Hương Đồng Quê -Trường làng.

05 Tháng Tám 20213:57 SA(Xem: 257)
Hương Đồng Quê -Trường làng.

Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ!

blank

Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên :


Xem thêm:
Hương Đồng Quê

"A b c là ba chữ đầu.

Ô ê kia đầu có nón che.

Học cho chăm đừng có khóc nhè”!



Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi.



Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò. Nhưng cũng chính lọ mực quỉ quái đó làm phiền phức nhất trong đời học sinh thời bấy giờ. Lỡ tay quờ quạng trên bàn là coi như rồi đời! Mực "trang" ra cả bàn, cả tập vở. Lật đật tìm tờ “giấy loại” lau vội vàng, chẳng những không sạch mà còn lèm nhèm lung tung, cuống cuồng lau đại vào vạt áo. Lắm khi, mực tèm nhem cả vào mặt mũi. Giờ ra chơi chạy vào mấy nhà gần bên cạnh trường xin rửa mặt, rửa tay. Cái màu mực tím thật là dẻo dai, rửa thế nào cũng khó mà sạch. Sau những lần như thế, chắc chắn là vừa được thầy cô hỏi thăm, về nhà vừa được mẹ nựng vài roi nữa!



Không biết những ngôi trường đầu tiên, khi bà con Bình Giã mới di-cư vào Nam ra sao, nhưng khoảng năm 1965 thì ngôi trường Tiểu học tại Vinh Trung là một ngôi nhà gỗ, lợp tôn. Hồi đó mà có được một ngôi trường như thế thì cũng gọi là rất tân tiến, so với sau này thập niên 80, có nhiều vùng mới phát triển giữa rừng gỗ bạt ngàn gọi là kinh tế mới! Vậy mà vẫn còn nhiều ngôi trường mái lá, phên tre, nền đất...!



Trường Tiểu học, Trung học Đệ Nhất cấp Tấn Đức ở Xứ Vinh Châu do Cha Cố Đoàn Duy Đông làm Hiệu trưởng từ hồi mới di cư vô Nam, mặc dù chỉ có tới lớp Chín nhưng là ngôi trường xây "đồ sộ" thời đó.



Nơi đây đã có biết bao thế hệ thanh thiếu niên Bình Giã "ngày qua ngày mài đũng quần"! Để rồi vì hoàn cảnh kinh tế, vì chiến tranh, hầu hết gia nhập quân ngũ, cuối cùng trở về với đồng ruộng chân lấm tay bùn...



Khung cảnh của trường Tấn Đức trông rất đẹp. Sân trường là một sân bóng rổ hiện đại, chỉ tiếc là dân mình khoái dùng chân đá hơn là dùng tay ném, nên bộ môn bóng rổ chẳng phát triển chi mấy. Phía trước sân trường mấy gốc phượng lớn. Mỗi mùa hè hoa phượng nở đỏ thắm, những nam thanh nữ tú tuổi học trò choai choai mộng mơ, nhìn hoa phượng rơi mà trái tim non rung cảm nhẹ nhàng. Những cây hoa Đại già cỗi bao quanh khu vực nhà thờ được khắc lên biết bao là tên tuổi của những học trò nghịch ngợm, hoặc chăng là “thầm yêu trộm nhớ” một em nữ sinh cùng lớp, nhưng chẳng biết tỏ bày cùng ai, thôi thì “khắc đại” lên cành hoa Đại (hoa Sứ), biết đâu thần Vệ Nữ mách cho nàng biết mà chiếu cố cũng nên!



Thấp thoáng bên nhà xứ cao ngút mấy cây trường sinh. Cũng may là trái trường sinh trông thì đẹp, hấp dẫn nhưng chỉ có nước ngâm rượu, chứ nếu mà ngon ngọt như cam quít thì có lẽ Cha già Đông cũng hao hụt cái khoản thu nhập này nhiều lắm! Chưa kể còn bực mình vì các cậu học trò cứ xâm nhập điều răn thứ Bảy nữa! 



Gần cạnh trường, còn có một Tượng đài Đức Mẹ Fatima thật cao. Nơi đây có lẽ là rất nhiều cô cậu đã từng cầu xin cho được thi đậu lên lớp, hoặc cho nàng, cho chàng biết mối tình thầm thương của mình.



Cũng không ít học sinh tới cầu xin cho Cha của mình đang trong quân ngũ được bình yên trong những ngày khói lửa điêu linh! Và thực sự tượng đài này được dựng lên như là để tạ ơn Đức Mẹ trong một năm khói lửa khó quên, mà Bình Giã được bình yên vô sự!



