào phố Tàu. Thời gian tạm trú chờ di chuyển anh em ta chuyên trị lội bộ. San Francisco ngày đó mở ra một thế giới xa lạ và huyền diệu trong giấc mơ Mỹ quốc. Đọc sử thế giới đã từng nghe nói đến các hội nghị quốc tế tại Cựu Kim Sơn. Vì vậy chương trình thăm viếng đầu tiên là phải đến Kim Môn Kiều, Golden Gate Bridge.

Vào đầu thập niên 60, cây cầu vàng khánh thành năm 1937 vừa được 25 cái xuân xanh. Như vậy là mình còn hơn cô nàng mấy tuổi. Bốn anh em đi bộ đến bến xe điện du ngoạn cho hết con đường rồi lấy taxi thăm Kim Môn Kiều. Dưới ánh nắng chiều Golden Gate hiện ra rực rỡ. Từ phía thành phố ngó qua, hai ngọn tháp dường như chuyển động giữa trời xanh mây trắng. Nhìn từ phía dưới, ngọn tháp phía bắc còn cao hơn cả dẫy núi bên kia quận Marin. Kim Môn Kiều nằm dài như hình ảnh của người đẹp đợi chờ ta cả ngàn năm. Anh em hăng hái đi bộ suốt lộ trình qua bờ Bắc rồi quay trở lại. Niềm say mê cảnh đẹp giữa xứ lạ quê người làm ai nấy như đi trong mộng.

Cảnh thanh bình của nước văn minh làm động lòng các sỹ quan từ xứ chiến tranh đến Mỹ du học.

Sau khi đi học ở Albama trở về, tôi lại có dịp ghé lại Kim Môn Kiều chụp hình kỷ niệm.

Rồi chúng tôi chia tay, tưởng chừng đôi ngả cách biệt sẽ không bao giờ trở lại.

Nhưng thật không ngờ, suốt thời gian 21 năm quân vụ, tôi còn may mắn trở lại công tác tại Mỹ. Lúc thì du hành quan sát, lúc thì đi học về quản trị, mỗi lần ghé San Francsico là một lần thăm Golden Gate.

Cô nàng trải qua bao năm tháng vẫn giữ mãi vẻ đẹp huyền ảo. Hai cột trụ vươn cao như 2 cánh buồm có lúc chìm trong màn sương của vịnh Cựu Kim Sơn u tịch.

Dù gặp đi gặp lại đôi lần, nhưng cũng không bao giờ lại nghĩ rằng có dịp chúng tôi sẽ định cư ngay tại Bay Area như ngày nay.

Cho đến bây giờ, mùa lễ chiến sĩ trận vong năm nay, được tin San Francsico sẽ đốt pháo bông. Chưa bao giờ người ta vui mừng đốt pháo vào ngày lễ tưởng niệm như vậy. Nhưng thành phố Vịnh quả thực sẽ đốt pháo mừng vì đúng vào dịp cô Kiều sinh nhật 75 tuổi. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1937.

Lịch sử cây cầu vàng.

Vào đầu thế kỷ thứ 20, sự phồn thịnh của nước Mỹ phát triển nhờ chuyển vận. Đất nước mênh mông ráp ranh 2 đại dương đã thành cường quốc kinh tế nhờ đường xe lửa và xa lộ. Trong hệ thống giao thông chằng chịt thì các cây cầu là nhu cầu then chốt. Cầu Golden Gate là bài toán khó nhất tại miền Tây.

Kỹ sư Joseph Strauss mà tượng đài của ông hiện đặt ở đầu cầu là người đã phác họa hình dáng cây cầu từ kỹ thuật cho đến mỹ thuật.

Tháng giêng năm 1933 công trường khởi sự và hoàn tất vào năm 1937. Ngày 27 tháng 5-1937 cho người đi bộ và ngày hôm sau bắt đầu cho xe hơi chạy qua.

Đây là cây cầu treo đầy sáng tạo và mỹ thuật của thế giới. Ý tưởng mới lạ và táo bạo của các nhà chuyên môn thực hiện cây cầu không có chân. Chỉ treo lên bằng dây thép được gắn vào 2 ngọn tháp. Những sợi dây cáp bằng thép dùng để treo thân cầu tính ra dài đến 80 ngàn dặm.