Từng đó cảnh vật, nhìn bề ngoài không gây ấn tượng mấy, nhưng vẫn tạo nên cho trường một cái gì đó thật nên thơ, thật dễ thương…Và trong khi nhìn trường học thì dễ thương như thế, lại không ít "chàng học sinh" đã có lần:



"...Làm học trò nhưng không sách cầm tay,

"Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ..." (Đinh Hùng)



Bởi vì làm biếng học hoặc đi trễ, hoặc gặp ngày "khó ở" cộng thêm môn Toán, môn Lý... "khó nuốt", thôi thì cắp sách dông ra Lèn Gia Hoà, leo lên đồi nương nhờ dưới cánh tay Mẹ hiền, làm một giấc đã đời trên thảm cỏ xanh mướt coi như hết ngày học. Cũng có lần nhét túi được vài chục bạc rủ thêm thằng bạn ra chợ thụt bi-da cho hết buổi!



Thời gian sau 1975, các học sinh Tấn Đức thật may mắn, được các Cha Dòng Phanxicô về coi sóc xứ Vinh Châu dạy học như: Cha Nguyễn Xuân Bá, nguyên là Cha Giám Đốc Bề trên Tiểu Chủng Viện Phanxicô Thủ Đức, Cha Tín, Cha Thịnh....



Đi học trường Tấn Đức, gần chợ Bình Giã, thật là một "cám dỗ" không mấy dễ "sa ngã", vì có tiền mô mà ăn hàng! Giờ học ra chơi, có vài chục chạy đến chợ mua một ổ bánh mì "xíu-mại" nhai nhồm nhoàm thật là đã đời! Trưa đi học về trời nóng nực, có vài đồng mua một bịch sinh tố hay ly nước mía uống vào thấy yêu đời làm sao! Đó là cái khoảng năm một chín sáu mươi...mấy đến bảy mươi, chứ còn sau này khá giả hơn thì các cậu các cô đi học là no bụng, lắm khi cha mẹ còn dỗ con đi học bằng: " Này cầm mấy trăm đi học, rồi mua chi đó mà ăn nha!". Thật là sung sướng!



Chợ Bình Giã sau nhiều lần "thay da đổi thịt", nhưng cũng chẳng khác chi mấy hồi đó. Diện tích xem ra có vẻ chật chội hơn, chẳng phải là ai lấn chiếm gì cả, nhưng là vì con dân Bình Giã sinh sôi nảy nở, xe cộ dập dìu...Tệ hại nhất là vào mùa mưa "in như là đi ra Rọng Tre" vậy. Đó là vài chục năm trước, chứ còn bây giờ, chợ Bình Giã chẳng dám khoe màu, khoe sắc với ai, nhưng trông ra cũng hơ hớ xuân xanh lắm!



Là vì trong chợ có rất nhiều cô hàng đôi tám, đôi mươi... áo quần là lượt, má phấn môi hồng. Chẳng bù với hơn ba mươi năm về trước chỉ toàn các bà bán ở chợ làng, quảy gánh hàng hoá bằng đôi vai gầy ra chợ. Nhai nhỏm nhoẻm miếng trầu, vừa bán vừa trò chuyện, vừa nhổ toẹt nước trầu vào một góc bên cạnh!



Cũng vì cảm cái cảnh hấp dẫn của các cô chợ Bình Giã, nên có nhiều cậu đã "trai khôn tìm vợ chợ Đông"! Về Bình Giã tìm một cô cho "chắc cú", biết người biết ta, "lời ăn lỗ chịu" coi như "đóng gông mãn đời"! Thế mới biết các cô quê mình có giá lắm chứ!



Đầu thập niên 70, Cha Cố Trần Đình Trọng mở thêm một ngôi trường nữa, là trường Trung học Hồng Lĩnh tại xứ Vinh Trung. Có lẽ Ngài vẫn mong nhớ đến quê hương Nghệ Tĩnh Bình, nên lấy tên Hồng Lĩnh cho vơi niềm khắc khoải thương nhớ quê Cha đất Tổ ngoài Bắc, và thực ra núi Hồng Lĩnh nằm trong dãy núi gồm chín ngọn đã là nơi bao đời dân chúng coi đó là vùng đất thiêng của sông nước miền Trung.



Trường Hồng Lĩnh là một ngôi trường vách gỗ, lợp tôn, cũ kỹ. Bề ngoài khung cảnh trường không có gì nổi bật. Điểm đặc biệt là thời gian đó là có sự cộng tác của các Giáo sư từ Sài-gòn về như Thầy Túc, Thầy Linh, Thầy Nghĩa.... và nhất là Giáo Sư Nguyễn Nghĩa Khôi, Cử Nhân Văn Chương làm Giám học, thầy đã bỏ cuộc sống tiện nghi nơi thành phố về làng quê Bình Giã giúp Trường Hồng Lĩnh.



Đi học trường Hồng Lĩnh có cái thú, đi ra phía sau nghĩa địa làng Ba, có một cái đồn điền cà phê của Tây hồi xưa trồng đủ thứ cây ăn trái: sữa, mít, ổi, quít, bòng, cam, xoài, đào lộn hột...Ngày nào học không vô,"buồn buồn" các cậu rủ nhau "cúp cua" lên xe đạp vào đó kiếm mấy trái xoài, chấm muối ớt ăn! Chua chi lạ! Nhưng hấp dẫn vô cùng!