Thời kỳ miền tây Hoa Kỳ xây cầu Golden Gate là lúc cả nước Mỹ lâm vào cảnh đại suy thoái. Cả vùng Bay đều đói kém, thất nghiệp. Các đạo luật về xã hội được ban hành và các công trình công cộng được thực hiện để cứu Hoa kỳ thoát khỏi cơn khủng hoảng hết sức lớn lao.

Sau đó nước Mỹ dần dần hồi sinh và khi cô Kiều ra đời đã đóng góp vào sự hưng thịnh của cả miền duyên hải Bắc California.

Thành quả một cuộc đời.

Nếu ví Kim Môn Kiều là một phụ nữ thì cuộc đời nàng sẽ còn dài cả ngàn năm. Tuy nhiên, chỉ riêng trong trong 75 năm qua, Golden Gate đã sống trong lòng Cali với những thành tích hết sức tốt đẹp.

Khu quần cư đông đảo của dân chúng vùng Vịnh đã chiếm gần một nửa dân số Cali. Vì vậy, sau cây cầu vàng và thêm một cây cầu Bay Bridge xây cất tiếp theo, đã giải quyết vấn đề lưu thông cho cả triệu dân. Trước đây, dân chúng khổ sở phải chờ đợi qua phà. Ngày nay, riêng Golden Gate có 110 ngàn xe qua lại mỗi ngày. Người ta cũng ghi nhận vẻ đẹp quyến rũ của Kim Môn Kiều làm cho 1600 người tìm đến nhẩy cầu tự tử. Trong số đó hơn 30 năm trước có một cô gái Việt Nam ở San Jose đã tìm được cái chết tại đây. Từ trên thành cầu nhẩy xuống biển ở đoạn giữa sẽ có được cái chết chắc chắn vì khoảng cách xa mặt nước là 220 feet và biển vịnh San Francsico có độ lạnh hết sức nguy hiểm.

Trải qua 75 năm, số người tự vẫn lên đến 1.600 xem ra quá nhiều. Trong số 10 triệu du khách đến thăm cô Kiều mỗi năm, người ta vẫn tự hỏi ai là người từ phương xa đến để xin nằm lại dưới đáy vịnh Cựu Kim Sơn.

Vào buổi xế chiều, gió thổi mạnh, trời mù sương, bạn đi lại một mình. Đi tới, rồi đi lui, vẻ mặt mang nỗi buồn u uẩn. Thế nào nhân viên an ninh cũng đến gần hỏi thăm. Đây cũng là chuyện dễ hiểu vì Kim Môn Kiều đã nổi danh thế giới là nơi nhiều người muốn đến để tự kết liễu cuộc đời.

Hướng dẫn du lịch.

Sống ở San Jose hơn 30 năm. Năm nào cũng có hơn một lần phải làm anh chàng hướng dẫn du khách. Bạn bè từ các tiểu bang về chơi. Bà con bên vợ từ Canada đến. Ta lại làm 1 chuyến San Francsico. Đi vào buổi sáng cuối tuần, rong ruổi trên xa lộ 280 vào mùa xuân, hoa nở 2 bên đường. Bà con ta ở vùng đồng khô, cỏ cháy, cứ suýt soa khen phong cảnh hữu tình. Từ 280 luôn luôn đi thẳng đường số 1 mà đến Golden Gate . Đậu xe vào bãi đầu cầu. Xe cộ tấp nập chở du khách 4 phương chụp hình, quay phim. Rủ nhau đi bộ 1 đoạn, rồi ta lại phóng qua cầu sau khi nộp tiền đường. Qua phía bên kia lại chụp những bức hình cả cây cầu lẫn thành phố. Sau khi chụp hình với nàng Kim, chúng tôi trở về phố Tàu. Nhưng, trên đường đi, lại phải ghé đến con đường dốc có 9 khúc quanh co. Đây cũng là 1 thắng cảnh lạ lùng của San Francsico.

Nếu phái đoàn thăm viếng không có nhiều thì giờ hay còn lưu luyến mua sắm tại khu thương xá nổi danh Union Square thì có thể bỏ qua nhiều nơi danh tiếng. Nhưng bao giờ cũng phải có tấm hình bên Kim Môn Kiều. Vậy cây cầu này đã được xây dựng ra sao.