Học sinh Hồng Lĩnh có lẽ không quên mỗi sáng thứ Hai chào cờ vang lên bài Quốc ca, sau đó bài Hiệu Đoàn ca : “Anh em ơi, chúng ta đoàn học sinh dưới mái trường Hồng Lĩnh...!” Một thời vang danh Bình Giã, với các cô cậu Tú đầu đàn của trường, đó cũng là niềm vinh dự cho các Thầy, nhất là Cha Cố Hiệu trưởng Trần Đình Trọng.



Nhưng thời cuộc thay đổi, sau biến cố 30-4-1975 trường Trung Học Hồng Lĩnh đóng cửa vĩnh viễn. Thầy Nguyễn Nghĩa Khôi, vẫn ở lại an cư tại Bình Giã, và với khí tiết của một đấng trượng phu quân tử, thầy đã chẳng muốn quay ngược cái tư duy ngàn năm văn vật với mớ lý thuyết "Các Mác" để rồi cuối cùng Thầy an nghỉ trong thanh bạch. Các học sinh Hồng Lĩnh cả ba làng Bình Giã đã cùng với gia đình Thầy, góp tay xây cho Thầy một nấm mộ đơn sơ, đầy tình nghĩa Thầy trò...



Đến bây giờ chẳng biết có còn ai giữ mấy quyển sổ lưu bút Tuổi học trò nữa không? Cứ mỗi độ hè về, ve đã bắt đầu ra rả kêu ran, là mấy cô, đa số là mấy cô thích cái quyển sổ lưu bút ghi vài dòng kỷ niệm.



Chuyền tay nhau viết vội năm ba hàng, hay có cô, có cậu kỹ lưỡng hơn mang về nhà dăm bữa nắn nót một bài thơ ...Có khi trang lưu bút chỉ là những tâm tình tuổi học trò, gói ghém một nỗi niềm bè bạn, nhưng cũng có lúc ẩn chứa một "thông điệp của con tim"! Tuổi học trò chỉ thương nhớ thầm cho qua ngày vậy thôi, chứ gan mô mà dám nói...Bạo lắm mới tỏ chút tình qua lưu bút, Đến khi người ngọc hiểu ra chàng trồng cây si từ trong sân trường, thì nàng đã lên xe hoa theo chồng rồi!



Ôi cái tuổi học trò, bao nhiêu là mối tình "mang xuống tuyền đài" chưa tan!



Nói đến tuổi học trò, không thể không nói đến tà áo dài tha thướt! Chỉ có mỗi một màu trắng nhưng lại là màu mơ mộng"! Hình ảnh một nữ sinh với áo dài trắng, đội nón lá, tay mang cặp sách, làm hao tốn biết bao là giấy bút mực để thi vị hóa....Chỉ tội các cô cũng tốn nhiều xà bông giặt, uỉ ...mà vì Bình Giã đất đỏ nên có lẽ chỉ mặc đi học một bữa rồi về phải giặt. Lo toan cho chiếc áo dài có khi còn hơn cho cả bài tập về nhà làm!



Đã thế, áo dài còn co lên trên đầu gối, có lúc dãn xuống tận mắt cá...Ôi! Áo dài, thời học sinh nay còn đâu!



Lại một mùa hè sắp sửa đến. Sách vở bút nghiên xếp lại một bên. Cuốn lưu bút được dịp chuyền tay nhau để kể lể chuyện chúng mình vui buồn trong lớp, để tâm tình bè bạn qua những tháng ngày bên nhau chung một lớp học, để kín đáo"tỏ tình" với người mình thương trộm nhớ thầm, để nói lời chia tay, hẹn gặp nhau vào mùa tựu trường niên học tới, và cũng có lúc nói lời “vĩnh biệt” mái trường thân yêu…!



Ve sầu kêu mãi từng cơn nhỏ,

Gọi Hạ về phượng nở trên sân.

Em nhớ thương, đã biết bao lần,

Ngày xưa, những ngày xưa thân ái,

Tuổi học trò nhớ mãi không quên,

Quên làm sao, tháng Hạ ngày Xuân,

Những lần phượng nở rơi đầy áo.

Nhớ bạn bè xưa, nhớ Thầy Cô,

Giờ phương nào, không biết ở mô?...



...Em buồn lắm mỗi lần phượng nở,

Giữa sân trường cánh phượng tả tơi,

Là em biết đã gần vào Hạ.

Mùa Hạ buồn, mấy tháng chia tay.

Ôi! Buồn ơi! Xa vắng cô thầy,

Bao lưu luyến bạn bè chung lớp...



...Ve sầu kêu mãi càng rên rỉ,

Gọi Hạ về phượng nở đỏ tươi.

Em càng nhớ, tuổi học trò ơi!

Còn đâu ngày tháng xa xưa nữa.

Rời mái trường sách vở đã mấy Xuân,

Sân trường kia phượng nở bao lần,

Em càng nhớ càng se lòng lại...

Đặng Xuân Hường

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Bảo Trợ