Kỹ thuật và mỹ thuật.

Kim Môn Kiều nổi danh từ 1937 vì nhu cầu nối liền Marin County và thành phố San Francisco. Vì địa thế không thể làm các chân cầu nên ý kiến cầu treo hết sức đơn giản đã đưa ra. Nhưng đến khi thực hiện thì quả thực là trần ai.

Thoạt tiên phải xây 2 cây trụ thật cao ở 2 bên cách xa 4 ngàn 200 Feet. Chiều cao của trụ cầu là 746 Feet có thể so sánh với cao ốc 70 tầng. Tiếp theo là kéo 2 sợi dây thép khổng lồ chạy 2 bên cạnh trên đỉnh trụ cầu. Hoàn tất được công trình vĩ đại này mất 3 năm dài. Sàn cầu được làm từ 2 trụ cầu. Dùng các sợi dây cáp treo lên 2 sợi dây lớn. Từ phần giữa của sàn cầu xuống mặt nước là 220 Feet tương đương với cao ốc 20 tầng.

Ý tưởng làm cầu treo vào 75 năm trước đơn giản như chuyện trẻ con, nhưng khi hoàn tất đã trở thành một công trình kỹ thuật và mỹ thuật không thể tưởng tượng được vào năm 1937.

Năm 1964, tại Nữu Ước, đã có thêm cây cầu treo dài hơn Golden Gate 60 Feet tức là 4,260 xa cách giữa 2 trụ cầu. Được coi là dài nhất nước Mỹ. Tuy nhiên Kim Môn Kiều vẫn còn vô địch về tất cả mọi mặt. Đến năm 1998, Nhật Bản hoàn tất cây cầu treo dài nhất thế giới với 6,532 Feet giữa 2 trụ cầu. Lại thêm một lần nữa Golden Gate vẫn mãi mãi là mối tình đầu bất diệt của nhân loại. Trị giá của cây cầu vàng tính theo tiền bạc của thế kỷ 21 là một tỷ 200 triệu mỹ kim. Nhưng giá trị của kỹ thuật và mỹ thuật thì không thể so sánh được. Đây là cây cầu của Thái bình Dương, của sự kết hợp Đông và Tây phương và là biểu hiệu của văn minh nhân loại qua kiến trúc. Đó chính là tiêu biểu của miền đất Hiệp Chủng Quốc, đất của cơ hội, đất của dân chủ. Từ phương xa, dù mới đến hay trở về San Francisco, qua cầu Golden Gate sẽ được chào đón không phải trả tiền. Nếu đi khỏi San Francisco dù là giã từ vĩnh viễn hay chỉ rời xa chốc lát là phải trả tiền cầu.

Bây giờ, thương mại địa ốc tạm thời đi xuống, chỉ có nghề bán cầu là may ra phát đạt. Ai mà mua được cây cầu Golden Gate, sáng sáng đem vợ con ra thu tiền. Mệt nghỉ.

Có anh lính Sài Gòn ngày xưa, gần 30 tuổi, năm 1962, lần đầu tiên gặp cô Kiều San Fran lúc nàng 25 tuổi. Đem lòng yêu thương, nhưng chỉ chụp được những tấm hình. Rồi duyên may trở lại đôi lần cho đến ngày Kim Môn Kiều sinh nhật 50 năm, vào tháng 5-1987. Bây giờ, 25 năm sau, thật may mắn còn ngồi đây mà viết cho sinh nhật 75 vào 27 tháng 5-2012 của nàng Kiều mãi mãi trẻ trung như cô gái 25 tuổi vào năm 1962, ta mới gặp nhau. Nhưng anh chàng sỹ quan 30 tuổi đứng trên du thuyền lộng gió chạy quanh vịnh Cựu Kim Sơn dưới chân cầu Golden Gate năm xưa bây giờ ở đâu.

May 24-1987 kỷ niệm 50 năm Golden Gate, 300 ngàn người đứng trên cầu. Giữa sàn cầu trùng xuống 7 feet. Tuy chưa nguy hiểm kỹ thuật nhưng vì sợ mọi người kinh hoàng nên phải giải tỏa. Còn gần một triệu người chờ đợi lên cầu nhưng không có cơ hội. Bên trái, kỷ niệm của tác giả năm 1963 trên tầu của USNavy trong vịnh San Francisco. Hình cũ do cố vấn in lại trên báo.

© Giao Chỉ

© Đàn Chim Việt

 
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nếu bạn là người Bắc hay Nam chưa từng ở Huế, bạn sẽ không hiểu được ba chữ “đi kéo ghế” là nghĩa như thế nào hay sẽ tự hỏi thầm: “Cái dzì dzậy cà?” hay “Cái gì thế nhỉ?”Cho dù bạn là người Huế 100% nhưng ở vào khoảng tuổi 40 trở lại, e rằng bạn cũng sẽ phân vân. “Đi kéo ghế là đi mô rứa hè?”
Đức thánh thứ nhất là tu sĩ Đỗ Bá Lung từ Ngọc Đông, Hưng Yên đã chết ở Cổng Trời còn đức thánh thứ hai này thì bị bức hại tàn ác dã man ở trại Phong Quang, Lao Kay. Ngài tên là Lâm Đình Túy người Nam Hà...
Khu O và khu H, tôi không biết nó thế nào. Chịu. Không hình dung ra nổi, vì tôi không nhìn thấy ai ở đấy và không hề gặp ai ở trong đó ra kể chuyện lại để biết. Chỉ nhìn thấy Cha Vinh, Cha Quế vào đó và không thấy hai cha đó ra về nữa mà thôi.
Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Định. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ ông lại là một cán bộ...
“Người ta” muốn chúng tôi “nhận tội” và muốn biết ai đã truyền chức cho chúng tôi. Không thể nhận tội vì lãnh sứ vụ Linh Mục không phải là tội, mà chẳng có khoản nào trong bộ luật nào của đất nước này lại kết luận lãnh sứ vụ Linh Mục là tội. Về danh tánh của vị Giám Mục, tôi trả lời lương tâm không cho phép nói, người ta đã đập bàn lớn tiếng với tôi: “Vào đây mà còn nói lương tâm à ?” – Tôi cất lời nhẹ nhàng hỏi lại họ: “Vậy ở đây không có chỗ cho lương tâm sao ?”
"Nheo mắt nhìn thế giới" - NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết: - Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ...
Ngày ấy đã lâu lắm rồi, dưới mái trường Hồng Lĩnh thân yêu, tôi đã được diễm phúc ngày ngày mặc chiếc áo dài trắng tinh cắp sách đến trường, tôi nói diễm phúc, vì thời ấy chinh chiến còn điêu linh trên khắp nẻo đường quê hương, biết bao cô gái còn tuổi học trò như tôi chẳng được diễm phúc đó...
Âm nhạc Việt Nam có hai truyền thống, truyền thống dân gian và truyền thống bác học. Truyền thống dân gian dính liền với đời sống trong xã hội và đi dài theo suốt cuộc đời của người Việt Nam từ lúc sơ sanh cho đến khi trở về với cát bụi. Bắt đầu là tiếng hát ru khi còn nằm nôi, vừa lớn lên có đồng dao dành cho các trò chơi, đến tuổi lao động thì có câu hò trong khi làm việc,
Có một chuyện cung đình thời nhà Nguyễn do nhà thơ Tản Đà kể lại, xưa nay người viết bài này chưa từng đọc thấy ở đâu, cho mãi tới tháng này, nhân ngày giỗ thứ 73 của thi sĩ (7 tháng 6, 1939 -7 tháng 6, 2012). Lạ là ở chỗ Tản Đà được biết đến như một thi sĩ bình dân, xuôi Nam ngược Bắc vì nghề báo...
Tôi không là một đứa con gần cha lẫn gần mẹ trong gia đình. Nghĩa là, so với các anh chị em khác, tôi là đứa ít khi tâm sự với Ba Má những chuyện riêng tư của mình. Nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với Ba tôi hơn là với Má, nhiều hơn so với những chị em gái trong nhà. Kỷ niệm đầu tiên tôi có về hình ảnh của Ba là ngày Má tôi từ Mỹ Tho hốt hoảng trở về, nói, “Ba bị người ta bắt rồi!” Tôi nhớ ngày đó tôi còn nhỏ lắm, chỉ chừng 7, 8 tuổi, tôi đứng tựa nơi một góc giường. Bật khóc.
Bảo Trợ